Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Kiến thức về Hóa dầu  (Đọc 62721 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline Voi Còi

  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 656
  • Albert Einstein
    • http://www.h2vn.com
Chất đốt sinh học từ thực vật
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Năm 10, 2009, 08:31:59 PM »
    Dầu mỏ, than đá, khí thiên nhiên… là những sản phẩm của quá trình biến đổi hóa học, sinh học, vật lý diễn ra cách đây hằng trăm triệu năm từ nguyên liệu ban đầu là xenlulozo. Nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo trên đang được con người khai thác cho mọi hoạt động sống, có nguy cơ cạn kiệt trong tương lai! Vì vậy, việc tìm ra những nguồn năng lượng mới, không gây ô nhiễm môi trường là một trong ưu tiên hàng đầu của thế giới hiện tại ngày nay.

Bằng cách sử dụng thành phần cấu tạo chính của thực vật là xenlulozo (chiếm trên 90% khối lượng khô trong tế bào), các nhà khoa học thuộc viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia Pháp (INRA) dự định lấy thân và lá cây làm nguồn nguyên liệu chính thay vì hạt và củ như hiện nay, để sản xuất xăng và dầu diesel. Phương pháp này sẽ được ứng dụng vào nghành công nghiệp chất đốt sinh học trong vài năm tới.

Trong các nghành sản xuất thì công nghiệp sản xuất chất đốt sinh học còn khá mới mẻ. Tuy nhiên, tương lai của nó lại đang bị đe dọa. Vì để sản xuất ra nhiên liệu xanh, người ta phải sử dụng một lượng lớn loài thực vật tương ứng. Chẳng hạn, với nước Pháp, một trung tâm nông nghiệp của Châu Âu, để đạt được chỉ tiêu chất đốt sinh học chiếm 8% thị phần chất đốt vào năm 2010 thì cần có 2 triệu ha cây làm nguyên liệu.

Song trên thực tế diện tích có thể trồng các loại cây này không ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp chỉ có 1,5 triệu ha. Mặt khác, năng xuất hiện nay của các cây dùng làm nguyên liệu sản xuất chất đốt còn khá thấp, như cây cải dầu chỉ đạt 1500 lít/ha, lúa mì là 2500 lít / ha…

Trong khi đó, phương pháp chiết xuất từ thân cây và lá cho phép đạt con số hơn 5000 lít/ ha ! tức là gấp đôi năng xuất của loài cây cao nhất, do đó gảm áp lực về diện tíc đất trồng. Một điểm đáng chú ý khác là không như lúa mì chỉ sản xuất ra cồn và etanol, chất đốt lấy ừ thân cây sau khi chế biến có thể thích hợp với mọi động cơ.

Ngoài việc khai thác các nguồn nguyên liệu từ các loài cây trồng, các loại gỗ, rác thải thực vật từ quá trình sản xuất nông nghiệp như rơm, trấu và ngũ cốc cũng sẽ là một nguồn nguyên liệu dồi dào khác. Chính vì vậy, tất cả các loài cây đều có thể là giếng dầu đảm bảo an ninh năng lượng cho chúng ta trong tương lai.

Một vấn đề hết sức quan trọng khác là lựa chọn phương pháp để chế biến những nguyên liệu này có hiệu quả. Hiện các nhà khoa học đang nghiên cứu hai phương pháp khác nhau để chế biến chất đốt từ thân và lá cây: phương pháp hóa nhiệt và phương pháp hữu cơ.

Trước hết thân cây và lá cây được làm nóng bằng hơi nước ở nhiệt độ 8000C, lúc này các phân tử xenlulzo bị biến đổi thành các thành phần tương tự như trong thành phần dầu mỏ. Sau đó bằng các phản ứng hóa học, các phân tử này sẽ tự kết hợp lại tạo ra chất đốt (xăng, diesel..). Đó là sản xuất theo phương pháp hóa nhiệt.

Còn ở phương pháp thứ hai, cây sau khi được cắt và bó lại từng bó sẽ được hydro hóa bằng một loại vi khuẩn nấm. Phân tử xenlulzo biến đổi thành các phân tử đường hữu cơ, sau đó được lên men thành etanol.

Trong tình hình hiện nay, giá cả dầu mỏ thế giới luôn biến động bất thường cùng với tình trạng ô nhiễm môi trường do khí thải của các phương tiện giao thông. Việt Nam một đất nước nông nghiệp là chủ yếu, mỗi năm nước ta xuất khẩu hàng triệu tấn luơng thực, cùng với việc loại bỏ hàng chục triệu tấn rác hữu cơ, rơm, trấu, mùn cưa… Việc triển khai dự án vào thực tế rất được mong chờ. Cây xanh lúc đó sẽ trở thành nguồn vàng thực sự

Cộng đồng Hóa học H2VN

Chất đốt sinh học từ thực vật
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Năm 10, 2009, 08:31:59 PM »

Offline Voi Còi

  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 656
  • Albert Einstein
    • http://www.h2vn.com
Phương pháp mới làm sạch dầu loang
« Trả lời #31 vào lúc: Tháng Năm 10, 2009, 08:36:23 PM »
 Các nhà khoa học ở California đã thông báo một cải tiến quan trọng trong kĩ thuật làm sạch dầu loang ở biển, hồ và những khu vực lưu thông đường thủy. Victoria Broje và Arturo A.Keller đã mô tả cấu trúc xây dựng và các cuộc thử nghiệm ứng dụng phiên bản máy lọc váng dầu cải tiến, đây là thiết bị chủ yếu thu hồi lượng dầu loang trên biển.
Máy lọc dầu loang thông thường hầu như không thay đổi nhiều trong các thập niên vừa qua, thiết bị bao gồm một cái trống như trục hơi nước và quay tròn thu nhận lớp màng mỏng của dầu từ trên bề mặt trống. Sau đó, dầu được gạt ra khỏi mặt trống và chứa trong một bình chứa riêng biệt. Broje và Keller lưu ý rằng thiết bị làm sạch dầu loang truyền thống thì không hiệu quả, làm việc kém với lớp dầu mỏng là dầu thô loại nhẹ và dầu diesel, có thể tốn kém chi phí nhiều để làm sạch một số lượng dầu loang lớn.

Thiết bị tách váng dầu kiểu mới với các rãnh trên bề mặt sẽ được miêu tả trong một bài báo sắp phát hành vào ngày 15 tháng 12 trên tờ nhật báo ACS về Khoa học Kĩ thuật Môi trường phát hành định kỳ giữa tháng.

Đối với một khu vực có bề mặt dầu loang rộng lớn, thiết bị có nhiều rãnh sẽ thu được nhiều dầu hơn thiết bị hớt váng dầu thông thường với bề mặt phẳng. Bộ phận tách dầu ra khỏi bề mặt thiết bị được thiết kế chính xác sao cho phù hợp với các rãnh, thu gom gần như 100% dầu bám dính trên bề mặt thiết bị với mỗi vòng quay. Những khe rãnh này cũng được phủ một lớp polimer cải tiến kết dính với dầu. Các nhà khoa học nói rằng thử nghiệm thực tế cho thấy hiệu suất của thiết bị lọc váng dầu kiểu mới sẽ tăng gấp 3 lần so với các thiết bị cổ điển thông thường.

   

sonquan1421988

  • Khách
Re: Chất đốt sinh học từ thực vật
« Trả lời #32 vào lúc: Tháng Năm 10, 2009, 08:47:42 PM »
Bổ sung dùm Quân cái nguồn tài liệu nha!

Thông tin đưa ra rất hay bởi vấn đề nguồn nhiên liệu đã là một đề tài nóng bỏng, người ta tìm những nguồn nguyên liệu thay thế, và đây là một hướng đi rất hay,...

Offline Voi Còi

  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 656
  • Albert Einstein
    • http://www.h2vn.com
hất đốt sinh học làm từ tảo biển
« Trả lời #33 vào lúc: Tháng Năm 11, 2009, 09:48:42 AM »
     
Hainhà sinh học người Mỹ  đã trồng tảo biển trong một ống thủy tinh lớn vàhọ hy vọng chúng sẽ thành chất đốt sinh học sau khi được xử lý qua máymóc và các thiết bị khác trong ngành nuôi trồng thủy sản.

Các nhà khoa học  muốn phát triển một hệ thống  mà sẽdùng khí metan từ chất  những chất thải làm năng lượng để biến tảo biểnthành chất đốt.

Trong chương trình  nghiên cứu  này, các nhà khoa học  dự định thu chất dầu từ loài tảo đển chế biến thành nguyên liệu  chất đốt.

Ông Sabaon Michel, giáo sư sinh học, là một trong haingười đưa ra nghiên cứu  trên nhận định, kết quả nghiên cứu  là một bướctiến tiềm tàng cho ngành sinh học”.

Để làm được chương trình  này, các nhà nghiên cứu  đãđược quỹ NC BioNetwork tài trợ 300 nghìn USD, nhưng ông Sabaon chobiết, họ sẽ phải cần 100 nghìn USD  hàng năm để đầu tư  cho công việcnghiên cứu cho đến tận khi sản xuất đủ nhiên liệu  sinh học này để việnnghiên cứu bán ra.

Tảo là một nguồn nguyên liệu  tiềm tang cho việc chế tạo chất đốt. Một công ty  ở Arizonacũng đã xây dựng  nhà máy  năng lượng ở phía Nam Texas. Nhà máy  này dùngtảo biển như nguồn chất đốt sinh học. Một số công ty  khác cũng biến tảobiển thành ethanol làm chất đốt cho máy móc.

Các nhà nghiên cứu  tin tưởng, với lượng tảo biển phát triển rộng lên 39 nghìn km2 thì các nhà  máy có thể sản xuất đủ nhiên liệu  chất đốt sinh học cho việc vận chuyển và đi lại của Mỹ

Offline Voi Còi

  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 656
  • Albert Einstein
    • http://www.h2vn.com
Vi khuẩn - Nguồn nhiên liệu tương lai?
« Trả lời #34 vào lúc: Tháng Năm 11, 2009, 09:51:14 AM »
    Với một hệ thống máy tính mới, các nhà khoa học thuộc Đại học Sheffeild vừa vẽ ra cơ chế trao đổi chất của vi khuẩn Nostoc. Theo đó, Nostoc cố định ni-tơ, và thải ra hydro - loại khí có thể sử dụng làm nhiên liệu.
     Giống như các sinh vật sống, vi khuẩn cũng duy trì sự sống của mình thông qua cơ chế trao đổi chất riêng. Đó là một chuỗi dài các phản ứng hóa học chuyển đổi chất dinh dưỡng thành năng lượng và rác thải.

Sử dụng các mẫu máy tính toán học, nhóm nghiên cứu đã vẽ ra cơ chế trao đổi chất của một loại vi khuẩn có tên là Nostoc. Nostoc đã cố định ni-tơ, và trong quá trình thực hiện, thải ra hidro, loại khí có thể sử dụng làm nhiên liệu.

Cố định Nitơ là một quá trình xử lý năng lượng mạnh và rõ ràng là chúng ta vẫn chưa biết chính xác cách thức vi khuẩn này tạo ra năng lượng cần để thực hiện quá trình trên. Và giờ đây, hệ thống máy tính mới này đã được sử dụng để vẽ ra cách thức quá trình trên xảy ra như thế nào.

Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm ra con đường trao đổi chất của vi khuẩn. Cơ chế trao đổi chất của vi khuẩn là một mạng lưới nhiều phản ứng hóa học, và thậm chí ngay cả những kỹ thuật phức tạp nhất cũng chỉ có thể đo được một phần trong chuỗi phản ứng này.

TS. Guido Sanguinetti, khoa Khoa học máy tính, Đại học Sheffield, người chỉ đạo nghiên cứu cho biết: “Nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ mà trước đây chúng ta chưa biết, giữa cơ cấu năng lượng của vi khuẩn Nostoc và cơ chế trao đổi Nitơ lõi của Nostoc. Những điều tra sâu hơn về trao đổi chất có thể giúp hiểu kỹ hơn và cải tiến cơ chế sinh hyđrô của những vi khuẩn này. Chắc chắn sẽ còn phải mất một thời gian nữa trước khi một bình vi khuẩn có thể giúp xe hơi của bạn chạy được, tuy nhiên nghiên cứu này cũng đã là một bước tiến nhỏ trong công tác tìm những nguồn nhiên liệu tương lai bền vững”.

Ông cũng cho biết thêm: “Bước tiếp theo của chúng ta đó là phải đi sâu tìm hiểu vào cơ chế sinh hydro, cũng như là việc xây dựng các mô hình máy tính toán học có khả năng tích hợp nhiều nguồn dữ liệu sinh học hơn nữa".

Nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Sheffield là kết quả của sự hợp tác liên ngành giữa các nhà khoa học máy tính, kỹ sư hóa học theo một nguyên tắc mới được gọi là Synthetic Biology (Sinh vật học Tổng hợp). Mục đích chính của Sinh vật học Tổng hợp là nhằm tìm hiểu con đường trao đổi chất nào của vi khuẩn chịu trách nhiệm cho các chức năng quan trọng, và do vậy về mặt di truyền học có thể xây dựng được các cơ chế có thể thực hiện chức năng mong muốn được hiệu quả hơn.

    - Vi khuẩn
    -Tảo biển
« Sửa lần cuối: Tháng Năm 11, 2009, 09:54:28 AM gửi bởi Sò »

sonquan1421988

  • Khách
Re: CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN DẦU MỎ VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN
« Trả lời #35 vào lúc: Tháng Năm 14, 2009, 01:21:11 AM »
Cho Quân bổ sung chút nha!

1. NGUỒN GỐC DẦU MỎ VÀ KHÍ
1.1 NGUỒN GỐC VÔ CƠ
Theo giả thuyết này trong lòng Trái đất có chứa các cacbua kim loại như Al4C3, CaC2. Các chất này bị phân hủy bởi nước để tạo ra CH4 và C2H2:
 
Các chất khởi đầu đó (CH4, C2H2) qua quá trình biến đổi dưới tác dụng của nhiệt độ, áp suất cao trong lòng đất và xúc tác là các khoáng sét, tạo thành các hydrocacbon có trong dầu khí.
Để chứng minh cho điều đó, năm 1866, Berthelot đã tổng hợp được hydrocacbon thơm từ axetylen ở nhiệt độ cao trên xúc tác. Năm 1901, Sabatier và Sendereus đã thực hiện phản ứng hydro hóa axetylen trên xúc tác Niken và sắt ở nhiệt độ trong khoảng 200 – 3000C, đã thu được một loạt các hydrocacbon tương ứng như trong thành phần của dầu. Cùng với hàng loạt các thí nghiệm như trên, giả thuyết về nguồn gốc vô cơ của dầu mỏ đã được chấp nhận trong một thời gian khá dài.
Sau này, khi trình độ khoa học và kỷ thuật ngày càng phát triển thì người ta bắt đầu hoài nghi luận điểm trên vì:
­   Đã phân tích được (bằng các phương pháp hiện đại) trong dầu mỏ có chứa các Porphyrin có nguồn gốc từ động thực vật.
­   Trong vỏ quả đất, hàm lượng cacbua kim loại là không đáng kể.
­   Các hydrocacbon thường gặp trong các lớp trầm tích, tại đó nhiệt độ ít khi vượt quá 150 - 2000C (vì áp suất rất cao), nên không đủ nhiệt độ cần thiết cho phản ứng hóa học xảy ra.
   Chính vì vậy mà giả thuyết nguồn gốc vô cơ ngày càng phai mờ do có ít căn cứ.

1.2 NGUỒN GỐC HỮU CƠ
Đó là giả thuyết về sự hình thành dầu mỏ từ các vật liệu hữu cơ ban đầu. Những vật liệu đó chính là xác động thực vật biển, hoặc trên cạn nhưng bị các dòng sông cuốn trôi ra biển. Ở trong nước biển có rất nhiều các loại vi khuẩn hiếu khí và yếm khí, cho nên khi các động thực vật bị chết, lặp tức bị chúng phân hủy. Những phần nào dễ bị phân hủy (như các chất Albumin, các hydrat cacbon) thì bị vi khuẩn tấn công trước tạo thành các chất dễ tan trong nước hoặc khí bay đi, các chất này sẽ không tạo nên dầu khí. Ngược lại, các chất khó bị phân hủy (như các protein, chất béo, rượu cao phân tử, sáp, dầu, nhựa) sẽ dần lắng đọng tạo nên lớp trầm tích dưới đáy biển; đây chính là các vật liệu hữu cơ đầu tiên của dầu khí. Các chất này qua hàng triệu năm biến đổi sẽ tạo thành các hydrôcacbon ban đầu:

RCOOR’     +      H2O <---->           RCOOH      +      R’OH
RCOOH        ---->                          RH      +      CO2
RCH2OH            ---->                     R’-CH=CH2    +    H2O     
R’-CH=CH2    +   H2    ---->            R’-CH2-CH3

Theo tác giả Petrov, các axít béo của thực vật thường là các axit béo không no, sẽ biến đổi tạo thành -lacton, sau đó tạo thành naphten hoặc aromat:
   Thuyết nguồn gốc hữu cơ của dầu mỏ cho phép giải thích được nhiều hiện tượng trong thực tế. Chẳng hạn như: dầu mỏ ở các nơi hầu như đều khác nhau, sự khác nhau đó có thể là do vật liệu hữu cơ ban đầu. Ví dụ, nếu vật liệu hữu cơ ban đầu giàu chất béo thì có thể tạo ra loại dầu parafinic…
Dầu được sinh ra rải rác trong các lớp trầm tích, được gọi là “đá mẹ”. Do áp suất ở đây cao nên chúng bị đẩy ra ngoài và buộc phải di cư đến nơi ở mới qua các tầng “đá chứa” thường có cấu trúc rỗng xốp. Sự di chuyển tiếp tục xảy ra cho đến khi chúng gặp điều kiện thuận lợi để có thể ở lại đấy và tích tụ thành dầu mỏ.
Trong quá trình di chuyển, dầu mỏ phải đi qua các tầng đá xốp, có thể sẽ xảy ra sự hấp phụ, các chất có cực bị hấp phụ và ở lại các lớp đá, kết quả là dầu sẽ nhẹ hơn và sạch hơn. Nhưng nếu quá trình di chuyển của dầu bị tiếp xúc với oxy không khí, chúng có thể bị oxy hóa dẫn đến tạo các hợp chất chứa các dị nguyên tố, làm dầu bị giảm chất lượng.
Khi dầu tích tụ và nằm trong các mỏ dầu, quá trình biến đổi hầu như ít xảy ra nếu mỏ dầu kín. Trong trường hợp có các khe hở, oxy, nước khí quyển có thể lọt vào, sẽ xảy ra biến chất theo chiều hướng xấu đi do phản ứng hóa học.
Các hydrocacbon ban đầu của dầu khí thường có phân tử lượng rất lớn (C30 – C40), thậm chí cao hơn. Các chất hữu cơ này nằm trong lớp trầm tích sẽ chịu nhiều biến đổi hóa học dưới ảnh hưởng của nhiệt độ, áp suất , xúc tác (là khoáng sét). Người ta thấy rằng, cứ lún chìm sâu xuống 30 mét, thì nhiệt độ trong lớp trầm tích tăng từ 0,54 – 1,200C, còn áp suất tăng từ 3 – 7,5 atm. Nhưng vậy ở độ sâu càng lớn, nhiệt độ, áp suất càng tăng và trong các lớp trầm tích tạo dầu khí, nhiệt độ có thể lên tới 100 – 2000C và áp suất từ 200 – 1000 at. Ở điều kiện này, các hydrocacbon có phân tử lớn, mạch dài, cấu trúc phức tạp sẽ phân hủy nhiệt, tạo thành các chất có phân tử nhỏ hơn, cấu trúc đơn giản hơn, số lượng vòng thơm ít hơn…
Thời gian dài cũng là các yếu tố thúc đẩy quá trình crăcking xảy ra mạnh hơn. Chính vì vậy, tuổi dầu càng cao, độ lún chìm càng sâu, dầu được tạo thành càng chứa nhiều hydrocacbon với trọng lượng phân tử càng nhỏ. Sâu hơn nữa có khả năng chuyển hóa hoàn toàn thành khí, trong đó khí metan là bền vững nhất nên hàm lượng của nó rất cao. Cũng chính vì vậy, khi tăng chiều sâu của các giếng khoan thăm dò dầu khí thì xác suất tìm thấy khí thường cao hơn.

sonquan1421988

  • Khách
Re: CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN DẦU MỎ VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN
« Trả lời #36 vào lúc: Tháng Năm 27, 2009, 11:26:59 PM »
1. Đặc điểm và thành phần của khí thiên nhiên
1.1 Đặc điểm.

-   Khí thiên nhiên được khai thác từ giếng khí hay dầu.
-   Tùy thuộc vào đặc tính của từng giếng mà khi khai thác có những tạp chất và thành phần khác nhau.
-   Khí thiên nhiên là khí không màu, không mùi (có mùi là do mecaptan cho vào).
-   Khí thiên nhiên có tính cháy sạch.
-   Thành phần chủ yếu của khí thiên nhiên là metan (CH4).
-   Tỷ trọng của khí thiên nhiên đối với không khí dao động trong khoảng rộng từ 0,55 - 1,1.
-   Nhiệt cháy cao.
1.2 Thành phần của khí thiên nhiên
   Gồm 2 thành phần chính: hydrocacbon và không hydrocacbon.
-   Hydrocacbon: chủ yếu từ C1 - C4, C4 - C7 ít hơn.
-   Không hydrocacbon: H2O (hơi, lỏng), N2, CO2, H2S, COS, CS2, RSH, H2, He…
-   Phần không hydrocacbon có một số là tạp chất mà trong quá trình chế biến cần phải tách chúng nếu không sẽ ảnh hưởng trong quá trình làm việc.
-   Ví dụ: H2O
   Làm tăng quá trình ăn mòn khi có mặt CO2
   Ảnh hưởng đến hệ thống làm việc như tạo hyđrat, đóng băng gây tắc nghẽn đường ống làm giảm công suất vận chuyển.
   Vì vậy, ta phải tách nước.
-   Nitơ: trơ, không ăn mòn.
-   CO2: có tính axit gây ăn mòn.
-   H2S: có tính axit gây ăn mòn.
-   H2: không là tạp chất.
-   He: trơ, thu hồi vì có giá trị.
-   Thường loại CO2, H2O, H2S.

1.3 Phân loại khí thiên nhiên:
có nhiều cách phân loại khác nhau
1.3.1 Theo nguồn gốc:
Khí không đồng hành (Unassociaed Natural Gas)
Mỏ khí (gas well).
Mỏ khí – condensate
Khí đồng hành (Associated Natural Gas)
1.3.2 Theo thành phần C3+
1.3.3 Theo hàm lượng khí axit.


2.Sơ đồ tổng quát quá trình khai thác và chế biến khí
2.1 Module xử lý khí

Nhiệm vụ dùng để tách các tạp chất trong khí như: H2O, các hợp chất chứa lưu huỳnh (H2S, COS, RSH, CS2…), CO2, N2, O2 và tạp chất cơ học, hydrate, asphaltenes, bụi … Được xử lý bằng các quá trình:
-   Hấp thụ (absorption).
-   Hấp phụ (adsorption).
-   Quá trình ngưng tụ (condensation)   

2.2 Module xử lý dầu thô (Crude oil Treating Module)

2.3 Module xử lý nước

2.4. Module tách NGL

2.5. Module ổn định (Stabilization Module)

2.6. Module xử lý sản phẩm (Product Treating Module)

sonquan1421988

  • Khách
Re: CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN DẦU MỎ VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN
« Trả lời #37 vào lúc: Tháng Năm 27, 2009, 11:29:36 PM »
Một số tiêu chuẩn cho các sản phẩm lỏng từ khí
Xăng thiên nhiên (Natural gasoline):  C5+
-   Áp suất hơi (RVP): 70 – 235 kPa (10 – 34 psia).
-   % thể tích bay hơi ở 600C (1400F): 25 – 85%
-   % thể tích bay hơi ở 1350C (2750F): min 90%
-   Điểm sôi cuối: max 1900C (3750F).
-   Ăn mòn: không ăn mòn trong phép thử.
-   Màu: không nhỏ hơn 25 (theo phương pháp Saybolt).
Etan thương phẩm: đây là nguồn nguyên liệu hóa học dùng trong sản xuất nhựa và các sản phẩm khác. Các tiêu chuẩn đối với etan thương phẩm thay đổi khác nhau nhưng thường rất khắc khe đối với các tạp chất có thể ảnh hưởng đến quá trình sử dụng. Sự hạn chế hàm lượng CO2 và CH4 ở trong etan thương phẩm đặc biệt quan trọng.
Propan thương phẩm và Butan thương phẩm
-   Propan thương phẩm là hỗn hợp có thành phần chủ yếu là propan và hoặc propylen. Propan thương phẩm cần đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng như áp suất hơi, nhiệt trị hàm lượng S tổng, hàm lượng cặn, độ ẩm, hàm lượng các hợp chất ăn mòn, mùi …
-   Butan thương phẩm là hỗn hợp có thành phần chủ yếu là butan và hoặc butylen.
-   Hỗn hợp Propan - Butan (LPG): hỗn hợp này phải có áp suất không cao hơn so với propan thương phẩm ở 380C và có nhiệt độ bay hơi 95% thể tích tương đương với butan. LPG cũng cần đáp ứng các tiêu chuẩn về độ sạch như đối với butan. Đối với PLG dùng làm chất đốt, thành phần của hỗn hợp này được thay đổi khác nhau để đảm bảo tính chất bay hơi của các hỗn hợp trong các mùa khác nhau. Tuy nhiên áp suất hơi của hỗn hợp bu - pro thương phẩm ít khi vượt quá 860 kPa (dư) tương đương 125 psia ở 380C (1000F).



 

Nhà Đất Vnthuoc đi phượt