Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Kiến thức về công nghệ nano  (Đọc 113398 lần)

0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.

Offline Mr H2O

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 1320
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn
HỆ NANO LIPID RẮN
« Trả lời #225 vào lúc: Tháng Một 22, 2017, 08:14:07 AM »
1.2.3. Phương pháp tạo hệ hạt nano chất béo rắn
Vào những năm 1980, Speiser và các cộng sự lần đầu tiên báo cáo về việc tổng hợp thành công hệ hạt nano chất béo rắn ứng dụng trong dẫn truyền thuốc. Speiser đã tạo ra hệ vi nhũ bằng phương pháp đồng hóa tốc độ cao hoặc sóng siêu âm. Sau đó, Domb cũng tạo hệ bằng cách kết hợp cả hai phương pháp trên đã tạo được hệ chất béo “lipospheres”.  Cả hai phương pháp của Speiser và Dom đã không thành công do tạo thành hệ gồm nhiều loại hạt submicron khác nhau [15]. Rất nhiều nghiên cứu sau này đã được tiến hành với nổ lực cải thiện qui trình tổng hợp SLN. Hầu hết các nghiên cứu đều gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: tạo hệ nhũ thô dầu trong nước dạng vi nhũ
Giai đoạn 2: Sự hóa rắn của pha phân tán.
Trong quá trình tạo hệ thì quan trọng nhất là giai đoạn đồng hóa. Hiện nay có rất nhiều phương pháp đồng hóa khác nhau, sau đây là một số phương pháp dễ thực hiện và được sử dụng phổ biến trong tạo hệ hạt nano chất béo rắn [17-22]:
Phương pháp đồng hóa áp suất cao (High pressure homogenization): được sử dụng nhằm phá vỡ các hạt phân tán trong hệ nhũ tương hay huyền phù thành các vi hạt có kích thước nhỏ hơn nhằm tạo ra các hệ nano. Sự đồng hóa các hạt phân tán này thực hiện bằng cách buộc dòng phân tán đi qua một kênh hoặc lỗ rất hẹp dưới tác động của áp suất rất cao. Dòng sản phẩm sau khi được đồng hóa sẽ đưa vào khoang điều nhiệt để hạ nhiệt độ (do quá trình này sinh nhiều nhiệt). Cuối cùng ta thu lấy sản phẩm ở đầu ra. Thông thường ta sẽ cho dung dịch chạy qua hệ thống nhiều cycle để đảm bảo đạt được mức độ đồng hóa tối ưu và phù hợp với nhu cầu.
Có 2 kĩ thuật cơ bản tạo hệ hạt nano chất béo rắn là: đồng hóa nóng
(hot homogenization) và đồng hóa lạnh (cold homogenization). Sự khác nhau giữa 2 qui trình tổng hợp được mô tả như sau: [31, 36]
 1.2.4. Độ bền của hệ hạt nano chất béo rắn
Độ bền và ổn định của hệ hạt nano chất béo rắn được đánh giá dựa trên hai yếu tố là kích thước hạt phân bố và trạng thái kết tinh của hệ hạt nano, hay dựa trên kích thước và hình thái hạt:
-   Kích thước hạt là một yếu tố rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hấp thu qua màng ruột, mức độ tồn tại của hệ trong cơ thể và các cơ chế phân bố hoạt chất trong hệ thống màng nội bào (Reticulo endothelial system –RES). Kích thước hạt cũng chi phối đến cảm quan về sản phẩm.
-   Trạng thái kết tinh của hệ tương thích mạnh đến khả năng phóng thích và kết hợp các loại thuốc.
Mặc dù tính ổn định là khó đạt được nhưng hệ nano chất béo rắn khi phân tán có thể đạt độ bền hơn một năm. Vì vậy, để tránh sự không ổn định của hệ, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều nghiên cứu và chứng minh được rằng dùng kĩ thuật làm khô lạnh hay phun xịt khô sẽ làm tăng tính ổn định của hệ [3]. Vấn đề độ bền và tính ổn định của hệ nano chất béo rắn cần tiếp tục được nghiên cứu và tìm hiểu.
1.2.5. Ưu điểm
Hệ nano chất béo rắn được xem như là hệ vận chuyển hiệu quả các hoạt chất vì kích thước vi hạt nanomet (50-1000nm) được tổng hợp trên nền chất béo ở trạng thái rắn ở nhiệt độ phòng hoặc trạng thái lỏng khi tăng nhiệt độ. Đặc biệt, các hoạt chất kỵ nước hoặc ít tan trong nước có thể được phối dễ dàng vào hệ nano chất béo rắn. Hệ nano chất béo rắn có các ưu điểm của các hệ dẫn truyền khác như polymeric nanoparticle, hệ vi nhũ hay hệ liposome.
         Những ưu điểm của hệ hạt nano chất béo rắn [3,23]
-   Với kích thước nanomét tạo điều kiện cho các hoạt chất được phối vào trong hệ hạt nano chất béo rắn dễ dàng thâm nhập vào màng tế bào.
-   Qui trình tổng hợp tương đối dễ thực hiện, yêu cầu chi phí thấp, không sử dụng dung môi hữu cơ độc hại. Có thể tiến hành sản xuất ở quy mô công nghiệp.
-   Có thể điều khiển được quá trình phóng thích hoạt tính của thuốc do hoạt chất thuốc được giữ trong các lõi matrix của chất béo rắn, kéo dài thời gian phóng thích thuốc trong cơ thể.
-   Hạn chế sự biến chất của hoạt chất được phối vào hệ, cũng như sự rò rĩ thuốc khi đưa vào cơ thể, đảm bảo sự phóng thích hoạt chất đúng nơi.
-   Có thể giữ được cả hai loại hoạt chất ưa nước và kỵ nước.
-   Độ bền và tính ổn định hệ nano chất béo rắn có thể giữ được hơn một năm. Bằng phương pháp phân tích dưới kính quang phổ photon (photon correlation spectroscopy –PCS), Muller đã chỉ ra rằng hệ hạt SLN sử dụng chất béo glycerol palmitostearate và tribehenate có độ bền đến 3 năm [17].
-   Hệ SLN sản phẩm có thể làm lạnh khô dưới dạng bột hoặc sử dụng các biện pháp tiệt trùng.
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Cộng đồng Hóa học H2VN

HỆ NANO LIPID RẮN
« Trả lời #225 vào lúc: Tháng Một 22, 2017, 08:14:07 AM »

Offline Mr H2O

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 1320
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn
HỆ NANO LIPID RẮN
« Trả lời #226 vào lúc: Tháng Một 22, 2017, 08:18:49 AM »
1.2.6. Ứng dụng của hạt nano chất béo rắn
1.2.6.1. Tăng sự hấp thụ lên da:[24]
Bên cạnh những lợi ích liên quan đến các sản phẩm được bao thông thường, hạt nano chất béo rắn có các đặc tính nổi bật là hình thành lớp phim trên da có thể dẫn đến tăng tác dụng làm ẩm da như thể hiện trong hình 1.13.
Khi các hạt nano chất béo rắn được bôi trên da, một bộ phim lipid được hình thành với nhiều hiệu quả. Sự hấp thụ cao nhất có thể đạt được với các hạt chất béo rất nhỏ được sản xuất từ tinh thể lipid có nhiệt độ điểm sôi thấp. Các hạt nhỏ hơn 400 nm bao gồm ít nhất 35% lipid tinh thể là có hiệu quả cao nhất [15]. Souto et al. tìm thấy một sự hấp thụ cao hơn SLN khi so sánh với các nano có cấu trúc mang lipid khi chứa cùng hàm lượng lipid [24].
1.2.6.2 Tăng cường độ ẩm và độ đàn hồi cho da:[15]
Hiệu quả của hấp thụ qua da có thể làm giảm mất nước qua da và tăng độ ẩm da sau khi sử dụng da của các sản phẩm có chứa SLN. Hình 1.3 cho thấy một kính hiển vi điện tử quét (SEM) hình ảnh của một lớp phim hạt nano lipid trên bề mặt [13].
Müller và cộng sự thực hiện một nghiên cứu trong cơ thể để kiểm tra trực tiếp và so sánh các hiệu quả làm ẩm da sau khi sử dụng lặp đi lặp lại một loại kem được cải tiến có chứa SLN dạng O/W và một loại truyền thống. Sự gia tăng đáng kể độ ẩm da đã được tìm thấy sau 28 ngày [25].
Hiệu quả hấp thụ của SLNs phụ thuộc vào một số yếu tố: (i) hàm lượng lipid, (ii) mức độ kết tinh của các lipid tái kết tinh và (iii) kích thước hạt.
Như một quy luật, khi giảm kích thước hạt dẫn đến sự gia tăng trong số lượng hạt và do đó, lớp phim hình thành trở nên dày đặc hơn và hấp thụ cao hơn. Cùng một loại cơ chế, kiểm tra lại bằng cách tăng nồng độ lipid [14].
1.2.6.3 Tăng cường hoạt tính chống tia UV:[31-32]
Kem chống nắng có chứa các hạt hoặc các phân tử chống tia UV được ứng dụng trong mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc da sẽ không thâm nhập sâu vào bên trong da mà chỉ có tác dụng lưu hương. Bởi vì khi kem chống nắng xâm nhập vòa bên trong da sẽ gây ra các ảnh hưởng không mong muốn như sự kích ứng da hay dị ứng trên da. Vấn đề trên được giải quyết bằng cách bao các hoạt chất trên trong các hạt nano chất béo rắn, và đã được chứng minh là nó có hiệu quả tốt hơn các loại nhũ O/W truyền thống [31].
Bên cạnh đó cùng với các phân tử chông tia UV phân tán trong hạt nano chất béo rắn, hệ thống này còn giúp phân tán tia UV và sự hấp thụ UV của các phân tử kem chống nắng cũng được quan sát. Phương pháp này làm giảm khối lượng của kem chống nắng, đồng thời, chẳng những giảm nguy cơ các tác dụng phụ của kem chống nắng mà còn duy trì hoạt tính chống tai UV [32].
Từ các kết quả trên, các hạt nano chất béo rắn được xem xét như là một chất mang thay thế hấp dẫn để tạo ra các sản phẩm kem chống nắng với tác nhân chống nắng thấp hoặc trung bình
1.2.6.4 Kéo dài thời gian phát hương của nước hoa:[33]
Một phương pháp để kéo dài thời gian phát hương của nước hoa là kết hợp hương vào pha dầu và nhũ tương. Sau khi pha nước bay hơi, các giọt dầu có chứa nước hoa vẫn còn trên da. Ngược lại với ethanol, dầu (ví dụ như dầu ô liu, dầu thầu dầu) có áp suất hơi rất thấp (khoảng 0 kPa ở 20 ºC). Do đó, các giọt dầu vẫn còn trên da làm cho sự bay hơi của nước hoa bị cản trở. Điều này được giải thích bởi luật Raoult: áp suất hơi của hỗn hợp pha bằng tổng áp suất hơi của từng chất nhân với phần mol của nó.
pa + b = paxa + pbxb
Trong đó: p là áp suất hơi và x là phần mol.
Với pi, xi là áp suất hơi của cấu tử i trong hỗn hợp. Định luật Raoult thích hợp nhất cho các phân tử không phân cực có lực hút nội phân tử yếu: nước hoa và các loại dầu. Các phân tử nước hoa cần phải khuếch tán thông qua pha dầu trước khi bay hơi vào không khí. Hình 1.13 (trái và giữa) cho thấy sơ đồ các cơ chế của nước hoa bay hơi từ dung dịch ethanol và từ nhũ tương.
Yếu tố kiểm soát sự phát hương từ nhũ là áp suất hơi của dầu, vì thế, để kéo dài việc phóng thích hương, tiến hành giảm áp suất hơi của dầu. Biên pháp tốt nhất là dầu lỏng được thay thế bằng chất béo, đó là chất béo rắn ở nhiệt độ phòng và cũng ở nhiệt độ da. Các chất béo lỏng (dầu) của nhũ O/W được thay thế bởi một hỗn hợp chất béo, dẫn đến các hạt nano chất béo rắn dạng ma trận ở nhiệt độ phòng. Trạng thái phát hương chậm là trạng thái bên phải, hạt nano chất béo rắn ở dạng matrix.
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Mr H2O

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 1320
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn
HỆ NANO LIPID RẮN
« Trả lời #227 vào lúc: Tháng Một 22, 2017, 08:20:49 AM »
1.3 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tạo ra hệ hạt nano chất béo rắn đã và đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Có rất nhiều công trình được thực hiện, cụ thể là:
Năm 2007, nhóm tác giả Waree Tiyaboonchai, Wacharaphorn Tungpradit, Pinyupa Plianbangchang đã thành công trong việc sử dụng phương pháp microemulsion tạo hệ hạt nano chất béo rắn tại nhiệt độ 750C. Pha nước chứa 0,1% dẫn xuất curcuminoids, 5-15% poloxomer 188, 5-15% AOT, 5-20% ethanol và nước khử ion hóa đủ 100%. Pha nước đun đến 750C trước khi cho vào pha dầu [29] . Pha dầu chứa 5-12,5% acid stearic, 4% GMS, đun nóng ở cùng nhiệt độ trên. Trộn hai pha này thu được hệ microemulsion, để ấm và phân tán trong nước lạnh 20C (tỉ lệ 1:20) và thực hiện đồng hóa tốc độ cao trong 15 phút, 8000 vòng/ phút thu được hệ nano chất béo rắn. Hệ hạt nano chất béo rắn sau đó được lọc siêu âm hai lần với nước khử ion hóa. Cuối cùng, 4% mannitol được cho vào hệ nhũ nano trước khi làm lạnh lạnh đột ngột trong nitơ lỏng và làm lạnh khô ở áp suất 0,4mbar, -300C, trong 24 giờ. Kết quả tạo thành hạt nano chất béo rắn  chứa curcuminoids có kích thước gần 450nm. Tính ổn định của hệ vẫn được duy trì sau 6 tháng bảo quản ở nhiệt độ phòng không có ánh sáng. Sản phẩm bước đầu đã được sử dụng bởi tình nguyện viên và mang lại kết quả tốt trong chữa trị vết nhăn.
Bằng hai phương pháp microfluidizer và siêu âm, sử dụng ba loại chất hoạt động bề mặt khác nhau là tween  20,  Hi-Cap  100  (tinh  bột  biến  đổi  từ  ngô  sáp), WPC (whey  protein concentrate), Seid  Mahdi  Jafari  và  các  cộng  sự  cũng đã nghiên cứu  tạo  hệ  nhũ tương chứa d-limonene trên nền maltodextrin[3-4]. Hạt nano dạng bột rắn thu được bằng cách phun khô hệ thu được. So sánh kết quả thu được, ta thấy: phương  pháp microfluidization là một kỹ thuật nhũ tương khá hiệu quả và sản phẩm ở dạng bột có kích thước nhỏ từ  700-800nm  và có  khả  năng  giữ  d-limonene  cao  hơn phương pháp siêu âm (EE%=86,2%). Với chất hoạt động bề mặt Tween 20 có ưu điểm: làm giảm đáng kể kích thước hạt (đường kính hạt <200 nm) nhưng hiệu quả giữ d-limonene là thấp nhất khi sản phẩm ở dạng khô. Nghiên cứu  này  tạo  hệ  nano  dựa  trên những chất béo tự nhiên, an toàn với cơ thể người nên không hề sử dụng bất kỳ dung môi hữu cơ nào.
Dòng nước hoa Chanel Allure được phối hợp sử dụng hệ nano chất béo rắn giữ  hương  liệu  với hệ nano nhũ tương nhằm  kéo  dài  thời gian lưu hương bởi Wissing và các cộng sự[32]. Kết quả cho thấy thời gian lưu hương kéo dài hơn so với các dòng nước hoa thông thường. Khả năng phát hương của nước hoa có SLN phát hương thơm tương tự như nước hoa không có SLN trong 3h đầu. Tuy nhiên, thời gian phát hương của hệ chứa SLN chậm và kéo dài hơn trong 10h tiếp theo ( trong 6h, nước hoa không được bao trong SLN đã phát hết 100% hương trong khi nước hoa được bao trong SLN thì chỉ phát 75% hương liệu  chứa  trong  hệ. Từ đó đưa ra kết luận, khi sử dụng nước hoa được phân tán trong SLN, thời gian lưu hương của nước hoa Chanel Allure có thể lên đến 26-28 tiếng. Nghiên cứu này đã mở ra tiềm năng cho việc ứng dụng hệ hạt nano chất béo rắn vào các sản phẩm chống côn trùng dùng trên da.
Hiện nay ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu liên quan đến việc tạo hệ hạt phân tán nano giữ hương limonene, cụ thể là:
Tiến sĩ Lê Thị Hồng Nhan và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu gần đây về việc tạo hạt và  nghiên cứu đặc tính hóa lý của SLNs mang hương limonene sử dụng trên 4 nền chất béo rắn: Emulgade SE-PFTM, cetyl alcohol, glycerol monostearate (GMS) and stearic acid và 2 chất hoạt đọng bề mặt là Tween80 and Span80 [30]. Trong nghiên cứu này, SLNs mang hương limonene được điều chế thành công bằng kỹ thuật đồng hóa tốc độ cao 5000 vòng/phút trong 30 phút và để chống lại hiện tượng kết tụ của các hạt nano khi chuyển từ đồng hóa nóng sang đồng hóa lạnh nên đã cho một lượng nhỏ PVA vào (2%).  Kết quả thí nghiệm cho thấy: Emulgade SE-PF có hiệu quả tốt hơn so với GMS khi điều chế SLNs. Kết quả đo DLS cho thấy, các Limonen-SLNs có kích thước hạt từ 50-70 nm khi sử dụng Tween 80. Có thể kết luận rằng các hạt nano chất béo rắn này là rất phù hợp cho các ứng dụng trong sản phẩm mỹ phẩm cũng như các sản phẩm hương.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đánh giá sơ bộ khả năng tạo hạt của hệ [14]:
Kiểm tra sự phân tán của hệ, từ đó đánh giá sơ bộ về khả năng tạo hạt của hệ bằng phương pháp đo cường độ tán xạ laser (Magnitude of Laser Pathway - MLP): sử dụng chùm tia laser chiếu qua hệ hạt nano chất béo rắn phân tán trong nước. Cường độ tia laser xuyên qua lòng chất lỏng và sự tán xạ tia thể hiện sự tương tác giữa tia laser và các hạt phân tán.Lập tỉ lệ giữa đường kính tia truyền qua và đường kính nguồn sáng ta thu được giá trị MLP.
Quan sát ánh sáng đi qua mẫu. Khi ánh sáng va đập vào các hạt, sự phân tán xảy ra. Ánh sáng được phân tán theo mọi hướng nhưng các hạt lớn bị phân tán phía trước, còn các hạt nhỏ hơn thì bị phân tán ở cạnh và phía sau.
Khi chiếu tia laser qua mẫu, nếu không thấy tia sáng bị tán, nghĩa là dung dịch đồng nhất. Khi tia sáng bị tán, môi trường có các hạt phân tán. Kích thước tia sáng bị tán được đo và sử dụng để đánh giá tương đối kích thước hạt trong hệ.
Nếu giá trị MLP nhỏ và ổn định sau nhiều ngày thì hệ có kích thước hạt phân tán tốt, có độ bền cao, ít có hiện tượng sa lắng.
2.2  Xác định kích thước hạt bằng LDS (Laser Diffraction Spectrometry) [39]
Kích thước của hạt chất béo rắn được xác định bằng thiết bị đo phân bố kích thước hạt bằng máy LDS Laser Diffraction Spectrometry Horiba LA910V2 tại Phòng thí nghiệm Khoa kỹ thuật Hóa học– Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên lý đo: Khi ánh sáng va đập vào các hạt, sự phân tán xảy ra. Ánh sáng được phân tán theo mọi hướng nhưng các hạt lớn bị phân tán phía trước, còn các hạt nhỏ hơn thì bị phân tán ở cạnh và phía sau. Đèn Vonfam, với bước sóng ngắn hơn, thích hợp hơn tia laser He-Ne có bước sóng dài hơn để tạo các mẫu phân tán tốt trong các hạt nhỏ hơn. Bước sóng càng ngắn thì càng đo được các hạt càng nhỏ. Đường kính hạt được tính toán dựa vào thuyết Mie theo mẫu phân tán quan sát được.
Thông qua kết quả chụp LDS, ta có thể xác định được sự phân bố kích thước hạt, thu được các giá trị về đường kính hạt tương ứng với các tỉ lệ phân bố 10%, 50%, 90% của các hạt phân tán. Từ đó tính toán giá trị Span (span index) [39], đây là một tham số thống kê để mô tả sự phân bố kích thước hạt. Nếu giá trị Span thuộc khoảng cao thì hệ có sự phân bố kích thước rộng và chỉ số phân tán cao.
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Mr H2O

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 1320
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn
HỆ NANO LIPID RẮN
« Trả lời #228 vào lúc: Tháng Một 22, 2017, 08:22:09 AM »
2.3 Xác định hình thái hạt thông qua SEM (Scanning Electron Microscope) và TEM (Transmission Electron Microscopy) [39]
Kính hiển vi điện tử quét ( Scanning Electron Microscope - SEM), là một loại kính hiển vi điện tử có thể tạo ra ảnh với độ phân giải cao của bề mặt mẫu vật bằng cách sử dụng một chùm điện tử (chùm các electron) hẹp quét trên bề mặt mẫu. Việc tạo ảnh của mẫu vật được thực hiện thông qua việc ghi nhận và phân tích các bức xạ phát ra từ tương tác của chùm điện tử với bề mặt mẫu vật.
Kính hiển vi điện tử truyền qua (Transmission electron microscopy - TEM) là một thiết bị nghiên cứu vi cấu trúc vật rắn, sử dụng chùm điện tử có năng lượng cao chiếu xuyên qua mẫu vật rắn mỏng và sử dụng các thấu kính từ để tạo ảnh với độ phóng đại lớn (có thể tới hàng triệu lần), ảnh có thể tạo ra trên màn huỳnh quang, hay trên film quang học, hay ghi nhận bằng các máy chụp kỹ thuật số.
2.4 Thử nghiệm tính hiệu quả giữ tinh dầu
Tinh dầu là một hợp chất thơm dễ bay hơi, nên để đánh giá được hiệu quả giữ tinh dầu của hạt nano chất béo rắn, ta cần tính toán được sự mất hương do bay hơi trong quá trình tạo SLN. Thuật ngữ “lưu giữ” được định nghĩa là tỷ lệ giữa lượng tinh dầu được giữ trong hạt chất béo rắn và lượng tinh dầu tổng trong hệ. Từ lượng tinh dầu tổng và tinh dầu tự do, ta suy ra được lượng tinh dầu được giữ trong hệ hạt chất béo rắn (encapsuled oil).
Tính toán hiệu quả giữ tinh dầu của hệ so với lượng tinh dầu tổng cộng có trong hệ (encapsulation efficiency - EE%)
2.5. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN
       -Giai đoạn 1: Đồng hóa nóng (80 0C): Chất béo rắn được đun nóng chảy 70 0C rồi hòa tan hoạt chất vào tạo thành pha dầu và giữ hỗn hợp này ở 700C, tiến hành khuấy trộn 1 phút bằng máy khuấy từ. Trộn pha dầu vào pha nước có chứa chất hoạt động bề mặt ( được nâng nhiệt độ bằng với nhiệt độ của pha dầu 800C) và đồng hóa nóng bằng máy đồng hóa tốc độ cao SY với tốc độ 8000 vòng/phút trong 10 phút thu được hệ nhũ thô dầu trong nước (O/W).
       - Giai đoạn 2: Đồng hóa lạnh (25 – 30 0C). Lấy 20 ml hệ nhũ thô cho vào 300ml nước lạnh (có chứa 0.5% PVA) (tỉ lệ 1:15), tiếp tục đồng hóa lạnh mẫu bằng máy đồng hóa tốc độ cao SY (8000 vòng/phút, trong 10 phút) thu được hệ nhũ nano. Sản phẩm được giữ ở nhiệt độ phòng tránh ánh nắng mặt trời 1 ngày rồi tiến hành các phân tích tiếp theo.
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

 

Nhà Đất Vnthuoc đi phượt