Cộng đồng Hóa học H2VN

..::: NHÓM HÓA HỌC ỨNG DỤNG - CÁC CHUYÊN NGÀNH ::. => Nhóm Hóa Hữu Cơ - Hóa Dầu => Hợp chất thiên nhiên => Tác giả chủ đề:: chemter trong Tháng Năm 16, 2006, 12:21:22 AM

Tiêu đề: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: chemter trong Tháng Năm 16, 2006, 12:21:22 AM
Theo những nghiên cứu lâu nay thì rau dền có chứa nhiều chất Vitamin E và các acid béo rất có lợi cho sức khỏe ,các acid boe mega 3 rất tốt ,nhưng theo cơ quan nghiên cứu của Mỷ 1993 thì rau đắng lại tốt hơn rất nhiều so với rau dền ,nó có chứa các acid béo nhiều hơn so với rau dền ,vitamin E cao gấp 7 lần so với rau dền cho nên bây giờ ngại ngùng gì nữa bạn không mau ra chợ mua rau đăng về ăn cho nó tốt hay sao ?
Tiêu đề: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: chemter trong Tháng Năm 16, 2006, 01:20:22 AM
Hiện nay trường DH KHTN tp HCM mới xây dựng một phòng thí nghiệm về hợp chất tự nhiên lớn lắm>MÌnh nghĩ rồi đây nó sẽ triển vọng lắm
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: Tran_Thang trong Tháng Năm 18, 2006, 12:49:37 PM
Minh đang có đề tài nghiên cứu về cây nghệ độc, tên khoa học là Curcuma Aromatica Salisb. Mình đang rất cần tài liệu nói về loài này. Xin mọi người chỉ giáo (tài liệu bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt). Cảm ơn mọi người!
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: chemter trong Tháng Năm 18, 2006, 01:34:24 PM
Có phải là bạn nghiên cứu hoạt tinh với thành phần hoá học phải ko?Bạn nói rõ hơn thì mình mới nhờ mọi người giúp được chứ.Thân.
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: Tran_Thang trong Tháng Năm 18, 2006, 03:46:58 PM
Cảm ơn Chemter! Đúng là minh đang nghiên cứu về hoạt tính và thành phần hoá học của củ cây Curcuma Aromatica Salisb (ở VN gọi là cây nghệ độc hay nghệ trắng - trồng nhiều ở vùng núi đá Tuyên Quang). Hiện nay mình đang tiến hành triết lấy tinh dầu từ củ này để phân tích. Trong dân gian người ta thường dùng củ đề chữa bệnh đau dạ dày, hành tá tràng. Trên Thế giới hiện nay đã có một số đề tài nghiên cứu về hoạt tính và thành phần hoá học họ nghệ (họ Curcuma) (thành công nhất là ở Thái Lan, nhưng thông tin họ không tiết lộ một chút nào). ƯỞ VN, củ nghệ độc chưa ai nghiên cứu, nên mình chọn đề tài này để làm luận văn Thạc sỹ. Hiện mình đang rất cần thông tin để bổ sung vào báo cáo, rất mong Chemter giúp đỡ. Thân ái!
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: chemter trong Tháng Năm 18, 2006, 11:55:13 PM
 
Phải nó đây ko hả ông bạn,nếu là nó thì tui có àh nha:

NGA TRUẬT

Tên dược: Rhizoma Zedoariae

Tên thực vật: 1. Curcuma zedoaria Rosc.; 2. Curcuma aromatica Salisb.; 3. Curcuma Kwangsiensis S.Lee et C.F.Liang

Tên thường gọi: Củ nghệ tím

Bộ phận dùng và phương pháp chế biến: Củ được đào vào mùa thu hoặc đông. Rửa sạch, đồ chín và phơi khô. Sau khi bỏ xơ, thái miếng

Tính vị: Cay, đắng

Qui kinh: Can, tỳ

Công năng: 1. Hoạt huyết khứ ứ; 2. Hành khí giảm đau

Chỉ định và phối hợp:

Khí huyết ứ trệ biểu hiện đau bụng, mất kinh, có khối kết ở bụng hoặc thượng vị. Nga truật phối hợp với Tam lăng trong bài Nga truật hoàn.

Rối loạn công năng vận hóa của tỳ biểu hiện khó tiêu, đầy tức đau bụng và thượng vị. Nga truật phối hợp với Tam lăng, Sơn tra, Mộc hương và Chỉ thực

Liều lượng:

Thận trọng và chống chỉ định: Chống chỉ định dùng khi có thai và khi kinh nguyệt ra nhiều.
 
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: Tran_Thang trong Tháng Năm 19, 2006, 09:49:40 AM
Thank Chemter! Củ nghệ mình đang nghiên cứu thì mỗi nơi gọi một tên khác nhau (nghệ độc, nghệ trắng ...) nhưng tên khoa học là Curcuma Aromatica Salisb. Tài liệu của Chemter giới thiệu cũng có loài này. Chemter post cho mình nhé!
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: chemter trong Tháng Năm 19, 2006, 11:18:01 AM
http://vst.vista.gov.vn/home/database/Folder.2004-04-19.4917/MagazineName.2004-09-28.2232/2004/2004_00010/MArticle.2004-12-07.0400/marticle_view (http://vst.vista.gov.vn/home/database/Folder.2004-04-19.4917/MagazineName.2004-09-28.2232/2004/2004_00010/MArticle.2004-12-07.0400/marticle_view)
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: Tran_Thang trong Tháng Năm 19, 2006, 12:38:28 PM
Thanks Chemter!
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: Tran_Thang trong Tháng Năm 19, 2006, 12:41:16 PM
Chemter có biết hiện tại hai tác giả này đang sống và làm việc ở đâu không? Mình muốn liên hệ với họ để biết thêm thông tin (giúp cho chót nhé  :))
Tiêu đề: Yêu cầu tài liệu tại đây!
Gửi bởi: kid142 trong Tháng Bảy 21, 2006, 07:04:59 PM
em muốn tìm hiểu về hợp chất saponin. ??? ??? ???
các phương pháp nghiên cứu về nhóm hợp chất này.mong các bác ủng hộ và jup đỡ em nhá. ;) ;)
Tiêu đề: Hồi âm: Hợp chất Saponin
Gửi bởi: member trong Tháng Bảy 21, 2006, 10:41:39 PM
Chú ý: thông tin có tính chất tham khảo(có thể không chính xác)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Saponin là một glycoside tự nhiên thường gặp trong nhiều loài thực vật. Tiền tố latinh sapo có nghĩa là xà phòng; và thực tế thường gặp từ "saponification" có nghĩa là sự xà phòng hóa trong cả tiếng Anh và tiếng Pháp.

Saponin có tính chất chung là khi hoà tan vào nước có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch tạo nhiều bọt, có tính chất phá huyết, độc đối với động vật máu lạnh nhất là đối với cá, tạo thành phức với Cholesterol, có vị hắc và làm hắt hơi mạnh. Một vài động vật cũng có saponin như các loài hải sâm, cá sao.

Các saponin đều là các chất hoạt quang. Thường các steroid saponin thì tả truyền còn triterpenoid saponin thì hữu truyền. Điểm nóng chảy của các sapogenin thường rất cao.

Dưới tác dụng của enzyme có trong thực vật hay vi khuẩn hoặc do axit loãng, saponin bị thuỷ phân thành các phần gồm genin gọi là sapogenin và phần đường gồm một hoặc nhiều phân tử đường. Các đường phổ biến là D-glucoza, D-galactoza, L-arabinoza, axit galactunoic, axit D-glucuronic... Phần genin có thể có cấu trúc cholan như sapogeninsteroi hoặc sapogenintritecpen dạng beta-amirin (axit olenoic), dạng anpha-amirin (axit asiatic), dạng lupol (axit buletinie) hoặc tritecpen bốn vòng.

Dựa vào cấu trúc của phần sapogenin, người ta chia saponin ra làm 3 nhóm lớn là triterpenoid saponin, steroid saponin và steroidal glycoalkoloid.

Saponin có loại acid, trung tính hoặc kiềm. Trong đó, triterpenoid saponin thường là trung tính hoặc acid (phân tử có nhóm –COOH). Steroid saponin nhóm spirostan và furostan thuộc loại trung tính còn nhóm glycoalcaloid thuộc loại kiềm.
Tiêu đề: Hồi âm: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: hungtt trong Tháng Bảy 30, 2006, 10:26:59 PM
minh dang tim kiem dia chi lien he cu the cua: phan vien hoa hoc cac hop chat tu nhien thanh pho ho chi minh,de lien he nhan giong cay lay dau diesel thuc vat.bac nao biet xin hoi am thong diep nay theo dia chi emal:l_hung62@yahoo.com.vn,xin cam on nhieu!
Tiêu đề: Hồi âm: Hợp chất Saponin
Gửi bởi: kid142 trong Tháng Tám 02, 2006, 08:42:10 PM
hic hic, buon qua!em muon tao chu de nay de moi nguoi tham gia chi bao .Vay ma chang co ai hao hung thi phai? cam on bac member.em cung da lam nhu bac bao.Em muon tim them nhieu thong tin hon.Hien gio nguon tai lieu ve van de nay dang rat khan hiem  doi voi em.Ma nam sau e phai lam ve hop chat nay roi.

*buon lam chi hoi em
ngay mai troi lai sang  :( :( :(
Tiêu đề: Hồi âm: Hợp chất Saponin
Gửi bởi: Khottya trong Tháng Tám 23, 2006, 11:11:26 PM
Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới và ngay ở tại nước ta về hợp chất saponin. Đã có hàng trăm cấu trúc saponin được xác định từ nhiều loài khác nhau. Hiện tại, tôi cũng đang nghiên cứu về saponin (nghiên cứu về cách tách nó ra từ dược liệu) và thực sự cũng gặp vô vàn khó khăn (với một kẻ ngoại đạo trong lĩnh vực này như tôi).

Chia sẻ với bạn một chút về tài liệu, bạn có thể tìm đọc cuốn "Giáo trình hóa học các hợp chất thiên nhiên" của GS.TSKH Phạm Trương Thị Thọ. Tại đây, có giới thiệu về saponin và cách thử định tính, định lượng... Và cũng rất nên tìm cuốn "Hóa học Saponin" xuất bản năm 1990 mà tôi không nhớ rõ tên tác giả. Cuốn này giới thiệu rất chi tiết về cấu trúc của nhiều nhóm saponin cũng như các tính chất chung của chúng. Và phần không thể thiếu là tóm tắt các phương pháp nghiên cứu trước đây.
Chúc bạn thành công.
Tiêu đề: Sản xuất cồn từ củ khoai mì
Gửi bởi: Hieuclass trong Tháng Mười 21, 2006, 10:19:31 AM
Mới đây, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới Tp.HCM đã nghiên cứu thành công phương pháp sản xuất cồn (Ethylic) từ nguồn nguyên liệu là củ khoai mì và bã khoai mì (sắn). Với công nghệ mới này sẽ mở ra thêm một nguồn nguyên liệu mới đáp ứng cho ngành sản xuất cồn của Việt Nam hiện nay.

(http://khoahoc.com.vn/photos/Image/2006/10/21/con_khoaimi.jpg)
Công nghệ sản xuất cồn từ khoai mì còn có thể thu thêm nhiều sản phẩm khác có giá trị kinh tế cao. (Ảnh: ND)
 
Tiến sĩ Võ Thị Hạnh, chủ nhiệm đề tài sản xuất cồn từ sản phẩm nông nghiệp bằng công nghệ đường hoá tinh bột, cho biết: tại Việt Nam, cồn được sản xuất chủ yếu từ nguồn nguyên liệu rỉ đường mía. Mỗi năm tổng công suất sản xuất cồn trên cả nước đạt 25 triệu lít năm tập trung ở 3 nhà máy lớn có công suất từ 15.000 - 30.000 lít/ngày là Nhà máy đường Hiệp Hoà, Lam Sơn, Nhà máy bia rượu Bình Tây, và hàng trăm cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ với công suất từ 3.000 - 5.000 lít/ngày.

Tuy nhiên qua khảo sát, hiện các đơn vị sản xuất cồn đang gặp nhiều khó khăn. Do nguồn nguyên liệu quá đắt và công nghệ lạc hậu nên tốn nhiều chi phí sản xuất nên sản phẩm không có sức cạnh tranh cao.

Để thu được 1 lít cồn cần có 4 kg rỉ đường mía. Mỗi kg giá là 1.600 đồng/kg, vị chi 1 lít cồn tốn khoảng 6.400 đồng cho phí nguyên liệu, chưa tính đến các khoản chi phí khác.

Trong khi đó, nếu sử dụng củ mì hoặc bã mì thì kinh phí sản xuất sẽ giảm rất nhiều, đây là nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước và có thể sản xuất với qui mô lớn, giá thành lại tương đối rẻ. Một kg củ mì tươi trung bình giá khoảng 600 đồng/kg, nếu so với nguyên liệu rỉ đường mía rẻ gần 2/3 giá thành. Bã khoai mì lại là nguồn phế phẩm của các nhà máy chế biến tinh bột mì. Theo thống kê trên cả nước đang có khoảng 28 nhà máy bột mì.

Phương pháp đường hoá tinh bột sẽ được thực hiện theo qui trình gồm: nguyên liệu được nghiền nát, sau đó tiến hành công đoạn đường hoá tinh bột, lên men cuối cùng là công đoạn chưng cất thu sản phẩm. Điểm ưu việt của công nghệ đường hoá tinh bột là có thể tận dụng nguồn nguyên liệu hoàn toàn hơn, nhờ vậy phương pháp này sẽ giúp cho nhà sản xuất giảm lượng nguyên vật liệu, tiết kiệm tối đa chi phí. Để có 1 lít cồn 94,5% chỉ cần tốn khoảng 2,5 kg khoai mì lác hoặc 15 kg bã khoai mì, như vậy nguồn chi phí sản xuất sẽ rẻ đi rất nhiều.

Thời gian qua, ở Việt Nam đã có nơi sử dụng khoai mì khô để sản xuất cồn nhưng hiệu suất tạo cồn vẫn còn thấp, phải tốn hết 3,5 kg khoai mì/lít. Còn nguồn bã khoai mì thì vẫn chưa nơi thực hiện.

Tiến sĩ Hạnh cho biết thêm: nếu sử dụng khoai mì hoặc bã khoai mì để sản xuất cồn không chỉ tận dụng nguồn phế phẩm của các nhà máy sản xuất tinh bột mì mà còn làm giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường do việc phơi bã mì để sản xuất thức ăn cho gia súc. Trong bã khoai mì có độ ẩm đến 80% nên phải mất một khoảng thời gian phơi nắng, do đó bã mì dễ bị nhiễm khuẩn sinh ra mùi hôi khó chịu làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.

Công nghệ sản xuất cồn Ethylic từ khoai mì, ngoài sản phẩm chính là cồn, nhà sản xuất còn có thể thu thêm nhiều sản phẩm khác có giá trị kinh tế cao từ những nguồn phế thải.

Đó là, lượng khí CO2 lỏng thu được trong quá trình lên men chuyển sang giai đoạn chưng cất cồn 94,5%. Từ nguồn nước thải còn có thể chế tạo phân vi sinh và than bùn. Lượng xác nguyên liệu thải ra sau quá trình chưng cất cũng có thể dùng phương pháp cho xúc tác vi sinh kích hoạt quá trình lên men để sản xuất chế phẩm sinh học phục vụ nuôi trồng thuỷ sản. Đến nay, tại Việt Nam chưa có đơn vị nào sản xuất cồn từ bã khoai mì.

Sử dụng phương pháp đường hoá tinh bột để sản xuất cồn Ethylic công nghiệp từ củ mì hoặc bã mì, ngoài việc đẩy mạnh hoạt động sản xuất nguồn nguyên liệu cồn, tạo đầu ra ổn định cho mặt hàng nông sản (củ khoai mì), thì còn tạo điều kiện thuận lợi để tiến tới sản xuất nguồn nhiên liệu sinh học xăng pha cồn - Gasohol) mà hiện tại nước ta vẫn chưa có.

Theo Thời báo kinh tế Việt Nam, Nhân dân
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: khangk35 trong Tháng Tư 30, 2007, 09:58:08 AM
Minh là thành viên mới cua diễn đàn.Mong các bạn góp ý:Mình có câu hỏi là: có bạn nào biết gì về hợp chất Polyphenol KO??? mình đang muốn tìm hiểu về nó? giúp mình nhé> Số mobile của minh là: 0983158151.Thanks
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: rongcoi trong Tháng Tám 13, 2007, 09:50:58 AM
DHKHTN-DHQGHN có phòng hợp chất thiên nhiên từ lâu rồi bác ạ
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: rongcoi trong Tháng Tám 13, 2007, 09:53:29 AM
em cũng có dự định theo hợp chất thiên nhiên đấy.có gì các bác giúp đỡ em nha
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: rongcoi trong Tháng Tám 13, 2007, 09:56:46 AM
em cũng có dự định theo HCTN đấy .có gì các bác giúp đỡ em nha
Tiêu đề: Re: Sản xuất cồn từ củ khoai mì
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 10, 2007, 06:36:15 PM
Thật tuyệt vời. Với công nghệ này không những chúng ta sản xuất được cồn từ nguồn nguyên liệu dồi dào và giá rẻ mà còn thu được sản phẩm nữa là khí CÒ. Theo mình được biết hiện nay cả nước chỉ có nhà máy Phân đạm Hà Bắc là có khí CO2 hóa lỏng (liquid gas )và băng khô xuất ra thị trường.
Tiêu đề: Thanh phan chinh cua cay che.
Gửi bởi: luckystar trong Tháng Mười 21, 2007, 04:05:13 PM
Từ xưa đến nay, chè một loại thức uống quen thuộc đối với mọi người, đặc biệt là đối với người Á Đông. Chè được sử dụng trên toàn thế giới, và được xem là một loại thức uống mang tính toàn cầu. Cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh lợi ích của chè. Bên cạnh chức năng giải khát, chè có tác dụng sinh lý rất rõ rệt đối với sức khỏe con người. Thành phần caffein và một số alkaloid khác trong chè có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương, vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, giảm mệt nhọc sau khi lao động. Chè còn có tác dụng phòng và trị được nhiều loại bệnh khác nhau, đặc biệt là các bệnh về tim mạch, ung thư. Mặt khác, chè là nét truyền thống của nhiều dân tộc, nó mang một giá trị vô cùng thiêng liêng, cao quí trong đời sống tinh thần của con người.

Chè truyền thống có thể chia thành ba loại chính là chè xanh, chè oolong và chè đen. Chè xanh là loại chè không lên men, enzyme được vô hoạt bằng cách sấy hoặc chần để ngăn quá trình lên men. Ngược lại, chè đen được lên men hoàn toàn, enzyme được tạo điều kiện tối ưu nhất đảm bảo quá trình lên men triệt để. Chè oolong là sản phẩm trung gian của hai loại chè trên, nó được tạo thành bằng cách lên men không hoàn toàn lá chè tươi.

Mỗi loại chè có những tính chất cảm quan đặc trưng riêng về màu sắc, mùi, vị, và hương. Trong qui trình sản xuất chè đen, quá trình lên men giữ vai trò quan trọng quyết định chất lượng của sản phẩm. Trong phạm vi đề tài này, chúng em xin tìm hiểu sâu về quá trình lên men, và từ đó cung cấp mốt số thông tin cụ thể hơn những biến đổi quan trọng trong quá trình này đã góp phần tạo nên những nét đặc trưng cho chè đen.

I. THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA LÁ CHÈ TƯƠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CHÈ



1. Nước:

Nước trong nguyên liệu chè là môi trường xảy ra tương tác giữa các chất có trong nguyên liệu chè khi đem chế biến. Nước tham gia trực tiếp vào nhiều phản ứng thủy phân, oxi hóa khử. Hàm lượng nước có quan hệ mật thiết đối với quá trình chế biến chè. Nếu nguyên liệu chè bị mất nước quá nhanh thì biến đổi sinh hóa diễn ra nhanh và không triệt để, đôi khi enzyme bị ức chế nếu hàm lượng nước quá thấp (<10%). Nước trong nguyên liệu chè nhiều hoặc ít đều làm cho lá chè bị nát khi vò. Trong quá trình chế biến chè cần khống chế sự bay hơi nước, đặc biệt trong sản xuất chè đen.


2. Hợp chất phenol (tanin):( hay Tannin)

Hợp chất phenol giữ vai trò chủ yếu trong quá trình tạo màu sắc, hương vị của chè đặc biệt là chè đen. Tanin có đặc tính dễ bị oxi hóa dưới tác dụng của enzym và được cung cấp oxi đầy đủ. Vì vậy, chè nguyên liệu chứa càng nhiều tanin, đặc biệt là tanin hòa tan thì sản phẩm chè đen có chất lượng càng cao. Flavanoids là thành phần quan trọng của Tanin, trong đó Catechin và Flavonol chiếm tỉ lệ lớn.

Trong sản xuất chè đen, Catechin có vị trí quan trọng trong việc tạo màu sắc, mùi, vị cho chè thành phẩm. Có 6 loại Catechin (bảng 1) chiếm khoảng 20 – 30 % tổng lượng chất khô trong lá chè tươi. Về mặt cấu trúc, Catechin là là hợp chất Flavanol, được đặc trưng bởi cấu trúc C6 – C3 – C6, tương ứng với sự thay thế 2- phenyl bằng benzopyran và pyron.

Catechin là hợp chất không màu, tan trong nước, có vị đắng, chát. Catechin không chỉ có trong trong chè mà còn được tìm thấy trong rượu vang đỏ, táo, nho, và chocolate. Nhưng chè là thức uống duy nhất có chứa GC, EGC, ECG, EGCG.

3. Caffein:
Công thức cấu tạo của Caffein:
Ankaloid chính của chè là Caffein, có tác dụng dược lý, tạo cảm giác hưng phấn cho người uống. Caffein là dẫn xuất của purine có tên và gọi theo cấu tạo là 1, 3, 5- trimethylxanthine, chiếm khoảng 3 – 4% tổng lượng chất khô trong lá chè tươi.

Caffein có khả năng liên kết với tanin và các sản phẩm oxi hóa của tanin để tạo nên các muối Tanat caffein. Các muối này tan trong nước nóng, không tan trong nước lạnh và tạo nên hương thơm, và sắc nước chè xanh, giảm vị đắng và nâng cao chất lượng thành phẩm.

4. Protein và acid amin:

Protein trong búp chè phân bố không đồng đều, chiếm khoảng 15% tổng lượng chất khô của lá chè tươi. Protein có thể kết hợp với trực tiếp với Tanin, polyphenol, tạo ra những hợp chất không tan làm đục nước chè đen. Nhưng trong chế biến chè xanh protein kết hợp với một phần Tanin làm cho vị đắng và chát giảm đi, vì thế ở chừng mực nào đó Protein có lợi cho phẩm chất chè xanh.

Ngày nay, người ta đã tìm thấy 17 acid amin có trong chè. Trong đó 10 acid amin cơ bản là: Theanine, phenylalanine, leucine, isoleucine, valine, Tyrosine, glutamine, serine, glutamic, aspartic. Các acid amin này có thể kết hợp với đường, tanin tạo ra các hợp chất aldehyde, alcol có mùi thơm cho chè đen, và chúng cũng góp phần điều vị cho chè xanh.



5. Carbohydrates:

Trong thành phần Carbohydrate của chè, đáng quan tâm nhất là là loại đường tan. Dưới tác dụng của nhiệt và các yếu tố khác, các loại đường sẽ biến đổi tạo nên hương vị đặc trưng cho thành phẩm. Ngoài ra, các loại đường còn tác dụng với Protein, acid amin tạo nên hương thơm cho chè.


6. Các chất màu:

Các chất màu trong lá chè gồm có: Anthocyanidin (Cyanidin, Delphenidin), Carotenoid, Chlorophyll. Các hợp chất màu có vai trò quan trọng trong tạo màu cho thành phẩm.


7. Vitamin và khoáng:

Trong búp chè chứa hầu hết các loại vitamin như vit A, B1, B2, PP, đặc biệt Vit C có rất nhiều trong chè, cao gấp 3- 4 lần so với cam, chanh. Trong quá trình chế biến chè đen hàm lượng vit C giảm nhiều, còn trong chè xanh thì giảm không đáng kể. Vì vậy hàm lượng Vit C trong chè xanh thường cao gấp 10 lần so với chè đen.

Trong chè thành phần khoáng chủ yếu là K, chiếm gần 50 % tổng lượng khoáng.



8. Enzyme:

Là nhân tố quan trọng trong quá trình sinh trưởng và chế biến chè, đặc biệt trong chế biến chè đen. Enzyme có vai trò quyết định chiều hướng biến đổi các phản ứng sinh hóa trong giai đoạn làm héo, vò, lên men. Trong búp chè có 2 loại enzyme chủ yếu là:

- •Nhóm enzyme thủy phân : amilase, protease, glucosidase, …

- •Nhóm enzyme oxi hóa – khử : peroxidase, polyphenoloxidase, …

Enzyme peroxidase, polyphenoloxidase đóng vai trò quan trọng nhất và có tác dụng khác nhau trong quá trình lên men chè đen. Các enzyme này đều hoạt động mạnh ở 45°C, đến 70°C thì hoạt động yếu hẳn đi và ở nhiệt độ cao hơn sẽ bị vô hoạt hoàn toàn. Trong chế biến chè xanh, không cần tạo nên những biến đổi sinh hóa cho tanin, nên enzyme không có ích cho quá trình chế biến. Vì vậy ngay từ giai đoạn đầu của quá trình chế biến chè xanh người ta phải dùng nhiệt độ cao để vô hoạt enzyme bằng cách chần hoặc sao.

Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: seatalent trong Tháng Một 04, 2008, 04:33:06 PM
Cho mình hỏi có ai biêt về cây kim ngân hoa (hay còn gọi là nhẫn đông đằng). Hiện giờ mình đang làm đề tài về cây này, nhưng k biết nó đựoc trồng ở đâu nữa.nếu có o tp HCM thi cam ơn nha
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: txhc trong Tháng Ba 09, 2008, 09:41:25 PM
mình đang cần tài liệu về steorit để làm semina. bạn nào có thì cho mình với.cám ơn. địa chỉ email của mình là:lethanhtam1985@yahoo.com
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: hóa hưu cơ trong Tháng Ba 26, 2008, 02:34:47 PM
thuc ra tat ca cac chat khi tu nhien deu co nguon goc va cau tao cua no
minh muon cac ban hay gop y cho minh nha
minh muon tim cac thong tin ve hoa dau
mong cac ban giup minh nha
minh cam on!
Tiêu đề: Yêu cầu tài liệu tại đây!
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Sáu 02, 2008, 11:51:25 PM
Tinh dầu xả chanh, chứa nhiều citral, đây là nguyên liệu ban đầu tổng hợp Vitamin A, ngoài Vitamin A nó còn tổng hợp thành các dạng thuốc hay sản phẩm Dược nào? Bạn nào biết xin chỉ dùm nguồn tài liệu. Thanhk U!
Tiêu đề: Hỏi về cây dừa cạn
Gửi bởi: myname trong Tháng Bảy 05, 2008, 01:34:14 PM
ai có thể giúp mình tài liệu về cách cô lập alkaloid từ cây dừa cạn với.
Về các pp chạy sắc kí chẳng hạn
Tiêu đề: Re: Thanh phan chinh cua cay che.
Gửi bởi: salem12h trong Tháng Bảy 28, 2008, 10:33:23 AM
bạn có thông tin gì về chất tanin nữa không vậy? có sách càng tốt. mình đang định chiết tách chất này nhưng từ một loại cây khác. giúp mình nhé. cảm ơn bạn nhiều
Tiêu đề: Re: Hợp chất Saponin
Gửi bởi: huyhoang0106 trong Tháng Tám 02, 2008, 03:12:22 PM
mình cũng đang tìm hiểu về cái này nhưng tài liệu thì ko có! chán thật! bác nào có tài liệu thì cho anh em ít tài liệu ! cũng có thể tài liệu này ko giúp ích gì cho bạn nhưng có thể giúp ích cho tôi
tôi đang ở tphcm
Tiêu đề: Re: Hợp chất tự nhiên
Gửi bởi: huyhoang0106 trong Tháng Tám 02, 2008, 03:27:42 PM
chao bác ! có phải bác đang nghiên cứu về saponin trong cây kim ngân phaior ko?
Tiêu đề: Re: Thanh phan chinh cua cay che.
Gửi bởi: huyhoang0106 trong Tháng Tám 02, 2008, 03:29:17 PM
cái này thì đơn giản thôi , có gì bạn thử hỏi người nay coi tuanngoc239@yahoo.com -cô Tuấn Ngọc giảng viên trường cao đẳng công nghiệp thực phẩm tphcm
Tiêu đề: Re: Thanh phan chinh cua cay che.
Gửi bởi: huyhoang0106 trong Tháng Chín 02, 2008, 05:46:27 PM
tôi nhớ có một lần cô nói là có cách lấy tanin trong chè nhưng khá phức tạp nên tôi mới cho vậy thôi !
theo như tôii được biết thì tanin có một gốc ưa nước và một góc háo nước , pectin hay agar có tính háo nước. vấn đề ở đây là ta thay đổi pH hay cho chất điện li khác thì nó sẽ tác dụng với nhau !
Nếu trong sản xuất rượu thì bạn có thể ứng dụng vào chuyện này !nhưng tôi lưu ý là pectin -> rượu metylic :rất độc với chỉ một liều lượng nhỏ cũng gây mù mắt! quan trọng là ta cho vào giai đoạn nào thôi !
chúc vui !
Tiêu đề: Re: Hợp chất Saponin
Gửi bởi: nguyenvanthe trong Tháng Chín 28, 2008, 09:36:47 AM
toi dang can mot so phuong phap dinh luong Saponin, dac biet la dinh luong sapo nin trong cay bon bot. co anh chi nao biet chi cho toi voi hoac gioi thieu cho toi mot so sach de Tim doc. Cam on cac anh chi nhieu( Cac anh chi nao co phuong phap dinh luong ban HPLC khong ?
Tiêu đề: Thảo luận về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Mười 14, 2008, 06:45:27 AM
Bạn nào biết quy trình của nó như thế nào chỉ mình với? Mới biết trong quyển sách "Hương liệu và mỹ phẩm" của Bách Khoa tp.hcm có phần này nhưng chưa biết mua sách hay đã xuất bản thành sách chưa? Bạn nào đã học qua rồi xin chỉ giáo với! Ngoài ra nếu có một phương pháp nào mới thì xin post lên để mọi người tham khảo! Cảm ơn!
Tiêu đề: Re: Tách citral từ tinh dầu sả chanh!
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Mười 18, 2008, 06:16:10 PM
Mình đã mua được quyển sách đó rồi.
Giờ xin hỏi các bạn đã từng làm qua chưng cất tinh dầu sả một câu hỏi phát sinh trong quá trình làm như sau:
"Trong quá trình làm, sau khi đã lấy được tinh dầu, để một hồi sau thì thấy có những hạt li ti nhỏ màu trằng đục, mịn lơ lửng, vậy xin hỏi các bạn đó là cặn bẩn hay chất nào khác, có cách nào để tách riêng biệt nó ra khỏi tinh dầu hay không????"
Tiêu đề: Re: Tách citral từ tinh dầu sả chanh!
Gửi bởi: niken992000 trong Tháng Mười Một 21, 2008, 11:55:10 AM
bạn ơi! những hạt mà ban nói đó là nước còn lẫn trong đó đó! vì nước còn ít lên nó như dạng huyền phù trong hchc.
Tiêu đề: Re: Hợp chất Saponin
Gửi bởi: thương1989 trong Tháng Mười Một 21, 2008, 04:07:04 PM
em đang cần tìm :định nghĩa,các tính chất đặc trưng của saponin .xin mọi người hãy giúp em
Tiêu đề: Thành phần chính của nhựa cây Dầu rái
Gửi bởi: luuhaiphong trong Tháng Mười Hai 24, 2008, 01:51:43 PM
 Chào các bạn, mình đang rất cần tìm thành phần chính của nhựa cây "Dầu rái", chất đã làm cho dầu có tính quánh, keo, dính kết... Ai biết chỉ mình với xin cảm ơn !!!
Tiêu đề: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Một 31, 2009, 12:21:58 AM
Bài viết này được viết khi Quân đã làm xong giai đoạn 1 của đề tài, nhưng do có một số lý do khách quan và đây là đề tài bình thường, theo một giảng viên nói là chẳng có gì làm, nên đề tài đã dừng lại. Quân viết bài viết này để cung cấp những gì mình đã đọc, tìm hiểu và đã làm (dù có giữ lại một ít bí quyết).
Đây là một bài viết chính kiến, nên có gì sai sót, mong các bạn góp ý và bạn nào đọc xong, có thể làm tiếp tục được giai đoạn sau có kết quả thì nhớ nhắn tin cho mình nha, chia sẻ tý. Cảm ơn


TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH TÁCH CITRAL TỪ TINH DẦU SẢ CHANH THEO PHƯƠNG PHÁP VI SÓNG VÀ ỨNG DỤNG CỦA CITRAL TRONG TỔNG HỢP HỮU CƠ
[/b]

Đề tài được chia làm 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Nghiên cứu những thông số thích hợp liên quan đến việc trích ly tinh dầu sả chanh dựa trên sự so sánh giữa hai phương pháp: phương pháp cổ điển-chưng cất hơi nước và phương pháp vi sóng.

+ Giai đoạn 2: Tách citral từ tinh dầu sả chanh và ứng dụng Citral vào tổng hợp hữu cơ, chủ yếu là tạo ra Geraniol- tạo ra este hương hoa hồng, tạo ra Pseudo Ionone- tổng hợp Vitamin A.
***********

* CHUẨN BỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO
+ Lê Ngọc Thạch, Tinh dầu, NXB ĐH.Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, 2003
+ Vương Ngọc Chính, Hương liệu mỹ phẩm, NXB ĐH.Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, 2005
+ Trần Thị Việt Hoa-Phan Thanh Sơn Nam, Hóa hữu cơ, NXB ĐH.Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, 2007
+ Các tài liệu tham khảo về Citral trên Sciencedirect.com, một số trang web khác,... (bạn nhờ các anh chị, người quen download về mà tự dịch nha!)
* VIẾT TỎNG QUAN, LẬP KẾ HOẠCH NHỮNG GÌ BẠN SẼ LÀM,...(Tự bạn phải giải quyết vấn đề đó!)
***********

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1.1 KHÁI QUÁT TINH DẦU SẢ CHANH
Sả chanh hay cỏ sả- tên khoa học là Cymbopogon Citratus (DC) Stapf, thuộc họ lúa-Poaceae,...
Ở Việt Nam, có 2 loại Sả được trồng phổ biến,..., nhưng trong đó tinh dầu sả chanh,  Citral chưa hàm lượng khá cao...
Citral có tên hóa học là 3,7-dimethyl-2,6-octadienal, là một chất lỏng màu vàng nhạt và có mùi chanh.

(Còn tiếp)

Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Một 31, 2009, 06:51:20 PM
(Tiếp theo)

Citral có công thức phân tử: C10H16O và có công thức cấu tạo: [(CH3)2C=CHCH2CH2C(CH3)=CHCHO]
Công thức cấu tạo của Citral ở hai dạng đồng phân:

(http://www.foodmate.net/upimg/allimg/070607/1033360.jpg)

a. Citral a (Geranial)
b. Citral b (Neral)
Khối lượng phân tử: 152,24 g/mol
Tỷ trọng: 0,888 g/ml
Nhiệt độ sôi: 229oC

1.2 SẢN XUẤT TINH DẦU
(Các bạn khảo sát các điều kiện sau đây, trước khi trích ly tinh dầu)

1.2.1 Độ chín

1.2.2 Độ tươi

1.2.3 Độ sạch

Các điều kiện trên, các bạn đọc kỹ trong quyển sách Tinh dầu-Lê Ngọc Thạch

* Yêu cầu: Bạn nên cố định một nguồn cung cấp nguyên liệu. Và khảo sát  thời điểm cho lượng tinh dầu nhiều nhất khi chưng cất, từ đó rút ra kết luận.
(Còn tiếp)
Tiêu đề: Tinh dầu Việt Nam
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 02, 2009, 09:23:17 AM
Tài liệu tham khảo: Tinh dầu-Lê Ngọc Thạch
1. HỌ AGAVACEAE (HỌ AGAO)
1.1 HUỆ

Tên khoa học: Polianthes tuberosa Linn/Amaryllidaceae
Tên thông dụng:hoa Huệ/ Bách Hợp- Tuberose/ Amaryllis
Cây hoa huệ thuộc họ thuỷ tiên, hình dáng giống cây tỏi. Hoa huệ có hai giống, huệ đơn còn gọi là huệ xẻ, cây thấp bông ngắn và thưa; huệ kép còn gọi là huệ tứ diện, cây cao, hoa dày và bông dài. Có hai loại: Huệ trâu cao khoảng 1,5- 1,6 mét bông dài, Huệ ta bông ngắn, thường nở trên cây, có mùi thơm.Về mùi thơm của hoa Huệ thì không có vùng nào sánh bằng các xã Tân Quý Tây, Bình Chánh, Hưng Long, Tân Túc của huyện Bình Chánh.
(http://2.bp.blogspot.com/_xnfvTBvi4oo/R_vUCLC88CI/AAAAAAAADo0/TIuloJme_mU/s200/2.jpg)
Phân bố: cây phát triển mạnh trên đất phù sa xốp, được trồng ở nhiều địa phương miền Nam, cao nguyên Lâm Đồng.
Bộ phận cho tinh dầu: hoa (cô kết 0,4%; tinh dầu tuyệt đối 23% cô kết)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu tuyệt đối:
(http://www.medicinescomplete.com/mc/martindale/2007/images/CLK0194C001.gif)alcol benzil (0,7%);
(http://www.xtec.es/%7Efguell/semidesenvolupades/esters/benzoat%20metil.gif)benzoat metil (4,5%);
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/a/a6/Methyl_anthranilate.png/200px-Methyl_anthranilate.png)antranilat metil (8%);
metilisoeugenol (10%);
benzoat benzil (24%)
+ Sáp hoa: n-alkan từ 19C đến 34C (44,2%)
Công dụng: tinh dầu tuyệt đối là thành phần của nhiều nước hoa cao cấp
Tiêu đề: Re: Tinh dầu Việt Nam
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 02, 2009, 09:34:54 AM
2. HỌ ALISMATACEAE (HỌ TỪ CÔ)
2.1 TRẠCH TẢ (MÃ ĐỀ NƯỚC)

Tên khoa học: Alisma plantago-aquatica Linn
Phân bố: cây mọc hoang dã ở miền núi và cũng được trồng ở nhiều nơi
Bộ phận cho tinh dầu: căn hành
Thành phần hóa học: alisol, epialisol

(http://www_pharm.u-shizuoka-ken.ac.jp/%7Eyakusou/BOTANY/B_GARDEN/PHOTO/ORGPICT/sa/sajiomod.JPG)
(http://baophuyen.com.vn/portals/0/quangcao/TRACUUDONGDUOC/TUDIEN/THUOC/TRACHTA.JPG)

Một số cây hoang dại thuộc họ từ cô
(http://forum.ctu.edu.vn/viewtopic.php?p=77010&sid=f56adfb9820c3c611dd7d04d5d631106)
Họ Từ cô Alismataceae
Có 8 loài ở VN gồm toàn các loài nê thực vật, sống trên đất bùn

1. Alisma plantago-aquatica L. : Thủy đề, Trạch tả
Cây này gặp ở miền Bắc (Lào Cai)

(http://farm4.static.flickr.com/3241/2521359315_cd3a901598_o.jpg)

(http://farm3.static.flickr.com/2263/2521359123_889e021fb6_o.jpg)

2. Sagittaria sarittaefolia L. : Từ cô, Rau mác
Cây Từ cô thì có thể gặp nhiều nơi. (Tên cây rau Mác còn dùng cho vài loài cây khác ở họ Lục Bình cũng có lá hình mũi tên)

(http://farm4.static.flickr.com/3218/2522180436_c2b3cd5983_o.jpg)

(http://farm3.static.flickr.com/2365/2522180312_b8a975e650_o.jpg)

3. Sagittaria sp. : Từ cô kiểng
không biết tên khoa học, loài này thấy trồng kiểng trong chậu, lá thon tròn chứ không phải hình mũi tên.

(http://farm3.static.flickr.com/2340/2521359647_2eaff996c8_o.jpg)
Tiêu đề: Re: Tinh dầu Việt Nam
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 02, 2009, 09:53:04 AM
3. HỌ ANNONACEAE (HỌ MÃNG CẦU)
3.1 NGỌC LAN TÂY (CÔNG CHÚA, YLANG YLANG)

Tên khoa học: Cananga odorata (Lamb.) Hook.f & Thoms
Phân bố: cây thường được trồng quanh nhà hay trong công viên
Bộ phận cho tinh dầu: hoa
Thành phần hóa học: linalol; benzoat benzil; farnesol; safrol; eugenol; geraniol; Caryophyllen ..
Công dụng: được sử dụng trong công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, nước hoa,...

(http://i22.photobucket.com/albums/b332/Azumeo/YlangYlang11.jpg)

(http://www.aromaweb.com/images/essentialoils/ylangylangoil.jpg)
Tinh dầu Ngọc lan tây

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/14/Ylang_Cananga_odorata.JPG/250px-Ylang_Cananga_odorata.JPG)

Wikipedia
Hoàng lan hay ngọc lan tây, ylang-ylang hoặc Ylang công chúa (danh pháp khoa học: Cananga odorata), là một loài cây thân gỗ trong Chi Công chúa (Cananga). Loài cây này có thể có độ cao trung bình khoảng 12 m, phát triển tối đa khi được trồng tại nơi có nhiều nắng, và nó ưa thích các loại đất chua tại khu vực nguồn gốc của nó là các rừng mưa. Vỏ cây màu xám trắng; nhánh ngang hay thòng, mang lá song đính, không lông. Lá của nó dài, trơn và bóng loáng. Hoa có màu vàng ánh lục hoặc hồng, quăn như sao biển, và có tinh dầu có mùi thơm rất mạnh, nở từ tháng 11 đến tháng 12. Mỗi hoa cho ra một chùm quả, mỗi chùm quả chứa 10 - 12 hạt, giống như hạt na.

Tên gọi ylang-ylang có nguồn gốc từ tiếng Tagalog ilang-ilang, có nghĩa là "hoa của các loài hoa" mà không phải là để nói bóng gió tới mùi thơm dễ chịu của hoa hoàng lan.

Mùi thơm của hoa hoàng lan vừa nồng và đậm với các dấu vết của hoa cây cao su và món sữa trứng, đồng thời lại rực rõ với dấu vết của của hoa nhài và tinh dầu cam đắng (Citrus aurantium thứ amara hay Bigaradia). Tinh dầu hoa hoàng lan thu được bằng cách chưng cất nhờ hơi nước và tách ra thành các cấp khác nhau (extra; 1; 2; 3) tương ứng với việc chưng cất vào khi nào. Thành phần chính tạo ra mùi thơm của hoàng lan là mêtyl anthranilat.

Tinh dầu hoàng lan được dùng trong điều trị bằng xoa bóp dầu thơm, người ta tin rằng nó có thể làm giảm huyết áp cao, điều tiết các chất bã nhờn đối với các vấn đề về da, và cho rằng nó có tác dụng kích thích tình dục. Tinh dầu hoàng lan cũng được dùng rộng rãi trong công nghiệp sản xuất nước hoa theo phong cách phương Đông. Mùi hoàng lan pha trộn khá tốt với phần lớn các loại mùi cây cỏ, hoa quả và gỗ. Tại Indonesia, hoa hoàng lan được rải trên giường cưới của các đôi tân hôn.

Tinh dầu hoàng lan chiếm tới 29% xuất khẩu hàng năm của Comoros (số liệu năm 1998).
Tiêu đề: Re: Tinh dầu Việt Nam
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 02, 2009, 10:05:27 AM
4. HỌ APIACEAE (HỌ NGÒ, HOA TÁN)
4.1 THÌ LÀ

Tên khoa học: Anethum graveolens Linn
Phân bố: cây nhập, trồng chủ yếu lấy cành lá làm gia vị. Hiện nay được trồng phổ biến ở Đà Lạt (Lâm Đồng)
Bộ phận cho tinh dầu: lá, hạt (2,5-4%)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu lá:
limonen (19,2%); 1-phelandren (27,3%); phelandren (8,9%); dilapiol (6,1%)
+ Tinh dầu hạt: limonen (5,7%); 1-phelandren (25,0%); phelandren (25,%); dilapiol (19,1%); carvon (25,4%);...

(http://www.nationmaster.com/wikimir/images/upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/1/10/Illustration_Anethum_graveolens0.jpg/240px-Illustration_Anethum_graveolens0.jpg)

Wikipedia
Thì là chứa nhiều Vitamin C và chất xơ. Gần đây người ta còn cho rằng thì là có chứa một họat chất oxy hóa cực mạnh có thể giúp ngăn ngừa bệnh ung thư. Tuy nhiên nghiên cứu trên mới chỉ giới hạn trên động vật, chưa được thử nghiệm trên con người.

Theo Đông y, thì là có tính nóng, giúp quân bình và điều hoà khí âm dương, điều hoà thể trọng, giảm đau, giúp tiêu hóa và giúp sản phụ có nhiều sữa. [cần dẫn nguồn]

Ở Việt Nam nhất là ở các vùng phía Bắc, thì là được xem là gia vị không thể thiếu khi nấu các món canh cá nhất là các loài cá da trơn và có mùi tanh đậm.

Tinh dầu thì là được chưng cất chủ yếu từ hạt, được bán rộng rãi và được ưa chuộng dùng để xông hương, tạo ẩm, đặc biệt là pha vào nước để tắm, gội vì được cho rằng sẽ làm da và tóc mượt mà hơn...

Tiêu đề: Re: Tinh dầu Việt Nam
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 02, 2009, 10:31:18 AM
4.2 BẠCH CHỈ HÀNG CHÂU
Tên khoa học: Angelica dahurica (Hoofm.) Benth. & Hook.
Phân bố: cây nhập, trồng ở cả miền núi và đồng bằng
Bộ phận cho tinh dầu: rễ
Thành phần hóa học: β-pinen; mircen; α-phelandren; ∆3-caren, α-terponen; p-cimen; β-phelandren; α-terpinen; terpinolen; α-pinen; camphen; 4-vinilguaicol; β-elemen; cariophilen,...

(http://2.bp.blogspot.com/_iw3Vvd1jqmA/Rp6SnAB5a9I/AAAAAAAAAXU/AIiiiqP817k/s320/Angelica+dahurica.jpg)

http://www.thaythuoccuaban.com/vithuoc/bach%20chi.htm

Vị thuốc bạch chỉ còn gọi Bách chiểu, Chỉ hương, Cửu lý trúc căn, Đỗ nhược, Hòe hoàn, Lan hòe, Linh chỉ, Ly hiêu, Phương hương (Bản Kinh), Thần hiêu (Hòa Hán Dược Khảo), Bạch cự (Biệt Lục), Phù ly, Trạch phần (Ngô Phổ Bản Thảo), An bạch chỉ, Hàng bạch chỉ, Vân nam ngưu phòng phong, Xuyên bạch chỉ (Trung Dược Đại Từ Điển), Hưng an bạch chỉ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ  Điển), Hàng bạch chỉ, Hương bạch chỉ, Xuyên bạch chỉ   (Đông Dược HọcBạch chỉ, bachchi, bach chi,Angelica Dahurica Benth Thiết Yếu)

4.3 ĐƯƠNG QUY
Tên khoa học: Angelica sinensis (Oliv) Diels
Phân bố: cây được nhập vào trồng ở nước ta vào những năm 60. Hiện nay cây phát triển ở nhiều nơi.
Bộ phận cho tinh dầu: Rễ (0,15-0,2%)
Thành phần hóa học: p-cimen (4,2%); γ-terpinen; oxid linalil; linalol (2,3%); terpinen-4-ol (1,2%); α-terpineol (1,1%); acetat dodecil (4,5%); eugenol; timol;...

(http://www.lrc-hueuni.edu.vn/dongy/thuocdongy/anh/DuongQuy.gif)

4.4 CẦN TÂY
Tên khoa học:
Apium graveolens Linn
Phân bố: cây mọc hoang dại, cũng được trồng để làm gia vị
Bộ phận cho tinh dầu: phần trên mặt đất (0,1%), trái (2-6%)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu trái:
limonen (72,2%); β-selinen (12,2%);...
Công dụng: tinh dầu làm hương liệu trong công nghiệp thực phẩm

(http://www.iptek.net.id/ind/pd_tanobat/gambar/seledri.jpg)

(http://2.bp.blogspot.com/_6Cc_6h_IJ2U/Sae3l4tNlMI/AAAAAAAAAGc/oc5mVoPlXD0/s200/telina2.jpg)

Tham khảo:
Trần Thị Phụng, Lê Ngọc Thạch, Lê Thanh Hải. Khảo sát tinh dầu cây cây cần tàu, Apium graveolens L.. Tóm tắt báo cáo, Hội nghị Khoa học Đại học Khoa học Tự nhiên lần thứ 4, 21/10/2004, 147 (2004).
Tiêu đề: Re: Tinh dầu Việt Nam
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 02, 2009, 12:37:28 PM
4.5 NGÒ (MÙI)
Tên khoa học: Coriandrum sativum Linn
Phân bố: được trồng khắp nơi để lấy lá làm gia vị, lấy cành, quả và hoa nấu nước tắm cho thơm.
Bộ phận cho tinh dầu: lá; trái (0,4-2%)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu trái:
d-linalol (55-74%); coriandrol; oxid linalil; α-terpineol; citronelol;...
+ Tinh dầu lá: decanal; nonanal; linalol
Công dụng: tinh dầu là nguồn cung cấp linalol

(http://www.botanical.com/botanical/mgmh/c/corian99-l.jpg)

(http://www.pharm.chula.ac.th/physiopharm/2542_sem1/group4/coriander.jpg)
Tiêu đề: Re: Tinh dầu Việt Nam
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 02, 2009, 10:18:23 PM
4.6 CÀ RỐT
Tên khoa học:
Daucus carota Linn
Phân bố: cây nhập, trồng từ lâu để lấy củ ăn
Bộ phận cho tinh dầu: phần trên mặt đất, trái (0,8-1,6%)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu phần trên mặt đất:
sabinen (10,9%); mircen (7,5%); elemincin (3,0%); carvon (8,8%); bíabolen (7,4%); linalol (14,9%); acetat linalil (8,3%),...
+ Tinh dầu trái: carotol, daucol; β-bisabolen
Công dụng: tinh dầu có tính sát khuẩn mạnh

(http://www.google.com.vn/images?q=tbn:0AvzZX_vfBghmM::vietnews.com/files/news/upload_499ca98f0fb62.jpg)

(http://www.google.com.vn/images?q=tbn:Yi_sToKZp1yqpM::lifestyle.vzone.vn/Resources/2009_01_02/1390/carot(tintuconline).jpg)

4.7 NGÒ GAI
Tên khoa học:
Eryngium foetidum Linn
Phân bố: cây mọc hoang dã khắp nơi, nhiều ở vùng ẩm mát, vùng đồi núi. Còn được trồng phổ biến để làm gia vị.
Bộ phận cho tinh dầu: phần trên mặt đất (0,087-0,11%)
Thành phần hóa học: dodecenal (4%); trán-2-dodecenal (66,7%); 1-dodecanol (7,6%),..

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/77/Hombay3.jpg)

Wikipedia
Mùi tàu hay ngò gai hoặc ngò tây (phương ngữ miền Nam), tên khoa học là Eryngium foetidum, thuộc họ Hoa tán. Cây này có nguồn gốc ở châu Mỹ.

Ngò gai là cây cỏ thấp, có thân đơn độc, chia cành ở ngọn, hoa quả mọc ở cành. Lá mọc ở gốc, xoè ra hình hoa thị. Lá hình mác thuôn dài, bìa có răng cưa nhỏ. Hoa tự, hình đầu, hình bầu dục, hoặc hình trụ. Khi trưởng thành, hạt rụng và phát tán.

Lá ngò gai có mùi thơm dễ chịu. Trong bát phở có lá ngò tươi giúp ăn ngon miệng. Trong nồi canh chua nấu cá có lá ngò làm mất mùi tanh. Người có bệnh đái tháo đường được cho là nên ăn lá ngò trong bữa ăn vì lá ngò gai có tác dụng làm giảm đường huyết.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/b/b2/Cayngotau.jpg/120px-Cayngotau.jpg)

4.8 TIỂU HỒI
Tên khoa học:
Foeniculum vulgare Linn
Phân bố: cây nhập nhưng không phát triển mạnh
Bộ phận cho tinh dầu: lá, hoa, trái (0,5-0,6%)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu lá:
eugenol
+ Tinh dầu hoa: eugenol
+ Tinh dầu trái: anetol (50-60%); estragol; camphen; metileugenol

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/7/7e/Eugenol_acsv.svg/200px-Eugenol_acsv.svg.png)
eugenol
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/88/Anethole.svg/100px-Anethole.svg.png)
anetol
(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e9/Estragole.png/60px-Estragole.png)
estragol
Estragol hay p-allylanisol hoặc mêtyl chavicol là một hợp chất hữu cơ nguồn gốc tự nhiên. Cấu trúc hóa học của nó bao gồm một vòng benzen được thay thế bởi một nhóm mêtôxy và một nhóm prôpenyl. Estragol là đồng phân liên kết đôi của anethol. Ở điều kiện bình thường, nó là một chất lỏng từ không màu tới vàng nhạt. Nó là thành phần chủ yếu của tinh dầu ngải giấm và chiếm từ 60-75% tinh dầu của cây này. Nó cũng được tìm thấy trong tinh dầu thông và nhựa thông.
Estragol được sử dụng trong sản xuất nước hoa và phụ gia thực phẩm để tạo mùi.

(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/8/83/Camphen.svg/120px-Camphen.svg.png)
Camphen
Tiêu đề: Re: Tinh dầu Việt Nam
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 02, 2009, 10:33:05 PM
4.8 CẦN
Tên khoa học:
Oenanthe javanica DC
Phân bố: Cây mọc hoang dại nơi ẩm mát và thường được trồng làm gia vị
Bộ phận cho tinh dầu: toàn cây, hạt
Thành phần hóa học: phelandren

(http://www.g-netz.de/Health_Center/heilpflanzen/zzwirkstoffe/images/alpha-phelandren.jpg)

(http://i33.photobucket.com/albums/d79/atran6/RauCan0.jpg)

(http://lifestyle.vzone.vn/Resources/2008_09_18/483/A4parsle.jpg)

4.10 KHỒM
Tên khoa học:
trachyspermum roxburghianum (DC.) Craib
Phân bố: cây mọc hoang dại nhiều nơi ở các tỉnh phía Bắc vào đến Khánh Hòa
Bộ phận cho tinh dầu: hạt
Thành phần hóa học: d-limonen; α-terpinen; dipenten; d-linalol; terpineol; dl-piperiton; timol;...

(http://tbn0.google.com/images?q=tbn:0p2krXZUB3gGHM:http://life.bio.sunysb.edu/ee/geeta/radhuniB.JPG)
Tiêu đề: Re: Tinh dầu Việt Nam
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 04, 2009, 12:51:15 AM
5. HỌ ARACEAE (HỌ MÔN)
5.1 XƯƠNG BỒ (THẠCH XƯƠNG HỒ)

Tên khoa học: Acorus verus Houtt
Đồng danh: Acorus calamus Linn.var.angustatus Boss
Phân bố: cây mọc dại hoặc trồng ở nhiều vùng nông thôn trong nước: Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Trị, Lâm Đồng,...
Bộ phận cho tinh dầu: căn hành (1,4-4,8%)
Thành phần hóa học: camphor; cis-metilisoeugenol (15,3%); α-asaron(2,8%); β-asaron (82,1%);...

5.2 THẠCH XƯƠNG BỒ NHỎ
Tên khoa học: Acorus gramineus Soland
Phân bố: cây mọc hoang dại ở các bờ suối, trên kẽ đá có nước chảy vùng trung du miền Bắc. Ở miền Nam cũng có gặp những ít hơn.
Bộ phận cho tinh dầu: căn hành (1,0-2,2%)
Thành phần hóa học: α-asaron; β-asaron; aluzen; camphen; borneol; camphor; cis-metil isoeugenol; δ-cadien;...
Công dụng: tinh dầu giúp trừ hen, trừ co thắt phế quán và hồi tràn (trên chuột)

5.3 THIÊN NIÊN KIỆN
Tên khoa học:
Homalomena occulta (Lour.) Schoot.
Phân bố: cây ưa ẩm, ưa bóng mát, sống trong các rừng ẩm, chân núi đá vôi, ở dưới bóng cây khác. Gặp ở nhiều nơi trong nước ta.
Bộ phận cho tinh dầu: căn hành (0,8-1%, phơi héo)
Thành phần hóa học: linalol (56,8%); 4-terpinenol; aldehid propionic; aldehid butiric; 3-caren; sabinen; limonen; α-terpinen; β-terpinen; α-terpineol; γ-terpineol;...

http://forum.ctu.edu.vn/viewtopic.php?t=6023&sid=65d5c222eda1d5f74e9bbd0fc3028ff0

Họ Ráy Araceae có khoảng 150 loài ở VN trong đó có nhiều loài được nhập trồng làm kiểng. Họ này gồm những cây thảo có thân rễ hình củ, thân nạc hoặc dây leo bám. Hoa có dạng mo đặc trưng.

Sau đây là một số loài thông thường :

1. Acorus verus Houtt. : Thạch xương bồ, Bồ bồ
Cây trồng làm thuốc trong nồi lá xông

(http://static.flickr.com/81/266490246_fc2c72d3b8_o.jpg)

2. Aglaodorum griffithii (Schott.) Schott. : Mái dầm
Cây rất thường gặp mọc hoang dại ven bờ sông vùng có thủy triều

(http://static.flickr.com/93/266490249_9c2b2ecaec_o.jpg)

hoa

(http://static.flickr.com/122/266490251_ae5a89859d_o.jpg)

3. Aglaonema communtatum Schott. cv. pseudobracteatum Hort. : Minh ty trắng
Cây trồng kiểng

(http://static.flickr.com/121/268674939_2518b39e5e_o.jpg)

4. Aglaonema costatum (Nutt.) N.E. Brown. : Minh ty sóng
Cây trồng kiểng

(http://static.flickr.com/92/268674943_668cec68f7_o.jpg)
(Hình này không chắc chắn là loài Minh ty này hay không)

5. Aglaonema hybrid : Minh ty rằn
Loài này không rõ tên Latin, rất gần với Aglaonema siamense Engl., thấy mấy trang web khác ghi là loài lai (hybrid)

(http://static.flickr.com/105/268674945_a2bd8956c7_o.jpg)

6. Alocasia macrorrhiza (L.) Schott. : Ráy voi

(http://static.flickr.com/97/266490260_7e9d42398d_o.jpg)

hoa

(http://static.flickr.com/117/266490262_e3f14fb4b1_o.jpg)

7. Alocasia odora (Roxb.) C. Koch : Môn Bạc hà, Dọc mùng
Cây trồng lấy bẹ lá nấu canh chua

(http://static.flickr.com/99/266491870_0ab40d856c_o.jpg)

8. Amorphophallus konjac K. Koch : Nưa, Khoai nưa
Cây này đặc biệt có thân lốm đốm loang lổ trông giống da con trăn

(http://static.flickr.com/95/266491876_94ec8a2798_o.jpg)

9. Anthurium andreanum Lindl. : Hồng môn, Vĩ hoa tròn
Loài hoa kiểng trồng nhiều ở Đà Lạt

(http://static.flickr.com/87/266491877_df801d1fc5_o.jpg)

màu hồng
(http://static.flickr.com/83/266491878_873161ec5f_o.jpg)

10. Anthurium scherzerianum Schott. : Vĩ hoa thon, Hồng môn (vặn)

(http://static.flickr.com/104/266491881_0d4ff10fdb_o.jpg)

11. Caladium bicolor (Ait.) Vent. : Môn đốm

(http://static.flickr.com/84/266493440_9e1760facf_o.jpg)

12. Colocasia esculenta (L.) Schott. : Môn nước, Khoai môn

(http://static.flickr.com/121/266491882_41ccda1192_o.jpg)

13. Dieffenbachia amoena Hort. : Môn trường sinh

(http://static.flickr.com/90/266490254_e303e5a054_o.jpg/img]

14. Epipremnum giganteum Schott. : Thượng cán
Loài trong tự nhiên có lá rất lớn, trong hình là một giống có lá nhỏ màu lục tươi trồng trang trí như dây Trầu bà

[img]http://static.flickr.com/86/268674946_519537a37b_o.jpg)

15. Epipremnum pinatum (L.) Schott. : Ráy ngót, Ráy leo lá rách

(http://static.flickr.com/99/266493445_f392ba2867_o.jpg)

hoa

(http://static.flickr.com/104/266493448_a0952a91ba_o.jpg)

16. Epipremnum pinatum (L.) Engler cv. aureum Nichol. : Trầu bà vàng

(http://static.flickr.com/82/266493451_54fd1c48d9_o.jpg)

có loại lá rất lớn
(http://static.flickr.com/101/268674948_c4d75be0e7_o.jpg)

17. Lasia spinosa (L.) Thw. : Chóc gai
Cây mọc hoang dại ven bờ nước, có 2 loại
Loại lá xẻ

(http://static.flickr.com/86/266493453_35575e711a_o.jpg)

loại lá mác

(http://static.flickr.com/81/266493456_6a41362e7e_o.jpg)

hoa

(http://static.flickr.com/91/266495078_dc8ce5f4ce_o.jpg)

18. Philodendron erubescens Koch et Augustin : Hồng diệp môn

(http://static.flickr.com/52/266495084_7d835bb67c_o.jpg)

hoa
(http://static.flickr.com/98/266495090_ac5711de9d_o.jpg)

19. Philodendron pinnatifidum (Jacq.) Schott. : Ráy Mỹ kiểng
Có 3 loài : P. bipinnatifidum, P. pinnatifidum, P. xanadu rất giống nhau theo như hình trên các trang web khác, đây là loài cây mới nhập trồng kiểng, không thấy mô tả trong các sách thực vật VN nên không rõ phân biệt ra sao

(http://static.flickr.com/97/266495095_cc4c2a7120.jpg)

20. Philodendron sp. : Ráy Mỹ leo
chưa tìm được tên Latin

(http://static.flickr.com/85/268674950_9a030c344a_o.jpg)

21. Pistia stratoides L. : Bèo cái

(http://static.flickr.com/106/266495099_7e5075ae21_o.jpg)

22. Pseudocracontium lacourii N.E. Br. : Nưa Lacour
Cây này tôi gặp khi đi chơi trên núi Nhỏ - Vũng Tàu, không nhằm mùa cây ra hoa

(http://static.flickr.com/79/266495102_fc00b5c29e_o.jpg)

23. Scindapsus officinalis (Roxb.) Schott. : Dây Bá

(http://static.flickr.com/115/266496550_ac1790c008_o.jpg)

24. Spathiphyllum patinii N.E. Br. : Buồm trắng, Bạch diệp, Bạch phiến

(http://static.flickr.com/96/266496551_4eeda43354_o.jpg)

25. Syngonium macrophyllum Engl. : Chóc leo

(http://static.flickr.com/106/266496553_56a93404b6_o.jpg)

hoa (mo đã héo)

(http://static.flickr.com/88/266496557_bc30ccef2c_o.jpg)

26. Syngonium podophyllum Schott. var. “Imperial white” Hort. : Chóc bạc

(http://static.flickr.com/88/266496559_37fb346bbc_o.jpg)

27. Typhonium flagelliforme (Lodd.) Bl. : Bản hạ roi

(http://static.flickr.com/80/266496561_6e1b708173_o.jpg)
chi tiết hoa xé ra

(http://static.flickr.com/122/268679366_b821cbd0c3_o.jpg)

28. Typhonium trilobatum (L.) Schott. : Bản hạ 3 thùy, Chóc

(http://static.flickr.com/87/266497580_57d401be22_o.jpg)

29. Zamioculcas zamiifolia (G. Lodd.) Engler : Kim phát tài
Loài cây gốc Phi Châu nhập trồng làm kiểng, chịu được ánh sáng yếu trong nhà

(http://static.flickr.com/85/266497583_518ac8158e_o.jpg)

30. Zantedeschia aethiopica (L.) Spreng : Arum, Vân môn, Hoa kèn
thông thường là loài có hoa màu trắng

(http://static.flickr.com/92/266497584_eacb9054cb_o.jpg)

có loài hoa màu vàng, màu hồng

(http://static.flickr.com/80/266497588_d02d2306b9_o.jpg)


Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 10:40:50 PM
Sả còn có tên gọi: Cỏ sả, lá sả, sả chanh, hương mao.
Tên khoa học: Cymbopogon Citratus (DC) Stapf, thuộc họ lúa – Poaceae. Chi Sả(danh pháp khoa học: Cymbopogon) là một chi chứa khoảng 55 loài
Phân loại khoa học:
Giới (regnum):Plantae
Ngành (divisio):Magnoliophyta
Lớp (class): Liliopsida
Bộ (ordo):  Poales
Họ (familia): Poaceae
Chi (genus): Cymbopogon
Cymbopogon nardus Rendl (Sả), cymbopogon flexuosus Stapf (Sả chanh), ngoài ra còn có loại sả chanh Pragatti có nguồn gốc từ Ấn Độ (hiện Trung tâm y tế huyện An Lão (Bình Định) có trồng 3 ha loại sả chanh này, có bụi nặng trên 3kg để chưng cất lấy tinh dầu). Sả là loại cây sống lâu năm, mọc thành bụi cao từ 0,8-1,5m.
Ở vùng đất có độ ẩm cao, ráo, ít nước, sả có thể cao gần 2m. Thân, rễ màu trắng tím. Lá giống lá lúa. Cụm hoa có nhiều bông nhỏ không cuống. Toàn cây sả có mùi thơm rất đặc biệt. Sả trồng dùng làm thuốc ít phân biệt giống sả này với sả khác. Nhưng nếu chọn sả để cất tinh dầu, có hai giống sả cho tinh dầu đạt giá trị khác nhau.
1. Nhóm sả cho tinh dầu với thành phần chủ yếu là Citronellal và Genariola (citronnelle), trong nhóm này có loài Cymbopogon Winiterianus, Cymbopogon nardus (L) Rendl (Andropogon nardus L) hàm lượng tinh dầu cao và chất lượng tốt nhất, sau đó đến cây sả Cymbopogon confertiflorus Stapf cho ít tinh dầu hơn, chất lượng cũng kém hơn.
2. Nhóm sả cho tinh dầu với thành phần chủ yếu là Xitrala (Lemon Grass-Verveine des Indes) có mùi chanh rất rõ. Đứng đầu nhóm này là sảCymbopogon Flexuosus Stapf (Andropogon flexuosus Ness), sau đó đến loài Cymbopogon Citratus Stapf (Andropogon Schoenanthus L).
Ngoài hai nhóm này, còn có loại sả cho tinh dầu với thành phần khác hẳn, như sả Cymbopogon martinii (Roxb) Wats, loại motia cho tinh dầu gọi là Essence Palma rosa hay Gera nium des Indes, chứa tới 75-95% geraniola, còn loại Sofia cho một thứ tinh dầu không có geraniola mà chỉ có Ancol Perilic.
Cây sả rất phổ biến ở nước ta. Hiện đã có nhiều nơi đưa giống sả có năng suất lá cao và bông nhiều trồng đại trà để chưng cất tinh dầu, sử dụng trong nước và xuất khẩu. Sả phát triển tốt ở nơi đất xốp, thô, có độ ẩm cao, chịu mát và ít nước, mỗi tháng chỉ 2-3 lần tưới. Trồng sả đại trà phải đúng kỹ thuật, nếu trồng dày sẽ gây thiếu ánh sáng quang hợp, trồng thưa sẽ bị cỏ xâm lấn, hút hết “đạm” trong lòng đất, lá sả sẽ khô, còi, sâu, vàng úa. Cách trồng đem lại hiệu quả cao nhất là nên trồng hàng cách hàng 0,8m cây cách cây 0,7m.
1- CÁC LOẠI SẢ
   Cymbopogon ambiguus: sả Australia, cỏ hương chanh Úc (nguồn gốc Australia)
   Cymbopogon bombycinus: cỏ dầu lụa (nguồn gốc Australia)
   Cymbopogon citratus (đồng nghĩa: Andropogon citratus): sả, sả Tây Ấn, cỏ Ninh Mông, cỏ hương mao.
   Cymbopogon citriodora: sả Tây Ấn
   Cymbopogon exaltatus (đồng nghĩa Andropogon exaltatus): sả Úc
   Cymbopogon flexuosus (đồng nghĩa Andropogon flexuosus): sả Đông Ấn, cỏ hương mao, á hương mao Ấn Độ, cỏ Ninh Mông, hương thảo Ninh Mông
   Cymbopogon jwarancusa (đồng nghĩa: Andropogon jwarancusa): nê bạc nhĩ thảo (Trung Quốc)
   Cymbopogon jwarancusa x Cymbopogon nardus thứ confertiflorus (đồng nghĩa: Andropogon jwarancusa x Andropogon confertiflorus): cỏ mân khôi
   Cymbopogon martini (đồng nghĩa: Andropogon martini, Andropogon schoenanthus thứ martinii): cỏ mân côi, cỏ phong lữ, cỏ dầu Palmarosa
•   Cymbopogon martinii thứ martinii (đồng nghĩa: Cymbopogon martinii thứ motia): phong lữ Đông Ấn, cỏ phong lữ, phong lữ Thổ
•   Cymbopogon martinii thứ sofia: cỏ gừng
   Cymbopogon nardus (đồng nghĩa: Andropogon nardus, Cymbopogon afronardus, Cymbopogon validus): sả, á hương mao
   Cymbopogon obtectus Silky-heads (nguồn gốc Australia)
   Cymbopogon procerus (nguồn gốc Australia)
   Cymbopogon refractus (đồng nghĩa: Andropogon refractus): cỏ xà phòng
   Cymbopogon schoenanthus (đồng nghĩa: Andropogon schoenanthus): cỏ lạc đà, sả Madagascar
   Cymbopogon tortilis: og(k)arukaya (Nhật Bản)
   Cymbopogon winterianus: sả, hương mao Java, hương mao Nam Mỹ
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 10:41:56 PM
1- Độ chín
Nguyên liệu được khảo sát khi củ sả căng mọng, màu xanh đậm ở lá. Thân cứng không mềm. Khi đó sả ổn định về lượng tinh dầu.
2- Độ tươi
Nguyên liệu bị khô, dập, úng,…sẽ cũng ảnh hưởng đến hàm lượng và chất lượng tinh dầu. Nên tránh để dồn đống nguyên liệu đưa đến sự phát nhiệt bên trong làm thối rữa nguyên liệu. Cần phơi héo nguyên liệu thích hợp, tốt nhất phơi héo trong bóng mát vì nếu nhiệt độ lên quá 400C một số cấu phần trong tinh dầu sẽ bay hơi.
Độ héo có ảnh hưởng rất lớn đến tính kinh tế của việc ly trích tinh dầu, nhất là trong phương pháp chưng cất bằng hơi nước. Nhưng độ héo cũng ảnh hưởng đến hàm lượng và chất lượng tinh dầu. Do đó, nếu để nguyên liệu héo trong một thời gian dài sẽ đưa đến giảm khối lượng tinh dầu chứa trong nguyên liệu. Mặt khác, việc này cũng sẽ dẫn đến một số cấu phần không bền trong tinh dầu bị phân hủy làm cho tinh dầu thu được không còn chất lượng tự nhiên. Do đó, trước khi ly trích tinh dầu, nguyên liệu cần được phơi héo, cần phải khảo sát hiệu suất và thành phần hóa học của tinh dầu theo thời gian để héo để biết cần để héo trong thời gian bao nhiêu lâu là thích hợp nhất.
3- Độ sạch
Nguyên liệu càng sạch thì chất lượng tinh dầu thu được càng cao. Do đó khi ly trích cần phải làm sạch, loại bỏ bẩn, các đối tượng không phải nguyên liệu cần ly trích ra khỏi nguyên liệu, không được để lẫn vào.

Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 10:44:26 PM
1-  PHƯƠNG PHÁP CHƯNG CẤT HƠI NƯỚC
Phương pháp này dựa trên sự thẩm thấu, hòa tan, khuếch tán và lôi cuốn theo hơi nước của những hợp chất hữu cơ trong tinh dầu chứa các mô khi tiếp xúc với hơi nước ở nhiệt độ cao.
Sự khuếch tan sẽ dễ dàng khi tế bào chứ tinh dầu trương phồng do nguyên liệu tiếp xúc với hơi nước bão hòa trong một thời gian nhất định
1.1 Lý thuyết chưng cất
Chưng cất có thể được định nghĩa là: ”Sự tách rời các cấu phần của một hỗn hợp nhiều chất lỏng dựa trên sự khác biệt về áp suất hơi của chúng”. Trong trường hợp đơn giản, khi chưng cất một hỗn hợp gồm 2 chất lỏng không hòa tan vào nhau, áp suất hơi tổng cộng là tổng của hai áp suất hơi riêng phần. Do đó, nhiệt độ sôi của hỗn hợp sẽ tương ứng với áp suất hơi tổng cộng xác định, không tùy thuộc vào thành phần bách phân của hỗn hợp, miễn là lúc đó hai pha lỏng vẫn còn tồn tại. Nếu vẽ đường cong áp suất hơi của từng chất theo nhiệt độ, rồi vẽ đường cong áp suất hơi tổng cộng, thì ứng với một áp suất, ta dễ dàng suy ra nhiệt độ sôi tương ứng của hỗn hợp và nhận thấy là nhiệt độ sôi của hỗn hợp luôn luôn thấp hơn nhiệt độ sôi của từng hợp chất. Thí dụ, ở áp suất 760 mmHg nước sôi ở 100oC và benzen sôi ở 80oC và chúng là hai chất lỏng không tan vào nhau. Thực hành cho thấy, nếu đun hỗn hợp này dưới áp suất 760 mmHg nó sẽ sôi ở 69oC cho đến khi nào còn hỗn hợp hai pha lỏng với bất kì tỉ lệ nào. Giản đồ nhiệt độ sôi theo áp suất cho thấy, tại 69oC, áp suất hơi của nước là 225 mmHg và benzen là 535 mmHg.
Chính vì đặc tính làm giảm nhiệt độ sôi này mà từ lâu phương pháp chưng cất hơi nước là phương pháp đầu tiên dùng để tách tinh dầu ra khỏi nguyên liệu thực vật.
1.2- Những ảnh hưởng chính trong sự chưng cất hơi nước
Sự khuếch tán
Ngay khi nguyên liệu được làm vỡ vụn thì chỉ có một số mô chứa tinh dầu bị vỡ và cho tinh dầu thoát tự do ra ngoài theo hơi nước lôi cuốn đi. Phần lớn tinh dầu còn lại trong các mô thực vật sẽ tiến dần ra ngoài bề mặt nguyên liệu bằng sự hòa tan và thẩm thấu. Von Rechenberg đã mô tả quá trình chưng cất hơi nước như sau: “Ở nhiệt độ nước sôi, một phần tinh dầu hòa tan vào trong nước có sẵn trong tế bào thực vật. Dung dịch này sẽ thẩm thấu dần ra bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước cuốn đi. Còn nước đi vào nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh dầu lại tiếp tục bị hòa tan vào lượng nước này. Quy trình này lặp đi lặp lại cho đến khi tinh dầu trong các mô thoát ra ngoài hết”.
Như vậy, sự hiện diện của nước rất cần thiết, cho nên trong trường hợp chưng cất sử dụng hơi nước quá nhiệt, chú ý tránh đừng để nguyên liệu bị khô. Nhưng nếu lượng nước sử dụng thừa quá thì cũng không có lợi, nhất là trong trường hợp tinh dầu có chứa những cấu phần tan dễ trong nước.
Ngoài ra, vì nguyên liệu được làm vỡ vụn ra càng nhiều càng tốt, cần làm cho lớp nguyên liệu có một độ xốp nhất định để hơi nước có thể đi xuyên ngang lớp này đồng đều và dễ dàng.
Vì các cấu phần trong tinh dầu được chưng cất hơi nước theo nguyên tắc nói trên cho nên thông thường những hợp chất nào dễ hòa tan trong nước sẽ được lôi cuốn trước. Thí dụ, khi chưng cất hơi nước hạt caraway nghiền nhỏ và không nghiền, đối với hạt không nghiền thì carvon (nhiệt độ sôi cao nhưng tan nhiều trong nước) sẽ ra trước, còn limonen (nhiệt độ sôi thấp, nhưng ít tan trong nước) sẽ ra sau. Nhưng với hạt caraway nghiền nhỏ thì kết quả chưng cất ngược lại.
Sự thủy giải
Những cấu phần ester trong tinh dầu thường dễ bị thủy giải cho ra acid và alcol khi đun nóng trong một thời gian dài với nước. Do đó, để hạn chế hiện tượng này, sự chưng cất hơi nước phải được thực hiện trong một thời gian càng ngắn càng tốt.
Nhiệt độ
Nhiệt độ cao làm phân hủy tinh dầu. Do đó, khi cần thiết phải dùng hơi nước quá nhiệt (trên 100oC) nên thực hiện việc này trong giai đoạn cuối cùng của sự chưng cất, sau khi các cấu phần dễ bay hơi đã lôi cuốn đi hết. Thực ra, hầu hết các tinh dầu đều kém bền dưới tác dụng của nhiệt nên vấn đề là làm sao cho thời gian chịu nhiệt độ cao của tinh dầu càng ngắn càng tốt.
Tóm lại, dù ba ảnh hưởng trên được xem xét độc lập nhưng thực tế thì chúng có liên quan với nhau và quy về ảnh hưởng của nhiệt độ. Khi tăng nhiệt độ, sự khuếch tán thẩm thấu sẽ tăng, sự hòa tan tinh dầu trong nước sẽ tăng nhưng sự phân hủy cũng tăng theo.
Trong công nghiệp, dựa trên thực hành, người ta chia các phương pháp chưng cất hơi nước ra thành ba loại chính:
- Chưng cất bằng nước.
- Chưng cất bằng nước và hơi nước
- Chưng cất bằng hơi nước.
1.3- Phương pháp chưng cất bằng nước
Trong trường hợp này, nước phủ kín nguyên liệu, nhưng phải chừa một khoảng không gian tương đối lớn phía bên trên lớp nước, để tránh khi nước sôi mạnh làm văng chất nạp qua hệ thống hoàn lưu. Nhiệt cung cấp có thể đun trực tiếp bằng củi lửa hoặc bằng hơi nước dẫn từ nồi hơi vào (sử dụng bình có hai lớp đáy). Trong trường hợp chất nạp quá mịn, lắng chặt xuống đáy nồi, lúc đó nồi phải trang bị những cánh khuấy trộn đều bên trong trong suốt thời gian chưng cất.
Sự chưng cất này không thích hợp với những tinh dầu dễ bị thủy giải. Những nguyên liệu xốp và rời rạc rất thích hợp cho phương pháp này. Những cấu phần có nhiệt độ sôi cao, dễ tan trong nước sẽ khó hóa hơi trong khối lượng lớn nước phủ đầy, khiến cho tinh dầu sản phẩm sẽ thiếu những chất này. Thí dụ điển hình là mùi tinh dầu hoa hồng thu được từ phương pháp chưng cất hơi nước kém hơn sản phẩm tẩm trích vì eugenol và ancol phenetil nằm lại trong nước khá nhiều, vì thế người ta chỉ dùng phương pháp này khi không thể sử dụng các phương pháp khác.
Ưu và khuyết điểm
   Ưu điểm:
- Quy trình kỹ thuật tương đối đơn giản.
- Thiết bị gọn, dễ chế tạo.
- Không đòi hỏi vật liệu phụ như các phương pháp tẩm trích, hấp thụ.
- Thời gian tương đối nhanh.
   Khuyết điểm:
- Không có lợi đối với những nguyên liệu có hàm lượng tinh dầu thấp.
- Chất lượng tinh dầu có thể bị ảnh hưởng nếu trong tinh dầu có những cấu phần dễ bị phân hủy.
- Không lấy được các loại nhựa và sáp có trong nguyên liệu (đó là những chất định hương thiên nhiên rất có giá trị).
- Trong nước chưng luôn luôn có một lượng tinh dầu tương đối lớn.
- Nhưng tinh dầu có nhiệt độ sôi cao thường cho hiệu suất rất kém.
Thu hồi thêm tinh dầu từ nước chưng
Thường tinh dầu trong nước chưng nằm dưới hai dạng phân tán và hòa tan. Dạng phân tán thì có thể dùng phương pháp lắng hay ly tâm, còn dạng hòa tan thì phải chưng cất lại. Nếu trọng lượng riêng của tinh dầu và nước quá gần nhau thì có thể thêm NaCl để gia tăng tỉ trọng của nước làm tinh dầu tách ra dễ dàng.
Trong phòng thí nghiệm, để chưng cất hơi nước tinh dầu, người ta thường dùng bộ dụng cụ thủy tinh Clevenger (hình vẽ phần phụ lục) với hai loại ống hứng tinh dầu, tùy theo tinh dầu nặng hay nhẹ
Quy trình chưng cất tinh dầu bằng phương pháp cổ điển:
Trước khi sản xuất cần kiểm tra thật cẩn thận thiết bị chưng cất, chú ý cổ bình cầu và ống trích ly có bị nứt mẻ hay không, có kín không, phần ngưng tụ có bị tắc, rò rỉ không, sau đó tiến hành làm vệ sinh thiết bị.
Ba công đoạn cơ bản của quá trình chưng cất tinh dầu (chưng cất gián đoạn) gồm: nạp liệu, chưng cất, tháo bả.
   Nạp liệu:
Nguyên liệu từ kho bảo quản được nạp vào thiết bị, có thể làm ẩm nguyên liệ trước khi nạp vào thiết bị để thuận lợi cho quá trình chưng cất. Việc nạp liệu có thể thực hiện bằng thủ công hoặc cơ giới, có thể nạp trực tiếp vào thiết bị hoặc nạp gián tiếp qua một giỏ chứa rồi cho vào thiết bị bằng tời hoặc cẩu. Nguyên liệu nạp vào thiết bị không được chặt quá làm cho hơi khó phân phối đều trong toàn bộ khối nguyên liệu và không được quá lỏng, quá xốp sẽ làm cho hơi dễ dàng theo những chỗ rỗng đi ra mà không tiếp xúc với toàn khối nguyên liệu. Đối với nguyên liệu lá, cỏ khi cho vào thiết bị có thể nén chặt, trước khi nén nên xổ tung để tránh hiện tượng rỗng cục bộ. Nạp liệu xong đóng chặt mặt bích nối thiết bị với nắp, nên vặn chặt theo nguyên tắc đối nhau để nắp khỏi chênh.
   Chưng cất:
 Khi bắt đầu chưng cất, mở van hơi cho hơi vào thiết bị, lúc đầu mở từ từ để đuổi không khí trong thiết bị và làm cho hơi phân phối đều trong toàn bộ khối nguyên liệu. Ngoài ra, mở từ từ van hơi để nguyên liệu không bị cuốn theo hơi gây tắc ống dẫn hỗn hợp hơi.
Trong quá trình chưng cất, cần chú ý điều chỉnh nhiệt độ dịch ngưng sao cho nằm trong khoảng 30-4000C (bằng cách điều chỉnh tốc độ nước làm lạnh) vì nếu dịch ngưng quá nóng sẽ làm tăng độ hòa tan của tinh dầu vào nước và làm bay hơi tinh dầu. Để kiểm tra quá trình chưng cất kết thúc chưa người ta có thể dùng một tấm kính hứng một ít dịch ngưng, nếu thấy trên tấm kính còn váng dầu thì quá chưng cất chưa kết thúc.
   Tháo bả:
Sau khi chưng cất xong không nên tháo bã liền mà phải để cho hệ thống hạ bớt nhiệt độ sau đó mới tiến hành tháo bả. Sau khi tháo bả phải làm sạch thiết bi. Bởi vì tinh dầu dễ hấp thụ mùi lạ nên thiết bị chưng cất phải được làm vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt khi thay đổi nguyên liệu cần phải làm vệ sinh thiết bị thật kỹ lưỡng sau khi tháo bã để không còn mùi của nguyên liệu trước và thông thường trong tinh dầu chứa các axit hữu có sẽ gây ăn mòn thiết bị, do đó khi ngừng sản xuất phải tháo hết nước ngưng tụ và làm khô thiết bị.
Hỗn hợp tinh dầu và nước được cho vào thiết bị phân ly. Sau phân ly ta được tinh dầu thô và nước chưng. Tinh dầu thô được xử lý để được tinh dầu thành phẩm, nước chưng cho ra bể tiếp tục phân ly để thu tinh dầu loại II.
   Quy trình sản xuất .
Nguyên liệu là củ,lá sả tươi đạt độ chín kỹ  10 cmthuật, tức là lúc đầu lá (tính từ ngoài vào) đã khô từ 5cm thì thu hoạch, sau khi cắt xong củ,lá sã được phơi héo đến độ ẩm còn 50 % so với ban đầu. Ở độ ẩm này, củ và lá sã bảo quản được một số ngày ở nơi cất, hơn nữa,khi chưng cất củ, lá sả héo sẽ giảm được 35 % nhiên liệu và 27 % thời gian chưng cất. Trước khi đưa nguyên liệu vào nồi cất, cần chú ý loại các tạp chất như cỏ rác lẫn vào trong quá trình thu hái. Nguyên liệu 500g và 1lit nước.Còn cồn ta thêm từ 1ml đến 10ml tùy theo số lần chưng cho vào bình cầu 2lit. Nguyên liệu nạp vào thiết bị phải đảm bảo từ 2/3 thể tích bình cầu, thời gian chưng cất từ 2÷2,5 giờ. Bả sau khi chưng cất được đem phơi khô để làm nhiên liệu. Hơi tinh dầu và nước sẽ vào thiết bị  ngưng tụ, cần khống chế nhiệt độ nước làm lạnh trong khoảng 35 - 4000C. Hỗn hợp tinh dầu và nước sẽ được tách ra bằng thiết bị phân ly, nước chưng sẽ được đưa vào bể xử lý để tách tinh dầu loại II. Tinh dầu thô được lắng để tách tạp chất lớn và được làm khô bằng Na2SO4 khan, lượng Na2SO4 tùy thuộc vào hàm lượng nước trong tinh dầu sả, thường thì 25-50 gam/kg tinh dầu. Sau đó tinh dầu được đem lọc để tách Na2SO4 ra, Na2SO4 tách ra được đem rửa hai lần bằng nước ấm rồi cho vào túi vải bỏ vào nồi chưng cất để tận thu tinh dầu. Sau đó đem sấy khô và bảo quản trong bình kín. Tinh dầu sả khử hết nước có màu sáng, được đóng chai bảo quản.

Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 10:49:53 PM
1- 1 Vi sóng
Đại cương
Vi sóng (micro-onde, microwave) là sóng điện từ lan truyền với vận tốc ánh sáng. Sóng điện từ này được đặc trưng bởi:
- Tần số f, tính bằng Hetz (Hz = cycles/s), là chu kỳ của trường điện từ trong một giây, nằm giữa 300 MHz và 30 GHz.
- Vận tốc c là 300.000 km/giây.
- Độ dài sóng λ (cm) là đoạn đường đi của vi sóng trong một chu kỳ, liên hệ với tần số theo công thức  λ = c/f.
            Hầu hết các lò vi sóng gia dụng đều sử dụng tần số 2450 MHz, ở tần số này  λ = 12,24 cm.
Hiện tượng làm nóng
Một số phân tử, thí dụ như nước, phân chia điện tích trong phân tử một cách bất đối xứng. Như vậy các phân tử này là những lưỡng cực có tính định hướng trong chiều của điện trường. Dưới tác động của điện trường một chiều, các phân tử lưỡng cực có khuynh hướng sắp xếp theo chiều điện trường này. Nếu điện trường là một điện trường xoay chiều, sự định hướng của các lưỡng cực sẽ thay đổi theo chiều xoay đó. Cơ sở của hiện tượng phát nhiệt do vi sóng là sự tương tác giữa điện trường và các phân tử phân cực bên trong vật chất. Trong điện trường xoay chiều có tần số rất cao (2,45x109 Hz), điện trường này sẽ gây ra một xáo động ma sát rất lớn giữa các phân tử, đó chính là nguồn gốc sự nóng lên của vật chất.
Với một cơ cấu có sự bất đối xứng cao, phân tử nước có độ phân cực rất lớn, do đó nước là một chất rất lý tưởng dễ đun nóng bằng vi sóng. Ngoài ra, các nhóm định chức phân cực như: -OH, -COOH, -NH2 … trong các hợp chất hữu cơ cũng là những nhóm chịu sự tác động mạnh của trường điện từ.
Do đó, những hợp chất càng phân cực càng rất mau nóng dưới sự chiếu xạ của vi sóng. Việc này có liên quan đến hằng số điện môi của hợp chất đó. Tóm lại, sự đun nóng bởi vi sóng rất chọn lọc, trực tiếp và nhanh chóng.

Tính chất
Vi sóng có đặc tính là có thể đi xuyên qua được không khí, gốm sứ, thủy tinh, polimer và phản xạ trên bề mặt các kim loại. Độ xuyên thấu tỉ lệ nghịch với tần số, khi tần số tăng lên thì độ xuyên thấu của vi sóng giảm. Đối với một vật chất có độ ẩm 50% với tần số 2450 MHz có độ xuyên là 10 cm. Ngoài ra, vi sóng có thể lan truyền trong chân không, trong điều kiện áp suất cao.
Năng lượng của vi sóng rất yếu, không quá 10-6 eV, trong khi năng lượng của một nối cộng hóa trị là 5 eV, do đó bức xạ vi sóng không phải là một bức xạ ion hóa.
Có một số công trình đã khẳng định được tính vô hại của vi sóng đối với sinh vật. Chẳng hạn, khi nghiên cứu sự phát triển của enzim trong điều kiện vi sóng, người ta nhận thấy rằng ảnh hưởng của vi sóng rất giống ảnh hưởng của các gia nhiệt thông thường.
Vi sóng cung cấp một kiểu đun nóng không dùng sự truyền nhiệt thông thường. Với kiểu đun nóng bình thường, sức nóng đi từ bề mặt của vật chất lần vào bên trong, còn trong trường hợp sử dụng vi sóng, vi sóng xuyên thấu vật chất và làm nóng vật chất ngay từ bên trong. Vi sóng tăng hoạt những phân tử phân cực, đặc biệt là nước. Nước bị đun nóng do hấp thu vi sóng bốc hơi tạo ra áp suất cao tại nơi bị tác dụng, đẩy nước đi từ tâm của vật đun ra đến bề mặt của nó.
Ly trích dưới tác dụng của vi sóng
Dưới tác dụng của vi sóng, nước trong các tế bào thực vật bị nóng lên, áp suất bên trong tăng đột ngột làm các mô chứa tinh dầu bị vỡ ra. Tinh dầu thoát ra bên ngoài, lôi cuốn theo hơi nước sang hệ thống ngưng tụ (phương pháp chưng cất hơi nước) hoặc hòa tan vào dung môi hữu cơ đang bao phủ bên ngoài nguyên liệu (phương pháp tẩm trích).
Lưu ý là mức độ chịu ảnh hưởng vi sóng của các loại mô tinh dầu không giống nhau do kiến tạo của các loại mô khác nhau, ngay khi nguyên liệu được làm nhỏ. Kết quả này được phản ánh qua thời gian ly trích.
Trong sự chưng cất hơi nước, việc ly trích tinh dầu có thể thực hiện trong điều kiện có thêm nước hay không thêm nước vào nguyên liệu (trường hợp nguyên liệu chứa nhiều nước, đây là đặc điểm của phương pháp chưng cất hơi nước dưới sự hỗ trợ của vi sóng). Ngoài ra, nước có thể thêm một lần hoặc thêm liên tục (trường hợp lượng nước thêm một lần không đủ lôi cuốn hết tinh dầu trong nguyên liệu) cho đến khi sự ly trích chấm dứt.
 Ngoài việc nước bị tác dụng nhanh chóng, các cấu phần phân cực (hợp chất có chứa oxigen) hiện diện trong tinh dầu cũng bị ảnh hưởng bởi vi sóng. Ngược lại các cấu phần hidrocarbon ít chịu ảnh hưởng của vi sóng (do chúng có độ phân cực kém) nên sự ly trích chúng tựa như trong sự chưng cất hơi nước bình thường nhưng với vận tốc nhanh hơn rất nhiều vì nước được đun nóng nhanh bởi vi sóng.
Trong phòng thí nghiệm, chúng tôi đã nghiên cứu, sữa chữa và cải tiến lò vi sóng gia dụng để cho lò này có thể sử dụng trong cả việc ly trích tinh dầu bằng phương pháp chưng cất hơi nước, lẫn cho phương pháp tẩm trích ở áp suất thường. (hình vẽ xem phần phụ lục).
Năm 1998, Luque de Castro và cộng sự đã đưa ra kiểu lò vi sóng tiêu điểm hỗ trợ cho sự ly trích bằng Soxhlet (FMASE – Focused Microwave Assisted Soxhlet Extraction) theo hình vẽ trong phần phụ lục. Hệ thống này giúp cho thời gian ly trích hợp chất thiên nhiên sử dụng Soxhlet giảm xuống đáng kể và khả năng bảo vệ những hợp chất dễ bị phân hủy tăng lên.
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 10:50:39 PM
1-Siêu âm
Nguyên tắc
Siêu âm là âm thanh có tần số nằm ngoài ngưỡng nghe của con người (16 Hz – 18 kHz). Về mặt thực hành, siêu âm được chia làm hai vùng:
- Vùng có tần số cao (5–10 MHz), ứng dụng trong y học để chuẩn đoán bệnh.           
- Vùng có tần số thấp hơn (20–100 kHz), ứng dụng trong các ngành khác (kích hoạt phản ứng hóa học, hàn chất dẻo, tẩy rửa, cắt gọt, …) dựa trên khả năng cung cấp năng lượng của siêu âm.
Siêu âm cung cấp năng lượng thông qua hiện tượng tạo và vỡ “bọt” (khoảng cách liên phân tử). Trong môi trường chất lỏng, bọt có thể hình thành trong nửa chu kỳ đầu và vở trong nữa chu kỳ sau, giải phóng một năng lượng rất lớn. Năng lượng này có thể sử dụng tẩy rửa chất bẩn ngay trong những vị trí không thể tẩy rửa bằng phương pháp thông thường, khoan cắt những chi tiết tinh vi, hoạt hóa nhiều loại phản ứng hóa học, làm chảy và hòa tan lẫn vào nhau trong việc chế tạo những sản phẩm bằng nhựa nhiệt dẻo, …
Hiện tượng tạo bọt và vỡ bọt:
Trong lĩnh vực hợp chất thiên nhiên, siêu âm chủ yếu sử dụng để hỗ trợ cho phương pháp tẩm trích giúp thu ngắn thời gian ly trích. Trong một số trường hợp, phương pháp siêu âm cho hiệu suất cao hơn phương pháp khuấy từ. Trong trường hợp tinh dầu vi sự ly trích bằng siêu âm được thực hiện ở nhiệt độ phòng nên sản phẩm luôn có mùi thơm tự nhiên.
Các thiết bị siêu âm hiện nay chủ yếu bao gồm hai dạng:
- Bồn siêu âm (40 kHz).
- Thanh siêu âm (20 kHz).
Hiện nay trong phòng thí nghiệm chỉ sử dụng bồn siêu âm trong phương pháp tẩm trích.
Bồn siêu âm
Bồn thường làm bằng inox, bên dưới đáy bồn có gắn những bộ phận phát ra siêu âm. Một số bồn có trang bị thêm bộ phận gia nhiệt nhưng không cho phép tăng nhiệt độ lên cao. Bồn siêu âm có ưu điểm là năng lượng được phân bố đồng đều, thuận tiện thao tác, và dễ sử dụng nhưng lại có khuyết điểm là chỉ có một tần số cố định, đôi khi không kiểm soát được nhiệt độ (khi siêu âm trong một thời gian dài), không thực hiện được ở nhiệt độ thấp.
Hiện nay bồn siêu âm được chế tạo với nhiều kích thước lớn nhỏ khác nhau để phù hợp với vật chứa bên trong. Khi sử dụng bồn siêu âm, nhớ cho một ít chất hoạt động bề mặt vào lượng nước trong bồn để gia tăng khả năng siêu âm. Bình chứa nguyên liệu cần đổ ngập dung môi với mức dung môi nên thấp hơn hoặc ngang bằng lớp nước bên ngoài. 
2- Phương pháp CO2 lỏng siêu tới hạn
Hiện nay CO2 lỏng được sử dụng như một dung môi dùng để trích ly tinh dầu (phương pháp SFE-Supercritical Fluid Extraction). Phương pháp này có lợi điểm là cô lập sản phẩm rất dễ dàng vì CO2 ở áp suất thường sẽ bốc hơi nhanh chóng để lại tinh dầu tinh chất. Trong nhiều trường hợp tinh dầu sản xuất bằng phương pháp này cho chất lượng cao, nhưng trong một số trường hợp ghi nhận thì khả năng ly trích của nó còn giới hạn, hiệu suất đôi khi kém hơn phương pháp chưng cất hơi nước. CO2 hóa lỏng trong những thiết bị đặc biệt có thể điều chỉnh áp suất (tối đa 700 bar) và nhiệt độ. Thí nghiệm cho thấy tùy theo áp suất sử dụng, thành phần tinh dầu thu được khác nhau.
Phương pháp này chưa phổ biến trong kỹ nghệ vì giá thành thiết bị còn cao và lượng nguyên liệu còn hạn chế, điều kiện tối ưu để ly trích phải khảo sát thêm
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 11:01:07 PM
1-HÓA HỌC TINH DẦU
Tinh dầu Sả là một hỗn hợp rất nhiều hợp chất (cấu phần). Có thể phân loại như sau:
1.1- PHÂN LOẠI THEO NHÓM ĐỊNH CHỨC
Cách phân loại này là cách phân loại cổ điển nhất. Theo như Ernest Guenther đã đề nghị trong The Essential Oil Vol.2, việc phân loại này nhằm mục đích sắp xếp các hợp chất hiện diện trong tinh dầu thành từng nhóm theo nhóm định chức chính của các cấu phần
1.1.1 Alcol bão hòa
Alcol isoamyl (3-methyl-1-butanol), (CH3)2CH(CH2)2OH
(http://www.chemicalregister.com/upload/cr/123-51-3.png)
1.1.2 Alcol bất bão hòa
2-Methyl-2-hepten-6-ol, (CH3)2C=CHCH2CH2CHOHCH3
(http://www.chemicalregister.com/upload/cr/1569-60-4.png)
1.1.3 Phenil eter
Metileugenol, 4-alil-1,2-dimetoxibenzen
(http://www.scielo.br/img/revistas/qn/v29n5/31047f1.gif)
1.2 Aldehid chi phương
+ Formaldehyde, HCHO
+  Isovaleraldehid, (2-metil-n-butiraldehid,3-metilbutanal), (CH3)2CHCH2CHO
+ n-Capriladehid, (aldehid caprilic,octanal), CH3(CH2)6CHO
+ Pelargonaldehid, (nonanal), CH3(CH2)7CHO
+ n-Decilaldehid, (aldehid capric, decanal), CH3(CH2)8CHO
1.5 Acid carboxylic chi phương
+ Acid n-butiric, (acid butanoic), CH3CH2CH2COOH
+ Acid isovaleric, (H3C)2CHCOOH
+ Acid n-caproic, (acid hexanoic), CH3(CH2)4COOH
+ Acid n-capric, (acid decanoic), CH3(CH2)8COOH
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 11:04:27 PM
TERPEN TRONG TINH DẦU SẢ
Từ terpen lần đầu tiên được Kékulé sử dụng để chỉ các hidrocacban đồng phân C10H16. Hiện nay, từ này dùng để chỉ tất cả những hợp chất có cơ cấu sườn carban được dựa trên đơn vị phân tử isoprene, C5H8

(http://www.benbest.com/nutrceut/isoprene.jpg)

Do đó terpen có công thức chung là (C5H8)n , tạo ra do sự kết hợp của hai hay nhiều đơn vị isoprene. Vì thế, dựa vào các số đơn vị isoprene có trong phân tử terpen, người ta chia terpen thành nhiều nhóm hợp chất. Trong tinh dầu sả có những hợp chất như:

1 Monoterpen oxygen
Acol
+ Geraniol, (2,6-dimetil-2,6-octandien-8-ol)
+ Nerol, (2,6-dimetil-2,6-octandien-8-ol)
+ Citronelol, (2,6-dimetil-2-octen-8-ol), (d-citronelol)
Aldehid
+ Geranial, (trans-3,7-dimetil-2,6-octandien-1-al)
+ Neral, (cis-3,7-dimetil-2,6-octandien-1-al)
+ Citronelal, (3,7-dimetil-6-octen-1-al), (d-Citronelal)
Ester
+ Acetat citronelil
+ Butirat citronelil
+ Acetat geranil
2.2 Monoterpen chi hoàn
Hợp chất hidrocacbon
+ Limonen (l-Limonen)
Hợp chất oxygen
+ Isopulegol

Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 11:06:05 PM
1.4 PHƯƠNG PHÁP THỬ TINH DẦU
Phương pháp thử tinh dầu sả chanh được tuân theo theo TCVN 6030:2008 và TCVN 189:1993. Các phương pháp thử như:
1.4.1 XÁC ĐỊNH TINH DẦU
1.4.1.1 Dụng cụ và điều kiện thử
- Điều kiện và dụng cụ cảm quan theo TCVN.
- Ống thủy tinh trong suốt có đường kính khoảng 20-25mm dung tích khoảng 30ml.
- Cân kỹ thuật.
-Ống hút
- Giấy thấm
- Đường kính
1.4.1.2 Xác định độ trong và màu sắc
Dùng ống hút lấy 20 ml mẫu cho vào ống nghiệm khô, sạch, trong suốt. Dùng mắt quan sát độ trong và màu sắc của tinh dầu
1.4.1.3 Xác định vị
Cân khoảng 1g đường kính cho vào chén thử khô, sạch. Nhỏ vài giọt nước tinh dầu vào chén, trộn đều, dùng lưỡi xác định vị của hỗn hợp đó
1.4.1.4 Xác định mùi
Nhỏ vài giọt tinh dầu lên giấy thấm khô, sạch. Dùng mũi xác định mùi của tinh dầu, cứ 15 phút xác  định một lần, khoảng 4-5 lần
1.4.2  XÁC ĐỊNH TỶ TRỌNG 
Xem ISO 279
Tỷ trọng của tinh dầu là tỉ số của khối lượng tinh dầu của 200C với khối lượng của cùng một thể tích nước cất cũng ở 200C.
Ở 200C, nước có tỷ trọng 0,99823 g/ml
1.4.2.2 Dụng cụ, thiết bị và hóa chất
- Bình tỷ trọng dung tích 50ml
- Nhiệt kế bách phân, bầu thủy tinh và vạch chia tới 0,10C
- Cân phân tích, chính xác đến 0,2 mg
- Phễu thủy tinh có cuống phễu nhỏ
- Giấy lọc định tính, một số được cắt thành giải có thể cho vào bình tỷ trọng
- Tủ sấy
- Môi trường điều nhiệt có thể duy trì nhiệt độ nước ở 20±0,50C
- Nước cất TCVN
- Axeton, ête hoặc etanol, TKPT
- Hỗn hợp sunfocromic, chuẩn bị như sau: Hòa tan 60g kalibicromat trong 100ml acid sunfuric đậm đặc (H2SO4).
1.4.2.3 Tiến hành thử
Chuẩn bị bình tỷ trọng
Bình tỷ trọng được rủa sạch bằng hỗn hợp sunfocromic, tráng kỹ bằng nước cất và súc lại bằng aceton, ête hoặc etanol, làm khô bằng cách thổi vào bình một luồng không khí khô, nóng hoặc sấy nhẹ ở 70-800C tới khối lượng không đổi. Cân khối lượng của bình và nút chính xác tới 0,0002g.
Xác định khối lượng của nước cất
Rót nhẹ nước vào bình cao hơn vạch định mức một chút, tránh không tạo bọt khi rót. Ngâm bình vào môi trường điều nhiệt đã duy trì 20 ± 0,50C ngập tới cổ lọ trong 30 phút tới khi nhiệt độ cả nước trong bình đạt 20 ± 0,50C. Dùng các giải giấy thấm hút bớt nước trong bình tới đúng vạch mức và thấm khô các giọt nước bám ở thành trong cổ bình và đậy nút. Lấy bình ra khỏi môi trường điều nhiệt, lau khô và cân nhanh chính xác đến 0,0002 g. Sau đó đổ nước và làm khô bình tỷ trọng.
Xác định khối lượng của tinh dầu
Tiến hành như 1.4.2.3.2 nhưng thay nước cất bằng tinh dầu ta xác định được khối lượng của bình và tinh dầu ở 20±0,50C
1.4.2.4 Tính kết quả
Tỉ trọng của tinh dầu ở 200C ( ) được tính theo công thức:
 
Trong đó: m- khối lượng bình tỷ trọng, g
                          m1- khối lượng bình tỷ trọng và nước ở 200C,g
                          m2- khối lượng bình tỷ trọng và tinh dầu ở 200C, g
Kết quả là trung bình cộng của hai lần xác định liên tiếp có sai lệch giá trị không lớn hơn 0,001 và được làm tròn tới số thập phân thứ tư.
1.4.3 XÁC ĐỊNH CHỈ SỐ KHÚC XẠ
Chỉ số khúc xạ còn gọi là chiết suất, là tỉ số giữa sin góc tới và sin góc khúc xạ của một tia sáng có độ dài sóng xác định đi từ không khí qua tinh dầu ở nhiệt độ nhất định.
Người ta thường dùng ánh sáng của đèn natri có độ dài sóng 589,3±0,3 nm. Nhiệt độ tham chiếu là 200C (trừ trường hợp tinh dầu không thể ở thể lỏng tại nhiệt độ này thì phải chọn 25 hoặc 300C).
Xem ISO 280
Chỉ số khúc xạ được xác định ở 200C theo phương pháp đo giới hạn bằng khúc xạ kế.
1.4.3.1 Dụng cụ, thiết bị và hóa chất
- Khúc xạ kiểu Abbe hoặc kiểu khác có đèn natri hay bộ phân bổ chính triệt tiêu hiện tượng tán sắc và cho phép đọc được chỉ số khúc xạ từ 1,3000 đến 1,7000 với độ chính xác ±0,0002
- Bông hút nước hay vải màu sạch, khô
- Ete hoặc aceton TKPT
- Nước cất
1.4.3.2Tiến hành xác định
Cho dòng nước chảy qua máy để duy trì ở 200C. Tiến hành hiệu chỉnh máy trước khi đo theo hướng dẫn cụ thể của từng loại máy.
Mở hộp lăng kính, dùng bông tẩm aceton hoặc exton lau lăng kính và thấm khô bằng vải mềm hoặc bông thấm nước.
Nhỏ 2-3 giọt tinh dầu lên mặt lăng kính mờ phía dưới và áp vào lăng kính bên trên. Khi nhiệt kế của khúc xạ kế chỉ 200C, nhìn vào thị kính, chỉnh hiện tượng tán sắc nếu có rồi từ từ xoay quanh bộ phận lăng kính đưa ranh giới giữa hai miền sang và tối cắt đúng giao điểm của vạch. Đọc chỉ số khúc xạ ở nganh vạch chuẩn. Xác định lại vị trí và đọc chỉ số ba lần. Chỉ đọc chỉ số khúc xạ kế khi nhiệt độ đã ổn định. Kết quả là trung bình cộng của ba giá trị đọc được và làm tròn tới số thập phân thứ tư.
Khi đó chỉ số khúc xạ của tinh dầu ở nhiệt độ khác và cần tính chuyển về chỉ số khúc xạ ở nhiệt độ nhất định, dùng công thức sau:
 = + 0,0004 (t’-t)
Trong đó:
 - chỉ số đọc được ở nhiệt độ “t”
t- nhiệt độ cần tính chuyển
1.4.4 XÁC ĐỊNH GÓC QUAY CỰC
Hầu hết tinh dầu đều có tính quang hoạt, nghĩa là có khả năng làm quay mặt phẳng ánh sáng phân cực khi có ánh sáng này đi xuyên qua. Khả năng làm quay mặt phẳng ánh sáng phân cực của mỗi tinh dầu hầu như đều khác nhau và biểu thị bằng góc quay cực (góc quay quan sát)
Góc quay phân cực của tinh dầu ( kí hiệu α ), được tính bằng độ, là góc quay mặt phẳng ánh sáng phân cực của ánh sáng, có độ dài sóng là 589,3 ± 0,3 nm, khi ánh sáng này được truyền ngang qua một ống có chứa tinh dầu dài 1dm trong những điều kiện nhất định.
Những tinh dầu làm quay mặt phẳng ánh sáng phân cực theo chiều kim đồng hồ gọi là tinh dầu hữu triền (+, d) và ngược lại gọi là tinh dầu tả triền (-, l)
Xem ISO 592
Góc quay cực được xác định ở nhiệt độ phòng
1.4.4.2 Dụng cụ và vật liệu
- Phân cực kế với độ chính xác ±0,030 và được hiệu chỉnh để cho giá trị 00 và 1100 với nước cất
- Nguồn sáng đèn natri hoặc thiết bị cho ánh sáng có bước sóng 589,3±0,3nm
- Ống đo hình trụ dài 100± 0,5 mm, đối với các loại tinh dầu sáng màu và có góc quay phân cực thấp có thể dùng ống dài 200±0,5 mm. Đối với các loại tinh dầu sẫm màu có thể dùng ống dài 50± 0,05 mm hoặc 10±0,05mm
- Nước cất
1.4.4.3 Tiến hành xác định
Điều chỉnh máy
Đổ nước cất vào đầy ống của phân cực kế, chú ý tránh có tạo bọt ở bên trong. Vặn chặt nắp đậy của ống. Đặt ống vào máng của phân cực kế đã bật đèn sáng, xác định độ sai lệch của điểm 00 so với điểm 0 của du xích
Đo góc quay cực
Lấy ống trong máy ra, tháo nước đi và thau ống cho thật khô. Đổ tinh dầu vào đầy ống và tiếp tục đo như khi điều chỉnh máy. Kết quả thu được vần hiệu chỉnh với độ sai lệch của điểm 00 của du xích để được giá trị đúng của góc quay cực
Tiến hành đo ít nhất 3 lần với cùng mãu thử, kết quả là trung bình cộng của ba lần xác định liên tiếp có sai lệch giá trị không vượt quá 0.080
Sai số của phép đo không được vượt quá ±0,170
Chú thích:
1)  Khi đo bằng ống có kích thước khác 100mm thì tính góc quay phân cực theo công thức:
 
Trong đó: α- giá trị của góc quay cực đo được
 l- chiều dài của ống đo sử dụng, dm
2) Trong trường hợp không có ống đo với kích thước thích hợp với mẫu tinh dầu thì dùng rượu 90% pha loãng và đo góc quay cực của dung dịch đã pha loãng rồi tính góc quay cực của tinh dầu theo công thức:
 
Trong đó:
α1- góc quay cực của dung dịch
p- nồng độ của dung dịch tính bằng ml tinh dầu chứa trong 100 ml dung dịch
l- chiều dài của ống, dm
3) Sau khi đo được góc α, để xác định hướng quay cực là phải hay trái, dùng một ống đo khác có chiều dài bằng nửa chiều dài ống cũ và đo góc α với tinh dầu như trước hoặc dùng ống cũ nhưng đo với tinh dầu có độ pha loãng gấp đôi bằng rượu 90-95% góc quay cực α’ đo được bằng bằng α/2
Hướng của góc đó là hướng quay cực cần xác định
1.4.5 ĐỘ HÒA TAN
Độ hòa tan của tinh dầu là số thể tích dung dịch etanol-nước vừa đủ để hòa tan một thể tích tinh dầu thành dung dịch trong suốt ở nhiệt độ 200C
Có ba trường hợp xảy ra khi hòa tan tinh dầu thành dung dịch vào dung dịch etanol-nước:
+ Một thể tích tinh dầu khi thêm vào V dung dịch etanol-nước cho một dung dịch trong suốt và giữ nguyên như vậy khi tiếp tục thêm vào cho đến 20 thể tích etanol-nước
+Một thể tích tinh dầu khi thêm vào V thể tích dung dịch etanol-nước cho một dung dich trong suốt, nhưng khi thêm dung dịch etanol-nước lên đến V’ thì đục và giữ nguyên tình trạng này khi thêm đến 20 thể tích dung dịch etanol-nước
+ Một thể tích tinh dầu khi thêm vào V thể tích dung dịch etanol-nước cho một dung dịch trong suốt, thêm lên đến V’ thể tích thì đục, nhưng tiếp tục thêm etanol vao đến V’’ thì trong suốt, thể tích tổng cộng phải dưới 20 thể tích dung dịch etanol-nước
Nếu rơi vào 2 trường hợp sau, ta thay dung dịch etanol-nước có nồng độ etanol cao hơn.
1.4.5.1 Tính tan trong etanol 70%  (theo thể tích) ở 200C
Xem ISO 875
Dụng cụ và hóa chất
- Ống nhỏ gọt 25 hoặc 50 ml
- Ống hút có ngấn chuẩn hoặc chia vạch 1ml
- Nhiệt kế chia độ nhỏ nhất là 0,2 hay 0,10C
- Etanol 70%
- Nước cất
Tiến hành xác định
Pha dung dịch etanol-nước theo thể tích  (V/V): 50, 55, 60,65,70,75% (etanol nguyên không pha)
Nhỏ từ từ dung dịch etanol-nước từ ống nhỏ giọt vào tinh dầu (thường lấy 1 ml), khuấy đều trong lúc thử.
Nếu hiện tượng đục vẫn giữ nguyên cho đến 20 ml dung dịch etanol-nước, thay dung dịch etanol-nước bằng dung dịch có nồng độ cao hơn
Chất chuẩn đục: cho 0,5 ml AgNO3 (0,1mol/l) vào 50 ml NaCl (0.0002 mol/l), thêm 1 giọt acid nitric đậm đặc
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 11:16:05 PM
ỨNG DỤNG
MỸ PHẨM- HƯƠNG LIỆU
Citral được sử dụng trong công nghệ hương liệu mỹ phẩm, tổng hợp hương. Sau đây là một số đơn hương được sản xuất có chứa Citral.
(http://lh4.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBkxCanEaI/AAAAAAAAAQ8/mdR7x8UoFpc/untitled.jpg)
(http://lh6.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBlmb8cU9I/AAAAAAAAARM/Za3pOKivasw/untitled2.jpg)
(http://lh5.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBmH-5dLqI/AAAAAAAAARU/5UV8vyh3mVM/untitled3.jpg)
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 11:24:59 PM
Y HỌC
Tổng hợp Vitamin A
Vitamin A được tổng hợp lần đầu tiên năm 1937 (Kuhn) nhưng không thích hợp khi đưa vào sản xuất. Hiện nay có nhiều cách tổng hợp nhưng phương pháp của Jsler (1947) thích hợp hơn cả với quy mô công nghiệp.
Nguyên liệu cơ bản của sản xuất Vitamin A bằng tổng hợp hóa học là β-ionon, một tecpen vòng dùng làm hương liệu. β-ionon sản xuất từ Citral trong sả (lemongrass chứa tới 65-85%) như sau:
Citral ngưng tụ với axeton với xúc tác kiềm (NaOH hay etoxyt Na, Al hoặc Mg) tạo thành psơ-đô-ionon (hiệu suất 60-70%). Tiếp đó đóng vòng psơ-đô-ionon với H2SO4 trong dung dịch axetic hay trong ete tạo ra hỗn hợp β-ionon(93%) và α-ionon.

(http://lh3.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBm5a4BJ9I/AAAAAAAAARc/CFyix_qdIJs/untitled4.jpg)

Từ β-ionon ngưng tụ với cloraxetat etyla trong metoxut natri ở nhiệt độ -100C theo phản ứng Darzens (*Phản ứng được Erlenmeyer quan sát lần đầu năm 1892 và Darzens tổng quát hóa năm 1904): xeton ngưng tụ với este α-halogen tạo ra epoxyt-gọi là este glyxidic. Xà phòng hóa epoxyt này, rồi decacboxyla-hóa lại tạo được một cacbonyla mới, đồng đẳng trên của xeton cũ:

(http://lh5.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBnUG84pGI/AAAAAAAAARk/ETgoH35pCL8/untitled6.jpg)
tạo ra este glyxidic, nó thủy phân thành axit, rồi decacboxyla-hóa và đồng phân hóa thành aldehyt có 14 nguyên tử C (aldehyt C14). Đó là trung gian chủ yếu để sản xuất vitamin A. Phản ứng này thực hiện trong hầu như khí nitơ và diễn ra theo phương trình:

(http://lh5.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBnu3bRHiI/AAAAAAAAARs/KqXu0V7rAWY/untitled7.jpg)

Để gắn thêm mạch có 6C nữa, aldehyt trên đây được ngưng tụ với dẫn xuất magie hữu cơ trong môi trường ête dưới bầu khí nitơ để tạo ra glyconla axetylenic với hiệu suất 70-90%. Khử hóa tiếp bằng hydrogen với xúc tác cacbon-paladi, dây nối axetylen được bão hòa một phần. sau đó axetyla-hóa để bảo vệ nhóm ancola nhất rồi khử nước bằng POCl3 trong một phần pyridin (hoặc dùng iot trong dung môi trơ). Sau khi thủy phân axetyla ta thu được Vitamin A “all trans” như dạng thiên nhiên của nó:

(http://lh5.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBoOjcWESI/AAAAAAAAAR4/7Uq1G1o-r-c/s576/untitled8.jpg)

Hiệu suất tổng cộng tính từ β-ionon là 25-45%. Trong phương pháp này, nguyên liệu chính là citral, axeton, formaldehyt và axetylen. Toàn bộ gồm 12 giai đoạn phản ứng. Điều khó là tạo ra dẫn xuất magie hữu cơ phải dùng đến axetylua natri trong amoniac lỏng
Tổng hợp vitamin A là một trong những thành tựu quan trọng nhất của Hóa dược.
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 11:25:57 PM
Y học cổ truyền
Trong y học, sả có hai tác dụng: phòng và chữa bệnh.
•   Về phòng bệnh: nhân dân miền sơn cước thường lấy nõn sả muối dưa ăn để phòng ngừa sơn lam chướng khí, sốt rét ngã nước. Phụ nữ lại lấy lá sả nấu nước gội đầu làm thơm, sạch gàu, trơn tóc, tránh những bệnh về tóc và da đầu. Nhân dân trồng cây sả quanh nhà ngoài vườn, xung quanh nhà vệ sinh để xua đuổi ruồi, muỗi, dĩn, bọ chét vừa làm sạch môi trường, vừa có tác dụng phòng bệnh. Ngoài ra, tinh dầu sả còn khử mùi hôi trong công tác vệ sinh.
•   Về chữa bệnh: trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, sả được dùng với tên thuốc là hương mao hay hương thảo. Dược liệu có vị the, cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng làm ra mồ hôi, sát khuẩn, chống viêm, hạ khí, thông tiểu, tiêu đờm.
Lá: Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:
Chữa bụng trướng, chân tay gầy gò: Lá sả 12g; vỏ bưởi, hồi hương, trạch tả, mộc thông, cỏ bấc, mỗi vị 10g; quế 5g; bồ hóng, diêm tiêu, mỗi vị 2g; xạ hương 0,05g. Tất cả sắc cách thủy với 200ml nước trong 15-30 phút, rồi uống làm hai lần trong ngày. Kiêng ăn cơm nếp và muối mặn. Nên ăn vài khẩu mía trước khi uống thuốc để tránh khé cổ.
Thuốc xông giải cảm: Lá sả, lá bưởi, lá chanh, cúc tần, hương nhu hoặc lá bạch đàn (có thể thêm tía tô, bạc hà, kinh giới), mỗi thứ 50g, cho vào nồi, đậy kín, đun sôi trong 5-10 phút. Lấy ra, mở vung, trùm chăn xông hơi cho ra mồ hôi, lau khô, rồi uống một bát nước thuốc, đắp chăn, nằm nghỉ.
Chữa phù nề chân, tiểu ít, thấp thũng: Lá sả 100g, rễ cỏ xước, rễ cỏ tranh hoặc bông mã đề, mỗi thứ 50g. Tất cả rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Dùng 3-4 ngày.
Rễ: Dùng riêng, lấy rễ tươi giã nát, xát vào vết chàm chữa chàm mặt ở trẻ em.
Dùng phối hợp:
Chữa tiêu chảy: Rễ sả 10g; củ gấu, vỏ rụt, mỗi vị 8g; vỏ quýt, hậu phác, mỗi vị 6g; sắc uống. Hoặc rễ sả 10g, búp ổi 8g, củ riềng già 8g, thái nhỏ, sao qua, sắc đặc uống.
Chữa đau dạ dày - tá tràng: Rễ sả sao 10g; cám gạo rang cháy 10g; hương phụ sao 8g; hậu phác tẩm nước gừng, sao 6g; thạch xương bồ, củ riềng nướng, mỗi vị 4g; dạ dày lợn sấy khô giòn 1 cái. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 12g với nước ấm.
Chữa ho: Rễ sả, trần bì, sinh khương, tô tử, mỗi vị 250g (4 vị này giã nát, ngâm rượu 40o vừa đủ để được 200ml); bách bộ bỏ lõi, thái nhỏ, sao khô 500g; mạch môn bỏ lõi 300g; tang bạch bì tẩm mật, sao vàng 200g (3 vị này sắc và cô đặc lại thành 300ml cao lỏng). Trộn lẫn cao lỏng và rượu thuốc. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10ml.
Dùng ngoài, rễ sả thái nhỏ, phơi khô, tán bột trộn với phèn phi rồi bôi để chữa loét lợi, hôi nách.
Tinh dầu: Chiết được từ lá và rễ sả được dùng uống, mỗi lần 3-6 giọt pha trong sữa và nước thành nhũ tương, có tác dụng thông trung tiện, chống nôn, giảm đau, chữa đầy bụng, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy. Ở một số nước châu Âu, nước sả có đường là một loại đồ uống giải khát, thanh nhiệt được nhiều người ưa thích.
Dùng ngoài, tinh dầu sả phối hợp với nhiều loại tinh dầu khác để xoa bóp làm giảm đau xương, đau mình, nhức mỏi. Bôi trên da hoặc phun trong nhà, dầu sả là thuốc diệt muỗi, dĩn, bọ chét.
Theo tài liệu nước ngoài, ở Ấn Độ, sả được dùng để làm thơm thức ăn, nước hãm lá sả để giải khát. Ở Indonesia, rễ sả phối hợp với nhiều vị thuốc khác chữa bệnh vàng da dưới dạng nước sắc; dùng nước này súc miệng hằng ngày để chữa đau răng.
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 11:29:15 PM
TỔNG HỢP HỮU CƠ
Citral là nguồn nguyên liệu ban đầu để tổng hợp thành các chất hữu dụng khác sử dụng trong các ngành công nghiệp khác như: methol,  isopulegol, citronellal,…

(http://lh6.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBpPDldWGI/AAAAAAAAASA/g1Xb0uDl5gQ/s576/untitled9.jpg)

Phản ứng tổng hợp này, dựa trên cở sở của phản ứng hidro hóa citral. Theo các nghiên cứu trên thế giới và được kết quả khả quan khi sử dụng chất xúc tác Pt và Pt/Sn với các chỉ số thích hợp của I. M. J. Vilella, S. R. de Miguel and O. A. Scelza, tài liệu này được công bố bởi Investigaciones en Catálisis y Petroquímica (INCAPE), Facultad de Ingeniería Química (Universidad Nacional del Litoral) CONICET, S. del Estero 2654, (3000) Santa Fe,oascelza@fiqus.unl.edu.ar.
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 11:30:46 PM
Quy trình chưng cất chung
Trước khi làm cần kiểm tra thật cẩn thận thiết bị chưng cất, chú ý xem nút nhám có nứt, mẻ hay không, phần ngưng tụ có bị tắc, rò rỉ không, sau đó đem vệ sinh thiết bị.
Ba công đoạn cơ bản của quá trình chưng cất tinh dầu (chưng cất gián đoạn) gồm: nạp liệu, chưng cất và tháo bả.
Nạp liệu
Nguyên liệu đã được xử lý được nạp vào thiết bị. Việc nạp liệu có thể thực hiện bằng thủ công. Nguyên liệu nạp vào thiết bị không được chặt quá làm cho nước khó phân phối đều trong toàn bộ khối nguyên liệu. Đối với nguyên liệu lá, cỏ khi cho vào thiết bị có thể nén chặt, trước khi nén nên xổ tung để tránh hiện tượng rỗng cục bộ. Sau đó cho nước vào trong thiết bị chứa nguyên liệu, lượng nước cho vào phải ngập đầy nguyên liệu. Khi đã xong, dùng vazơlin bôi đều trên miệng nút nhám ở cả miệng thiết bị trên ống sinh hàn và ống gạn tinh dầu, sau đó lắp khít vào.

Chưng cất
Trong quá trình chưng cất, cần điều chỉnh nhiệt độ dịch ngưng sao cho nằm trong khoảng 30-4000C, vì nếu dịch ngưng quá nóng sẽ làm tăng độ hòa tan của tinh dầu vào nước và làm bay hơi tinh dầu. Để kiểm tra quá trình chưng cất kết thúc chưa người ta có thể dùng một tấm kính hứng một ít dịch ngưng, nếu thấy trên tấm kính còn váng dầu thì quá chưng cất chưa kết thúc.
Tháo bả
Sau khi chưng cất xong cần để thiết bị nguội hẳn sau đó mới tiến hành lấy bả ra khỏi thiết bị và làm sạch thiết bị, sấy khô, chuẩn bị cho mẻ kế tiếp. Do tinh dầu dễ hấp thụ mùi lạ nên thiết bị chưng cất phải được làm vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt khi thay đổi nguyên liệu cần phải làm vệ sinh thiết bị thật kỹ lưỡng để không còn mùi của nguyên liệu trước, thường thì dùng hơi để xông vào thiết bị để đuổi hết mùi lạ. Tinh dầu chứa các axit hữu cơ sẽ gây ăn mòn thiết bị, do đó khi ngừng sản xuất phải tháo hết nước ngưng tụ và làm khô thiết bị,
Hỗn hợp tinh dầu và nước được cho vào thiết bị phân ly. Sau phân ly ta được tinh dầu thô và nước chưng. Tinh dầu thô được xử lý để được tinh dầu thành phẩm, nước chưng cho vào bình chiết tiếp tục phân ly để thu tinh dầu loại II.
Xử lý tinh dầu thô sau khi chưng cất
Tinh dầu ra khỏi thiết bị phân ly là tinh dầu thô, còn chứa nhiều tạp chất như nước, một số các hợp chất hữu cơ như chất màu, nhựa, sáp hòa tan vào nên để nâng cao chất lượng tinh dầu và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình bảo quản tinh dầu phải tiến hành xử lý tinh dầu, quá trình này gồm các công đoạn sau:
- Lắng: Mục đích của quá trình này là tách bớt các tạp chất vô cơ, hữu cơ và một số tạp chất khác lẫn vào tinh dầu. Thời gian lắng 24÷48 giờ trong các thiết bị lắng có đáy hình côn

-  Lọc: Mục đích của quá trình lọc cũng để tách các tạp chất vô cơ, hữu cơ có kích thước nhỏ, thường dùng thiết bị lọc khung bản để thực hiện quá trình lọc.
-  Sấy khô nước: Sau khi lắng lọc xong, trong tinh dầu vẫn còn lại một lượng nước ở dạng phân tán hoặc hòa tan, vì vậy cần phải sấy khô nước trong tinh dầu. Người ta thường dùng Natri sunphat khan với hàm lượng 2.5÷5.5% tùy theo hàm lượng nước có trong tinh dầu. Để thực hiện việc sấy khô nước trong tinh dầu có thể dùng phương pháp gián đoạn hoặc liên tục.
Sau khi tách nước xong, Na2SO4 được đem đi sấy khô để sử dụng lại.
Tinh dầu sau khi lắng lọc và sấy khô nếu có màu trong sáng thì nhập kho bảo quản, nếu có màu sẩm, xấu thì dùng than hay đất hoạt tính để hấp phụ màu. Tùy thuộc vào cường độ màu mà có thể dùng lượng than từ 1÷2 %.
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 11:31:58 PM
Các bước tiến hành
Nguyên liệu là cây sả tươi đạt độ chín kỹ thuật, tức là lúc đầu lá (tính từ ngoài vào) đã khô từ 5÷10 cm thì cắt, sau đó củ, lá sã được phơi héo đến độ ẩm còn 50 % so với ban đầu. Ở độ ẩm này, củ và lá sã bảo quản được một số ngày ở nơi cất, hơn nữa, cất củ và lá sả héo sẽ giảm được 35 % nhiên liệu và 27 % thời gian chưng cất. Trước khi đưa củ và lá sả vào nồi cất, cần chú ý loại các tạp chất như cỏ rác lẫn vào trong quá trình thu hái. Nguyên liệu nạp vào thiết bị phải đảm bảo chiếm 2/3 thể tích thiết bị (bình cầu 2 lít sẽ chứa được 500g sả và 1 lít nước, thời gian chưng cất từ 2÷2,5 giờ. Bả sau khi chưng cất được đem phơi khô để làm nhiên liệu. Hơi tinh dầu và nước sẽ vào thiết bị ngưng tụ, cần khống chế nhiệt độ nước làm lạnh trong khoảng 35÷ 4000C. Hỗn hợp tinh dầu và nước sẽ được tách ra bằng thiết bị phân ly, nước chưng sẽ được đưa vào bể xử lý để tách tinh dầu loại II. Tinh dầu thô được lắng để tách tạp chất lớn và được làm khô bằng Na2SO4 khan, lượng Na2SO4 tùy thuộc vào hàm lượng nước trong tinh dầu sả, thường thì 25÷50 gam/kg tinh dầu. Sau đó tinh dầu được đem lọc để tách Na2SO4 ra, Na2SO4 tách ra được đem rửa hai lần bằng nước ấm rồi cho vào túi vải bỏ vào nồi chưng cất để tận thu tinh dầu. Sau đó đem sấy khô và bảo quản trong bình kín. Tinh dầu sả khử hết nước có màu sáng, được đóng chai bảo quản.
So sánh giữa hai phương pháp chưng cất và phương pháp vi sóng
Trong 2 phương pháp trích ly tinh dầu được nêu trên thì qua thực nghiệm ta thấy rằng:
Tính ưu việt của trích ly tinh dầu dưới sự hỗ trợ của vi sóng trong quá trình chưng cất hơi nước:
Việc trích ly tinh dầu có thể thực hiện trong điều kiện có thể thêm nước hay không thêm nước vào bình chưng cất vẫn được. nhưng trong quá trình chưng cất này ta thực hiện quá trình ly trích vẫn cho nước vào bình thường để so sánh ưu điểm của việc trích ly dưới sự hỗ trợ của lò vi sóng với việc trích ly bằng phương pháp cổ điển.
-   Về thời gian: ta thấy thời gian trích ly tinh dầu dưới sự hỗ trợ của lò vi sóng nhanh hơn nhiều so với phương pháp cổ điển. Qua thực nghiệm ta thấy  thời gian trích ly của vi sóng nhanh hơn 2-3 lần thời gian chưng cất bằng phương pháp cổ điển. Vì khi trích ly tinh dầu bằng phương pháp vi sóng ngoài việc gia nhiệt bình thường, bên cạnh đó còn có công suất đạt tới 900W trong khi đó trích ly bằng phương pháp cổ điển vẫn thực hiện thực hiện ở điều kiện gia nhiệt bình thường.
-   Về công suất:  vi sóng thực hiện ở 900W vì vậy nhiệt độ sử dụng cho quá trình chưng cất bằng vi sóng cho ta nhiệt độ đến 2500C trong khi đó trích ly bằng phương pháp cổ điển thì thực hiện ở nhiệt độ lên đến 4000C. Năng lượng điện dùng cho vi sóng tiết kiệm hơn 40 lần so với dùng bếp điện.Như vậy phương pháp vi sóng giúp ta tiết kiệm năng lượng hơn.
-   Về hiệu suất: ta thấy rằng hiệu suất của hai phương pháp này không chênh lệch nhau nhiều qua kết quả thực nghiêm.
-   Thiết bị vi sóng quá đắt chỉ có thể nghiên cứu chưa có tính thực tiễn sản xuất công nghiệp
-   Ưu điểm của sự đun nóng bằng vi sóng:
-   Không có quán tính nhiệt.
-   Năng lượng sạch,dễ chế tạo và dễ kiểm soát
-   Nhanh chóng.
-   Có tác dụng đặc biệt với các phân tử có cực.
Sự đun nóng bằng vi sóng chọn lọc, trực tiếp và nhanh chóng
Những hợp chất càng phân cực càng mau nóng dưới sự chiếu xạ của vi sóng. Vi sóng kích hoạt những phân tử phân cực, đặc biệt là nước. Nước bị đun nóng bởi sự hấp thu vi sóng và bốc hơi, tạo ra áp suất cao tại nơi tác dụng, làm cho nước di chuyển từ tâm vật chất ra bề mặt của nó.
Với một cơ cấu có độ bất đối xứng cao, phân tử nước có độ phân cực mạnh, do đó nước là một chất rất lý tưởng, rất dễ đun nóng bằng vi sóng. Ngoài ra, các nhóm định chức phân cực như: -OH, -COOH, -NH2 ... trong các hợp chất hữu cơ cũng là những nhóm chịu sự tác động mạnh của trường điện từ.
Như vậy, với ưu điểm của việc trích ly tinh dầu dưới sự hỗ trợ của lò vi sóng, ta có thể tiết kiệm được thời gian và năng lượng rất nhiều so với việc trích ly tinh dầu bằng phương pháp cổ điển.
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 05, 2009, 11:39:19 PM
QUY TRÌNH TÁCH CITRAL TỪ TINH DẦU SẢ
Nguyên tắc chung
Phương pháp tách citral dựa vào nguyên tắc các hợp chất aldehyde cho phản cộng với natri bisulfit tạo sản phẩm cộng hợp dễ kết tinh ở nhiệt độ thường.

(http://lh6.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBqpSwchtI/AAAAAAAAASI/O9frgesbxbk/s720/untitled%27.jpg)

Sản phẩm cộng hợp là những chất rắn không tan trong nước ở pH trung tính, nhưng bị thủy phân trở lại dạng ban dầu trong acid loãng hay bazo loãng.

(http://lh3.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBrAZNl6VI/AAAAAAAAASQ/ztD1WHrBAGU/s720/untitled%27.jpg)
 Quy trình tách

(http://lh6.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBrnUrsyfI/AAAAAAAAASY/wN7-1Alndw8/s720/untitled%27.jpg)
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 15, 2009, 11:57:02 AM
Chiết xuất tinh dầu tiêu, quế, trầm theo phương pháp CO2 lỏng siêu tới hạn

Kết quả này giúp mở ra một triển vọng cho hướng khai thác các loại tinh dầu hương liệu ứng dụng cho các lĩnh vực như thực phẩm, mỹ phẩm, y học... đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu. 
Hướng nghiên cứu này vừa được TS. Nguyễn Ngọc Hạnh, KS. Mai Thành Chí của Viện công nghệ hóa học (Viện khoa học & công nghệ Việt Nam, chi nhánh TP.HCM) thực hiện thành công. Đây là lần đầu tiên, ở quy mô phòng thí nghiệm các nhà khoa học trong nước đã nghiên cứu xây dựng được quy trình chiết xuất tinh dầu và thiết kế chế tạo thiết bị (dung tích 2 lít) để thực hiện việc chiết xuất tinh dầu từ tiêu, quế, trầm hương bằng phương pháp mới -phương pháp CO2 lỏng siêu tới hạn. Kết quả này giúp mở ra một triển vọng cho hướng khai thác các loại tinh dầu hương liệu ứng dụng cho các lĩnh vực như thực phẩm, mỹ phẩm, y học... đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu.
    Tinh dầu tràm thu được bằng phương pháp CO2 lỏng siêu tới hạnTS. Nguyễn Ngọc Hạnh cho biết, từ trước đến nay để chiết tinh dầu người ta thường sử dụng phương pháp “lôi cuốn hơi nước”. Phương pháp này có thể lấy triệt để tinh dầu trong nguyên liệu, tuy nhiên lại có hạn chế là khó áp dụng đối với những cây có tinh dầu thuộc thành phần khó bay hơi như nhựa hay sáp, hoặc tinh dầu có thành phần hóa học không bền ở nhiệt độ cao. Khi áp dụng phương pháp “CO2 lỏng siêu tới hạn” thì những hạn chế vừa nêu đã được khắc phục: những thành phần không bền nhiệt được chiết xuất ra với sự phân hủy thấp; thời gian chiết xuất nhanh (30 đến 45 phút, nếu là phương pháp lôi cuốn hơi nước phải mất khoảng 40 giờ); có thể điều chỉnh được nhiệt độ và áp suất để có thể ly trích được những thành phần hóa học khác nhau theo ý muốn; ngoài ra CO2 còn có ưu điểm là được chấp nhận trong thực phẩm và dược phẩm; CO2 không cháy, không nổ, không mùi không màu nên không gây hư hại sản phẩm, sản phẩm hoàn toàn là thiên nhiên…
Ông Hồ Ngọc Vinh, giám đốc Công ty Tinh Đất Việt (Q. Tân Bình, TP.HCM) đã đánh  giá cao kết quả nghiên cứu này, và cho biết dự kiến sẽ phối hợp cùng Sở khoa học & công nghệ TP.HCM đầu tư thêm kinh phí cho TS. Nguyễn Ngọc Hạnh và nhóm cộng sự thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm (hoàn thiện công nghệ từ quy mô phòng thí nghiệm sang quy mô sản xuất, thiết kế thiết bị có công suất lớn - từ 2 lít ở quy mô phòng thí nghiệm nâng lên 50 lít…), sau đó sẽ đưa kết quả nghiên cứu này vào ứng dụng tại công ty.

   
Nguồn: Theo Vusta

Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Năm 15, 2009, 11:58:33 AM
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CHIẾT XUẤT &ỨNG DỤNG THỰC TIỄN
CỦA TINH DẦU TRÀM
********
+Tinh dầu tràm (Eucalypton): với các thành phần chủ yếu là cineol, eucalyptol..có tác dụng sát trùng mạnh đối với nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Vì thế tinh dầu tràm có tính sát trùng, được dùng chữa ho, kích thích tiêu hóa, đặc biệt là có công dụng rõ rệt trong việc chữa ho, long đờm. Eucalypton được đào thải chủ yếu qua đường hô hấp sau khi phân tán trong huyết tương. Hoa tràm chứa hơn 2% tinh dầu, vò nát trong tay tỏa mùi thơm, đem cất lên thành tinh dầu tràm.Tinh dầu tràm là một chất lỏng màu vàng xanh trong suốt, có hương thơm dễ chịu, dùng làm thuốc cao để xoa bóp, chữa đau nhức, cảm mạo, tiêu đờm, chứng tê thấp.Tinh dầu tràm là một trong các thành phần quan trọng của dầu cao Sao Vàng phổ biến
+ Phải sử dụng loại cây tràm nào để nghiên cứu?
- Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều loại tràm nhưng chủ yếu là tràm cừ, tràm gió và tràm úc (cây nhập khẩu). Để biết ứng dụng của tinh dầu tràm nào phải biết trong tinh dầu nào có hợp chất hóa học nào, nó có tác dụng như thế nào?
- Tràm cừ(var. macromelaleucetum): Cineol thấp, Terpinolen, - Pinen, - Terpinen, ít (-) Lenalool, nhưng nhiều Terpinen-4-ol, nhưng chất chịu trách nhiệm về kháng khuẩn theo chuyên gia Tiệp Khắc là (-) Linalool và Terpinen-4-ol.
- Tràm gió(var. micr-omelaleucetum): (Tìm sau)
- Tràm Úc-(Tràm trà)(Melaleuca alternifolia)(trên thị trường thường sử dụng tên tea tree oil): tinh dầu của nó có tác dụng kháng sinh và kháng khuẩn (xem thêm ở Chi tràm+ Tràm lá dài-Wikipedia tiếng Việt) hiệu quả cao trong điều trị dạng thuốc đắp, mặc dù nó có thể gây ngộ độc khi sử dụng dưới dạng thuốc uống với liều lượng lớn hay khi người bệnh là trẻ em. Trong một vài trường hợp, các sản phẩm thuốc đắp có thể bị hấp thụ theo đường da và gây ra ngộ độc.
Nhưng theo, dược sĩ Nguyễn Văn Bé, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Dược Liệu Đồng Tháp Mười thì nếu sản xuất dược phẩm thì nên dùng tràm gió, mỹ phẩm thì dùng tràm úc.
Nhưng hiện tại, thật sự mà nói(em mà cũng có thể là cô) chưa biết phân biệt loại tràm nào với tràm nào. Hôm em đi Cần Giờ ở đó cũng trồng tràm, nhưng Tràm hoa vàng, trong khi các loại tràm khác thì hoa trắng. Vậy nó là loại nào? Em cần làm rõ điều đó.
+ Các phương pháp trích ly tinh dầu:
- Tinh dầu tràm cừ được tự chiết xuất từ lá bằng phương pháp kéo theo hơi nước (Entrainement à la vapeur deau). Tẩy Phenol tự do ra khỏi tinh dầu bằng NaOH 5%, làm khan tinh dầu bằng natri sunfat khan. Lá Tràm Cừ được thu hái ở nhiều nơi: Nhà Bè, Cần Giờ, Tân Qui Ðông, Tân Trụ (Long An), Minh Hải.Tinh dầu tràm cừ sử dụng để thử nghiệm lâm sàng là từ lá cây Tràm Cừ ở Bến Lức.(Theo Trần Ngọc Tiếng-Hội dược học Việt Nam)
- Theo các thông tin hiện nay thì có một phương pháp cũng được dùng để chiết xuất tinh dầu tràm đó là phương pháp CO2 lỏng siêu tới hạn. Đây là nghiên cứu của TS. Nguyễn Ngọc Hạnh, KS. Mai Thành Chí của Viện công nghệ hóa học (Viện khoa học & công nghệ Việt Nam, chi nhánh TP.HCM) thực hiện thành công. Đây là lần đầu tiên, ở quy mô phòng thí nghiệm các nhà khoa học trong nước đã nghiên cứu xây dựng được quy trình chiết xuất tinh dầu và thiết kế chế tạo thiết bị (dung tích 2 lít) để thực hiện việc chiết xuất tinh dầu từ tiêu, quế, trầm hương bằng phương pháp mới -phương pháp CO2 lỏng siêu tới hạn. Kết quả này giúp mở ra một triển vọng cho hướng khai thác các loại tinh dầu hương liệu ứng dụng cho các lĩnh vực như thực phẩm, mỹ phẩm, y học... đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu. TS. Nguyễn Ngọc Hạnh cho biết, từ trước đến nay để chiết tinh dầu người ta thường sử dụng phương pháp “lôi cuốn hơi nước”. Phương pháp này có thể lấy triệt để tinh dầu trong nguyên liệu, tuy nhiên lại có hạn chế là khó áp dụng đối với những cây có tinh dầu thuộc thành phần khó bay hơi như nhựa hay sáp, hoặc tinh dầu có thành phần hóa học không bền ở nhiệt độ cao. Khi áp dụng phương pháp “CO2 lỏng siêu tới hạn” thì những hạn chế vừa nêu đã được khắc phục: những thành phần không bền nhiệt được chiết xuất ra với sự phân hủy thấp; thời gian chiết xuất nhanh (30 đến 45 phút, nếu là phương pháp lôi cuốn hơi nước phải mất khoảng 40 giờ); có thể điều chỉnh được nhiệt độ và áp suất để có thể ly trích được những thành phần hóa học khác nhau theo ý muốn; ngoài ra CO2 còn có ưu điểm là được chấp nhận trong thực phẩm và dược phẩm; CO2 không cháy, không nổ, không mùi không màu nên không gây hư hại sản phẩm, sản phẩm hoàn toàn là thiên nhiên… Ông Hồ Ngọc Vinh, giám đốc Công ty Tinh Đất Việt (Q. Tân Bình, TP.HCM) đã đánh  giá cao kết quả nghiên cứu này, và cho biết dự kiến sẽ phối hợp cùng Sở khoa học & công nghệ TP.HCM đầu tư thêm kinh phí cho TS. Nguyễn Ngọc Hạnh và nhóm cộng sự thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm (hoàn thiện công nghệ từ quy mô phòng thí nghiệm sang quy mô sản xuất, thiết kế thiết bị có công suất lớn - từ 2 lít ở quy mô phòng thí nghiệm nâng lên 50 lít…), sau đó sẽ đưa kết quả nghiên cứu này vào ứng dụng tại công ty.
-Và còn một phương pháp nữa, đó là phương pháp của dược sĩ Nguyễn Văn Bé. Nếu có thể, mình có thể xin xuống nhà máy để xem.
+ Các sản phẩm dược phẩm có tinh dầu tràm hiện có trên thị trường Việt Nam:
- Tinh dầu tràm (Cineol 55% min và Cineol 70% min) của công ty cổ phần dược Trung ương Mediplantex
- Melafix (Tinh dầu tràm) Melafix (nồng độ 1%) được sản xuất bởi hãng Aquarium Pharmaceuticals với thành phần chính là tinh dầu tràm(melaleuca) có tác dụng kháng khuẩn. Công dụng:
. Làm lành các vết thương và vết lở loét.
. Làm các vây mau lành.
. Chữa bệnh lở miệng (Flavobacterium, tên cũ. Flexibacter).
. Chữa bệnh thối vây.
. Chữa bệnh đục mắt.
. Không ảnh hưởng đến độ pH.
. An toàn đối với ốc và các loại động vật thân mềm trong các hồ cá cảnh nước ngọt và nước mặn.
. An toàn đối với cây thuỷ sinh.
. Không ảnh hưởng đến chức năng lọc sinh học.
Melafix dùng để điều trị cá bị bệnh hay bị thương, cá mới được thả vào hồ hay phòng bệnh cho cá mới mua hoặc vận chuyển. Liều sử dụng thích hợp là một muỗng trà/ 40 lít nước. Lập lại liều này sau 7 ngày. Sau 7 ngày, thay 25% nước. Nếu thấy cần thiết, có thể điều trị lâu hơn.
. Nếu sử dụng quá liều bốn lần thì niêm mạc ở mắt cá có thể bị bỏng làm mắt cá mờ đục. Mép vây bị cháy, cá bơi lồng lộn trong hồ.
. Melafix làm tăng độ căng bề mặt, đôi khi gây ra hiệu ứng sủi bọt.
. Bettafix là một sản phẩm thông dụng khác cũng có chứa tinh dầu tràm nhưng nồng độ chỉ bằng 1/3 so với Melafix. Nhiều người thích loại thuốc này vì nó có nồng độ nhẹ hơn nên khó bị sử dụng quá liều.
Ghi chú: bởi vì tên tiếng Anh của loại tinh dầu này là Tea Tree Oil nên nhiều người hiểu lầm là “tinh dầu trà”, thực ra đây là “tinh dầu tràm" (Melaleuca) và theo nghiên cứu của giáo sư Dthong thì hãng sản xuất đã không sử dụng tinh dầu Melaleuca alternifolia (như quảng cáo) mà sử dụng tinh dầu tràm Việt Nam Melaleuca cajuputi!
- Tinh dầu tràm (Cajeputi Oil)-sản phẩm của Công ty cổ phần Y-Dược phẩm Vimedimex
Thành phần: Sản phẩm được chiết xuất từ lá tràm
Thu hoạch: quanh năm
Đặc tính: chất lỏng, trong suốt, khơng màu. Mùi thơm đặc trưng; Vị cay nồng.
Hàm lượng Cineol: trên 89%
Tiêu chuẩn: DĐVN
- Thuốc ho Eugica-dạng nang mềm, chữa ho và cảm cúm của công ty Dược Hậu Giang. Thành phần thuốc gồm có tinh dầu tràm (Eucalypton), bạc hà (Menthol) gừng và húng chanh,... Y học cổ truyền đã chứng minh được cây tràm, bạc hà, gừng và húng chanh là các loại thảo dược có công dụng đặc biệt trong việc chữa trị các bệnh ho. Việc sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc từ thiên nhiên trong việc chữa bệnh ho như viên nang Eugica rất an toàn cho người bệnh do các thành phần của thuốc là các chiết xuất có lợi: hết bệnh và không gây tác dụng phụ. Công dụng dưới đây của từng loại thảo dược được bào chế có trong thành phần của viên Eugica đã giúp các bác sỹ chuyên khoa trong hệ thống bệnh viện đa khoa trên toàn quốc khuyên dùng đối với bệnh nhân có các triệu chứng ho.
+ Các thiết bị mà trong phòng thí nghiệm
Tiêu đề: Giup minh voi!
Gửi bởi: trieuthieulong trong Tháng Sáu 11, 2009, 12:36:43 AM
minh dang can 1chat co lien ket O-glycoside cua Fructo voi terpeniod hay Steroid hay Alkaloid... sao minh kiem tren web may ngay rui ma hok co
Tiêu đề: KỸ THUẬT SẢN XUẤT TINH DẦU
Gửi bởi: abchemical trong Tháng Mười 06, 2009, 07:09:18 PM
Nguyên liệu :
Đặc tính chung và phân loại :
Nguyên liệu tinh dầu là các loại thực vật có chứa tinh dầu. Trong thực vật, tinh dầu có thể ở hoa, lá, rễ, thân, củ...Có một số thực vật trong mọi bộ phận của cây đều có chứa tinh dầu. Để khai thác chúng trong công nghiệp, người ta sử dụng bộ phận nào trong cây có chứa nhiều tinh dầu nhất và tinh dầu có chất lượng cao nhất. Hàm lượng tinh dầu trong thực vật thường không lớn lắm, có loại chứa 15 % và có loại chỉ vài phần nghìn. Những nguyên liệu chứa tinh dầu ít thường quí và đắt tiền (tinh dầu hoa hồng...).
Tinh dầu là hỗn hợp các hợp chất hữu cơ có mùi thơm, mùi thơm của tinh dầu là mùi của cấu tử có nhiều trong tinh dầu (cấu tử chính). Ví dụ: mùi của tinh dầu hoa hồng là mùi của phenyl etilic (cấu tử chính), mùi của tinh dầu hoa nhài là mùi của jasmin, mùi của tinh dầu chanh là mùi của limonen (chiếm khoảng 90% trong tinh dầu chanh). Đa số tinh dầu thường rất dễ bay hơi với hơi nước, có mùi thơm, không hòa tan trong nước và khối lượng riêng thường nhỏ hơn nước. Có một vài tinh dầu có khối lượng riêng lớn hơn nước như tinh dầu quế, tinh dầu đinh hương... Vì những lý do trên người ta thường dùng phương pháp chưng cất để tách tinh dầu.
Khác với dầu béo, thành phần của tinh dầu là những hợp chất thuộc dãy tecpen, công thức chung là (C10H16)n và những dẫn xuất có chứa oxy của tecpen như rượu, xêton, andehyt. Còn dầu béo là các hợp chất thuộc dãy parafin, olêfin... không thuộc dãy tecpen. Dầu béo không bay hơi với hơi nước nên không chưng cất được, dầu béo sau khi tinh chế thường không có mùi thơm đặc trưng, thường trong quá trình bảo quản dầu béo, dầu có thể có mùi do bị ôi khét, hư hỏng.
Người ta phân loại nguyên liệu chứa tinh dầu ra thành các loại như sau:
* Nguyên liệu quả và hạt: hồi, mùi, màng tang...
* Nguyên liệu lá, cành: sả, bạc hà, hương nhu...
* Nguyên liệu rễ, củ: gừng, long não (nhiều nhất ở rễ)
* Nguyên liệu vỏ: cam, chanh, quýt...
* Nguyên liệu hoa: hoa hồng, hoa nhài...
Giới thiệu một số nguyên liệu chứa tinh dầu:
* Hồi: hoa có hình sao, trồng nhiều ở Lạng sơn, Cao bằng, hàm lượng tinh dầu 13  15% (tính theo hoa khô), 3  3,5% (tính theo hoa tươi). Tinh dầu hồi dùng để chế biến rượu mùi, dùng trong y dược (cồn xoa bóp), dùng làm chất phụ gia trong kem đánh răng.
* Sả: là một loại cây thân thảo, sống một vài năm, trồng bằng tép. Sau khi trồng 3  4 tháng thì thu hoạch lá và cứ 40  45 ngày thu hoạch một lứa, năng suất bình quân 50 tấn lá/ha. Hàm lượng tinh dầu 0,7  1,5%, thành phần chính của tinh dầu sả là geraniol (23%) và xitronenlal (32  35%). Lá sả thường được chưng cất ở dạng tươi hoặc khô. Sả trồng được ở vùng đồi núi vì chịu được khô hạn.
* Bạc hà: là loại cây thân thảo sống được vài năm, sau khi trồng vài tháng có thể thu hoạch được. Hàm lượng tinh dầu 1,3  1,6%, cấu tử chính là mentol (70  90%).Tinh dầu bạc hà được dùng trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm.
* Quế: trồng nhiều ở Quảng ninh, Yên bái, Quảng nam, Quảng ngãi. Vỏ và lá đều có chứa tinh dầu nhưng nhiều nhất là ở vỏ. Để sản xuất tinh dầu người ta thường dùng cành và vỏ vụn. Hàm lượng tinh dầu ở vỏ khô 1  2,5%, ở lá 0,2  0,5%. Cấu tử chính của tinh dầu quế là anđêhyt xinamic (90%). Tinh dầu quế được dùng trong công nghiệp thực phẩm (gia vị) và trong dược phẩm.
Thu hoạch, bảo quản và chế biến sơ bộ:
Nguyên liệu chứa tinh dầu cần phải thu hoạch vào lúc có nhiều tinh dầu nhất và tinh dầu có chất lượng cao nhất. Tùy theo dạng nguyên liệu mà người ta xác định độ chín kỹ thuật để thu hoạch, thường thu hoạch vào lúc sáng sớm, lúc tan sương (vì trong ngày hàm lượng tinh dầu giảm dần từ sáng đến tối). Khi thu hoạch cần tránh làm dập nát và lẫn tạp chất. Thu hoạch xong cần đưa về cơ sở sản xuất ngay. Trong quá trình vận chuyển cần cẩn thận để tránh hư hỏng nguyên liệu. Các cơ sở sản xuất không nên quá xa vùng nguyên liệu (<20Km). Một số nguyên liệu sau khi thu hoạch nếu chế biến ở dạng khô cần phải phơi hoặc sấy khô. Mục đích của việc phơi sấy là làm bay hơi nước để bảo quản được lâu dài. Khi thu nhận nguyên liệu cần chú ý đến độ tươi của nguyên liệu, sau khi thu hoạch nếu chưa chế biến cần rải mỏng nguyên liệu, tránh chất đống để phòng ngừa hiện tượng tự bốc nóng.
Để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được tốt, nguyên liệu cần phải được chế biến sơ bộ, quá trình này gồm:
* Làm sạch tạp chất: thường dùng phương pháp sàng phân loại
* Nghiền: Tinh dầu trong thực vật thường nằm trong các mô của tế bào, vì thế nghiền nhằm mục đích để giải phóng tinh dầu ra khỏi mô để khi tiến hành sản xuất thì tinh dầu đễ thoát ra ngoài, từ đó rút ngắn qui trình sản xuất. Để nghiền người ta thường dùng máy nghiền búa hoặc nghiền trục. Nghiền càng nhỏ thì hiệu suất phá vỡ các tế bào càng cao nhưng dễ gây tắc ống dẫn hơi (tinh dầu + nước) và độ xốp bé làm ảnh hưởng đến quá trình chưng cất. Mức độ nghiền được biểu diễn bằng dung trọng (trọng lượng của một đơn vị thể tích nguyên liệu). Mỗi nguyên liệu có một dung trọng thích hợp và được xác định trong phòng thí nghiệm.
(sưu tầm)
Tiêu đề: Kỹ thuật khai thác tinh dầu
Gửi bởi: abchemical trong Tháng Mười 06, 2009, 07:12:38 PM
Summary: Phần này trình bày các phương pháp khai thác tinh dầu

       

       

   
Các phương pháp khai thác tinh dầu:

   
Tùy thuộc từng loại nguyên liệu và trạng thái của tinh dầu trong nguyên liệu (tự do hoặc kết hợp) mà người ta dùng các phương pháp khác nhau để tách chúng.

   
Các phương pháp tách tinh dầu cần phải đạt được những yêu cầu cơ bản như sau:

   
* Giữ cho tinh dầu thu được có mùi vị tự nhiên ban đầu,

   
* Qui trình chế biến phải phù hợp, thuận lợi và nhanh chóng,

   
* Phải tách được triệt để tinh dầu trong nguyên liệu, tổn thất tinh dầu trong quá trình chế biến và hàm lượng tinh dầu trong nguyên liệu sau khi chế biến (bã) càng thấp càng tốt,

   
* Chi phí đầu tư vào sản xuất là ít nhất.

   
Dựa vào các yêu cầu đã nêu trên, người ta thường dùng những phương pháp khai thác tinh dầu sau:

   
* Phương pháp hóa lý: chưng cất và trích ly ( trích ly có thể dùng dung môi bay hơi hoặc dung môi không bay hơi)

   
* Phương pháp cơ học: dùng các quá trình cơ học để khai thác tinh dầu như ép, bào nạo.

   
* Phương pháp kết hợp: khai thác tinh dầu bằng cách kết hợp giữa quá trình hóa lý và quá trình cơ học, hoặc sinh hóa (lên men) và cơ học, hoặc sinh hóa và hóa lý. Ví dụ, trong quả vani, tinh dầu ở dạng liên kết glucozit nên dùng enzym để thủy phân, phá hủy liên kết này rồi sau đó dùng phương pháp chưng cất (hóa lý) để lấy tinh dầu.

   
Tách tinh dầu bằng phương pháp chưng cất (hóa lý):
a. Những hiểu biết cơ bản về quá trình chưng cất tinh dầu: Tinh dầu là một hỗn hợp gồm nhiều cấu tử tan lẫn vào nhau. Trong quá trình chưng cất, cùng với sự thay đổi thành phần của hỗn hợp lỏng có thể làm thay đổi thành phần của hỗn hợp hơi. Trong điều kiện áp suất không đổi, dung dịch lỏng mà ta thu được bằng cách ngưng tụ hỗn hợp hơi bay ra sẽ có thành phần cấu tử dễ bay hơi cao hơn so với chất lỏng ban đầu, nếu tiếp tục chưng cất thì càng ngày thành phần dễ bay hơi trong chất lỏng ban đầu càng ít và trong chất lỏng sau ngưng tụ càng nhiều. Nếu ngưng tụ theo thời gian thì ta có thể thay đổi thành phần của tinh dầu sau ngưng tụ so với thành phần của tinh dầu có trong nguyên liệu. Việc làm này nhằm mục đích nâng cao chất lượng tinh dầu. Ví dụ, yêu cầu của tinh dầu sả là hàm ượng xitronenlal phải >35% nhưng tinh dầu của ta thường chỉ đạt 32 %, do đó có thể dùng phương pháp chưng cất ngưng tụ theo thời gian để nâng cao hàm lượng xitronenlal trong tinh dầu sả.
b. Các dạng chưng cất tinh dầu: có 3 dạng chưng cất tinh dầu như sau:
* Chưng cất với nước: Nguyên liệu và nước cùng cho vào một thiết bị. Khi đun sôi, hơi nước bay ra sẽ cuốn theo tinh dầu, ngưng tụ hơi bay ra sẽ thu được hỗn hợp gồm nước và tinh dầu, hai thành phần này không tan vào nhau nên dễ dàng tách ra khỏi nhau.
Phương pháp này đơn giản, thiết bị rẻ tiền và dễ chế tạo, phù hợp với những cơ sở sản xuất nhỏ, vốn đầu tư ít. Tuy nhiên, phương pháp này còn một vài nhược điểm như hiệu suất thấp, chất lượng tinh dầu không cao do nguyên liệu tiếp xúc trực tiếp với thiết bị nên dễ bị cháy khét, khó điều chỉnh các thông số kỹ thuật như tốc độ và nhiệt độ chưng cất.
* Chưng cất bằng hơi nước không có nồi hơi riêng: Nguyên liệu và nước cùng cho vào một thiết bị nhưng cách nhau bởi một vỉ nồi. Khi đun sôi, hơi nước bốc lên qua khối nguyên liệu kéo theo tinh dầu và đi ra thiết bị ngưng tụ. Để nguyên liệu khỏi rơi vào phần có nước ta có thể lót trên vỉ 1 hay nhiều lớp bao tải tùy theo từng loại nguyên liệu. Phương pháp nay phù hợp với những cơ sở sản xuất có qui mô trung bình.
So với phương pháp trên, phương pháp này có ưu điểm hơn, nguyên liệu ít bị cháy khét vì không tiếp xúc trực tiếp với đáy thiết bị, các nhược điểm khác vẫn chưa khắc phục được. Phương pháp này thích hợp cho những loại nguyên liệu không chịu được nhiệt độ cao.
* Chưng cất bằng hơi nước có nồi hơi riêng: Phương pháp này phù hợp với những cơ sở sản xuất lớn, hơi nước được tạo ra từ một nồi hơi riêng và được dẫn vào các thiết bị chưng cất.
Phương pháp này cùng một lúc có thể phục vụ được cho nhiều thiết bị chưng cất, điều kiện làm việc của công nhân nhẹ nhàng hơn, dễ cơ khí hóa và tự động hóa các công đoạn sản xuất, khống chế tốt hơn các thông số công nghệ, rút ngắn được thời gian sản xuất. Ngoài ra, phương pháp này đã khắc phục được tình trạng nguyên liệu bị khê, khét và nếu theo yêu cầu của công nghệ thì có thể dùng hơi quá nhiệt, hơi có áp suất cao để chưng cất. Tuy nhiên, đối với một số tinh dầu trong điều kiện chưng cất ở nhiệt độ và áp suất cao sẽ bị phân hủy làm giảm chất lượng. Hơn nữa, các thiết bị sử dụng trong phương pháp này khá phức tạp và đắt tiền.
c. Những ưu nhược điểm chung của phương pháp chưng cất:
* Ưu điểm:
- Thiết bị khá gọn gàng, dễ chế tạo, qui trình sản xuất đơn giản,
- Trong quá trình chưng cất, có thể phân chia các cấu tử trong hỗn hợp bằng cách ngưng tụ từng phần theo thời gian,
- Thời gian chưng cất tương đối nhanh, nếu thực hiện gián đoạn chỉ cần 5-10 giờ, nếu liên tục thì 30 phút đến 1 giờ,
- Có thể tiến hành chưng cất với các cấu tử tinh dầu chịu được nhiệt độ cao.
* Nhược điểm:
- Không áp dụng phương pháp chưng cất vào những nguyên liệu có hàm lượng tinh dầu thấp vì thời gian chưng cất sẽ kéo dài, tốn rất nhiều hơi và nước ngưng tụ,
- Tinh dầu thu được có thể bị giảm chất lượng nếu có chứa các cấu tử dễ bị thủy phân,
- Không có khả năng tách các thành phần khó bay hơi hoặc không bay hơi trong thành phần của nguyên liệu ban đầu mà những thành phần này rất cần thiết vì chúng có tính chất định hương rất cao như sáp, nhựa thơm...
- Hàm lương tinh dầu còn lại trong nưóc chưng (nước sau phân ly) tương đối lớn,
- Tiêu tốn một lượng nước khá lớn để làm nhưng tụ hỗn hợp hơi.
c. Qui trình công nghệ chưng cất tinh dầu: Tùy theo từng loại nguyên liệu mà qui trình chưng cất có những điểm khác nhau nhất định. Nhìn chung, qui trình chưng cất tinh dầu phải có những công đoạn cơ bản sau:
NGUYÊN LIỆU
XỬ LÝ
CHƯNG CẤT Hơi
HỖN HỢP HƠI
NGƯNGTỤ Nước
TINH DẦU + NƯỚC
PHÂN LY
NƯỚC CHƯNG TINH DẦU THÔ
Nước thải XỬ LÝ TINH CHẾ
TD LOẠI II TD THÀNH PHẨM
Trước khi sản xuất cần kiểm tra thật cẩn thận thiết bị chưng cất, chú ý xem nắp, vòi voi có kín không, phần ngưng tụ có bị tắc, rò rỉ không, sau đó tiến hành làm vệ sinh thiết bị.
Ba công đoạn cơ bản của quá trình chưng cất tinh dầu (chưng cất gián đoạn) gồm: nạp liệu, chưng cất, tháo bả.
* Nạp liệu: Nguyên liệu từ kho bảo quản được nạp vào thiết bị, có thể làm ẩm nguyên liệu trước khi nạp vào thiết bị để thuận lợi cho quá trình chưng cất. Việc nạp liệu có thể thực hiện bằng thủ công hoặc cơ giới, có thể nạp trực tiếp vào thiết bị hoặc nạp gián tiếp qua một giỏ chứa rồi cho vào thiết bị bằng tời hoặc cẩu. Nguyên liệu nạp vào thiết bị không được chặt quá làm cho hơi khó phân phối đều trong toàn bộ khối nguyên liệu và không được quá lỏng, quá xốp sẽ làm cho hơi dễ dàng theo những chỗ rỗng đi ra mà không tiếp xúc với toàn khối nguyên liệu. Đối với nguyên liệu lá, cỏ khi cho vào thiết bị có thể nén chặt, trước khi nén nên xổ tung để tránh hiện tượng rỗng cục bộ. Nạp liệu xong đóng chặt mặt bích nối thiết bị với nắp, nên vặn chặt theo nguyên tắc đối nhau để nắp khỏi chênh.
* Chưng cất: Khi bắt đầu chưng cất, mở van hơi cho hơi vào thiết bị, lúc đầu mở từ từ để đuổi không khí trong thiết bị và làm cho hơi phân phối đều trong toàn bộ khối nguyên liệu. Ngoài ra, mở từ từ van hơi để nguyên liệu không bị cuốn theo hơi gây tắc ống dẫn hỗn hợp hơi.
Trong quá trình chưng cất, cần chú ý điều chỉnh nhiệt độ dịch ngưng sao cho nằm trong khoảng 30-400C (bằng cách điều chỉnh tốc độ nước làm lạnh) vì nếu dịch ngưng quá nóng sẽ làm tăng độ hòa tan của tinh dầu vào nước và làm bay hơi tinh dầu. Để kiểm tra quá trình chưng cất kết thúc chưa người ta có thể dùng một tấm kính hứng một ít dịch ngưng, nếu thấy trên tấm kính còn váng dầu thì quá chưng cất chưa kết thúc.
* Tháo bả: Tháo nắp thiết bị, tháo vỉ trên rồi dùng tời kéo giỏ chứa bã ra, kiểm tra và châm thêm nước nếu cần thiết (nước châm thường là nước sau khi phân ly tinh dầu) rồi cất mẻ khác.
Hỗn hợp tinh dầu và nước được cho vào thiết bị phân ly. Sau phân ly ta được tinh dầu thô và nước chưng. Tinh dầu thô được xử lý để được tinh dầu thành phẩm, nước chưng cho ra bể tiếp tục phân ly để thu tinh dầu loại II
d. Hệ thống thiết bị chưng cất tinh dầu: Gồm các bộ phận sau: thiết bị chưng cất, bộ phận tạo nhiệt cho TBCC, thiết bị ngưng tụ, thiết bị phân ly.
Hệ thống thiết bị chưng cất phải đảm bả́o sao cho quá trình chưng cất được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi, hỗn hợp hơi bay ra phải đảm bảo chứa nhiều tinh dầu, vì thế hệ thống phải có cấu tạo sao cho để hơi nước tiếp xúc đều trong toàn bộ khối nguyên liệu. Thiết bị phải có cấu tạo sao cho việc thao tác được dễ dàng và tốn ít lao động. Trong thực tế sản xuất, người ta thường dùng thiết bị chưng cất có dạng hình trụ, tỉ lệ giữa đường kính và chiều cao thiết bị (D/H)̣ phụ thuộc vào loại nguyên liệu. Cụ thể như sau:
- D/H = 1  1,7 : Đối với loại nguyên liệu lá, cành, thân nhỏ, hoa,
- D/H = 1  2: Đối với nguyên liệu hạt.
Trong công nghệ chưng cất tinh dầu, các thiết bị chưng cất thường có các dạng sau:
(http://www.vocw.edu.vn/content/m10261/latest/graphics1.png)
Tiêu đề: Re: KỸ THUẬT SẢN XUẤT TINH DẦU
Gửi bởi: abchemical trong Tháng Mười 06, 2009, 07:14:28 PM
IIIIIIIVLoại I : Nguyên liệu được phân bố đều, hơi ra tập trung nhưng khó cho nguyên liệu vào,
Loại II: Không phổ biến, thường dùng để chưng cất hoa hồng (do tạo bọt nên phải có chiều cao), nguyên liệu cho vào dễ dàng nhưng diện tích đốt bé (nếu đốt ngoài trực tiếp),
Loại III: Tiện lợi khi chưng cất với nước vì diện tích sôi lớn nhưng năng suất không lớn lắm,
Loại IV: Dùng phổ biến nhất, có khả năng nâng cao năng suất thiết bị bằng cách kéo dài thiết bị, mở rộng dung tích dễ dàng.
Thường thì thể tích của thiết bị chưng cất khoảng 1,5  15 m3. Tuy nhiên, nếu thể tích thiết bị lớn quá thì việc nạp liệu và tháo bả phải được cơ giới hóa để tiết kiệm thời gian. Ở nước ta, hiện nay các thiết bị chưng cất có thể tích < 3 m3 khối, do đó việc cung cấp nhiệt và vận hành khá dễ dàng.
Thiết bị chưng cất thường có các bộ phận sau:
Nắp: có thể là hình chóp (I), chỏm cầu (II) hoặc elip
(http://www.vocw.edu.vn/content/m10261/latest/graphics2.png)
Nắp phải có cấu tạo sao cho hơi thoát ra được dễ dàng và nhanh chóng. Nếu hỗn hợp hơi nằm lâu trong thiết bị sẽ sinh ra hiện tượng quá nhiệt làm tinh dầu giảm chất lượng. Ngoài ra, nắp phải đảm bảo kín khi ghép với thân thiết bị. Giữa nắp và thân thiết bị có thể vặn chặt bằng bu lông có đệm. Tuy nhiên, cũng phải tốn thời gian để vặn khi tháo dỡ. Trong điều kiện chưng cất ở áp suất dư 20-30 mmHg thì người ta thường dùng van nước (III) là thích hợp hơn.
Cổ nồi, vòi voi: Cổ nồi và vòi voi có thể là hai bộ phận riêng biệt hay chung, cổ nồi có hình dáng sao cho hướng hỗn hợp hơi ra nhanh. Đối với những loại nguyên liệu tạo bọt hoặc bụi trong khi chưng cất thì cổ nồi phải có bộ phận thay đổi tốc hơi và phải có thêm lưới chắn bụi. Các loại cổ nồi thường có hình dáng sau:
(http://www.vocw.edu.vn/content/m10261/latest/graphics3.png)
Chiều dài của vòi voi thay đổi từ 1,5-3 m, nghiêng về phía thiết bị ngưng tụ
với độ dốc 1-3 độ, đường kính nhỏ dần để hỗn hợp hơi thoát ra dễ dàng. Chiều dài của vòi voi phải thích hợp, nếu ngắn quá sẽ tạo áp suất dư trong thiết bị, dài quá sẽ có hiện tượng ngưng tụ giữa chừng, hơi thoát ra chậm, ảnh hưởng đến tốc độ chưng cất và giảm chất lượng tinh dầu.
Đáy nồi: Có cấu tạo giống nắp nồi, đáy nồi phải có cấu tạo sao cho việc tháo nước ngưng tụ được dễ dàng (nếu chưng cất gián tiếp). Trong trường hợp chưng cất trực tiếp thì đáy nồi phải có bộ phận phun hơi.
(http://www.vocw.edu.vn/content/m10261/latest/graphics4.png)
Nếu chưng cất với hơi nước mà không có nồi hơi riêng thì đáy nồi là bộ phận đốt nóng tạo hơi, do đó đáy nồi phải có cấu tạo sao cho diện tích truyền nhiệt lớn nhất.
* Vỉ nồi: Để đỡ khối nguyên liệu, giữ cho nguyên liệu khỏi rơi xuống đáy nồi làm tắc ống dẫn hơi, chiều dày của vỉ nồi từ 8  10 mm, mặt vỉ được đột hoặc khoan lổ hoặc có thể được làm bằng những thanh sắt đan. Thường thì tiết diện các lổ vỉ bằng 1/2 diện tích của bề mặt vỉ.
* Ống phân phối hơi: Ống phân phối hơi thường có nhiều dạng khác nhau, có thể hình tròn, xoắn ốc hay chữ thập. Các lổ phân phối hơi bố trí so le thành 2 hàng hướng về phía đáy nồi cất để cho hơi phân phối đều và lổ khỏi bị tắc do nguyên liệu rơi vào. Tổng tiết diện các lổ phân phối hơi bằng 2 lần tiết diện ống phân phối hơi, tiết diện của ống phân phối hơi lấy bằng tiết diện của ống dẫn hơi vào thiết bị và được xác định theo lượng hơi nước cần thiết dùng để chưng cất trong 1 giờ. Tốc độ hơi ở đây thường là 20m/s.
Vật liệu làm nồi cất ảnh hưởng khá lớn đến chất lượng tinh dầu thành phẩm, nhất là về màu sắc, một số muối kim loại tác dụng với tinh dầu sẽ cho màu khác với màu sắc tự nhiên của tinh dầu. Do đó vật liệu làm nồi cất phải không tác dụng hóa học với tinh dầu nhất là ở các bộ phận tiếp xúc trực tiếp với tinh dầu như cổ nồi, vòi voi..các bộ phận này phải được chế tạo bằng thép không rỉ hoặc sắt tráng men, các bộ phận khác (thân, đáy..) có thể làm bằng thép CT3.
Ngoài ra, trong quá trình chưng cất cũng cần phải chú ý một số điểm như sau:
- Tinh dầu dễ hấp thụ mùi lạ nên thiết bị chưng cất phải được làm vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt khi thay đổi nguyên liệu cần phải làm vệ sinh TB thật kỹ lưỡng để không còn mùi của nguyên liệu trước, thường thì dùng hơi để xông vào TB để đuổi hết mùi lạ. Tinh dầu chứa các axit hữu cơ sẽ gây ăn mòn TB, do đó khi ngừng sản xuất phải tháo hết nước ngưng tụ và làm khô thiết bị,
- Thiết bị phải được cách nhiệt tốt để tiết kiệm năng lượng.
Thiết bị ngưng tụ: Hỗn hợp hơi tinh dầu và nước từ thiết bị chưng cất qua vòi voi vào thiết bị ngưng tụ, ở đây hỗn hợp hơi sẽ truyền ẩn nhiệt bốc hơi cho nước lạnh và ngưng tụ thành nước. Thiết bị ngưng tụ thực hiện hai nhiêm vụ: ngưng tụ hỗn hợp hơi thành lỏng và hạ nhiệt độ hỗn hợp lỏng vừa ngưng xong đến nhiệt độ yêu cầu. Hai quá trình này thường không có ranh giới rõ rệt nhưng để tiện cho việc tính toán ta xem hai quá trình này nối tiếp nhau. Theo thực tế sản xuất, người ta rút ra những số liệu thực nghiệm sau:
- 1 m3 thế tích của thiết bị chưng cất cần 2  2,5 m2 diện tích làm lạnh,
- 1 m2 diện tích làm lạnh sẽ ngưng tụ được 25 lít hỗn hợp TD + nước trong 1 giờ,
- 1 lít hỗn hợp TD + nước ngưng tụ được cần 10  28 lít nước dùng làm lạnh (tính nhiệt độ nước làm lạnh 10  150C)
Trong sản xuất tinh dầu, người ta thường dùng các loại TB ngưng tụ kiểu ống xoắn ruột gà, ống chùm, TB ngưng tụ loại đĩa.
Thiết bị truyền nhiệt loại đĩa có cấu tạo như sau:
Các đĩa được thường được chế tạo bằng đồng lá
hay nhôm, cách tính toán tương tự như đã học trong QTTB
Cần chú ý khi chọn nhiệt độ nước làm lạnh nên chọn nhiệt
độ nước ở mùa nóng nhất. Hỗn hợp lỏng sau ngưng tụ phải
có nhiệt độ không lớn hơn 400C, nếu lớn hơn nhiệt độ
này thì khả năng hòa tan tinh dầu trong nước lớn, nếu nhiệt
độ hỗn hợp quá thấp thì sẽ tốn nước làm nguội đồng thời
một số tinh dầu sẽ bị đông đặc gây tắc ống truyền nhiệt, do đó nên chọn trong khoảng 35  400C.
Khi làm việc với thiết bị ngưng tụ cũng cần phải tuân thu ̉theo những chế độ về vệ sinh và bảo dưỡng TB như đối với TB chưng cất. Ngoài ra, nước làm nguội sau khi ra khỏi thiết bị ngưng tụ giảm độ cứng nên cho về nồi hơi để tiết kiệm nước.
Thiết bị phân ly: Thiết bị này dùng để phân tinh dầu và nước thành từng lớp riêng biệt, tùy thuộc vào khối lượng riêng của tinh dầu lớn hay nhỏ hơn so với nước mà tinh dầu sẽ được lấy ra ở phần trên hay phần dưới của thiết bị phân ly. Người ta thường dùng các thiết bị phân ly như sau:
(http://www.vocw.edu.vn/content/m10261/latest/graphics5.png)
Tiêu đề: Re: KỸ THUẬT SẢN XUẤT TINH DẦU
Gửi bởi: abchemical trong Tháng Mười 06, 2009, 07:16:14 PM
IIIIIIII: TBPL tinh dầu nhẹ hơn nước
II: TBPL tinh dầu nặng hơn nước
III: TBPL có nhiều ngăn
Thể tích của thiết bị phân ly thường chọn bằng 3  10% thể tích của thiết bị chưng cất. Tỉ lệ giữa chiều cao của thiết bị phân ly với đường kính của thiết bị chưng cất thường là 1/2. Ống tháo tinh dầu và nước cần bố trí sao cho tinh dầu và nước chảy thành dòng riêng biệt (thường theo kinh nghiệm, tùy thuộc vào hàm lượng tinh dầu trong nguyên liệu).
Khi tính toán, nếu thấy thể tích của thiết bị phân ly lớn hơn 80 lít thì nên dùng loại thiết bị phân ly có nhiều ngăn hoặc nhiều thiết bị phân ly để quá trình phân ly được thuận tiện hơn.
e. Xử lý tinh dầu thô sau khi chưng cất: Tinh dầu ra khỏi thiết bị phân ly là tinh dầu thô, còn chứa nhiều tạp chất như nước, một số các hợp chất hữu cơ như chất màu, nhựa, sáp hòa tan vào nên để nâng cao chất lượng tinh dầu và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình bảo quản tinh dầu phải tiến hành xử lý tinh dầu, quá trình này gồm các công đoạn sau:
- Lắng: Mục đích của quá trình này là tách bớt các tạp chất vô cơ, hữu cơ và một số tạp chất khác lẫn vào tinh dầu. Thời gian lắng 24  48 giờ trong các thiết bị lắng có đáy hình côn
TD thô
 TD sau lắng
Tạp chất
- Lọc: Mục đích của quá trình lọc cũng để tách các tạp chất vô cơ, hữu cơ có kích thước nhỏ, thường dùng thiết bị lọc khung bản để thực hiện quá trình lọc.

    * Sấy khô nước: Sau khi lắng lọc xong, trong tinh dầu vẫn còn lại một lượng nước ở dạng phân tán hoặc hòa tan, vì vậy cần phải sấy khô nước trong tinh dầu. Người ta thường dùng Natri sunphat khan với hàm lượng 2,5  5,5% tùy theo hàm lượng nước có trong tinh dầu. Để thực hiện việc sấy khô nước trong tinh dầu có thể dùng phương pháp gián đoạn hoặc liên tục.

(I)  (II)
I: Thiết bị làm việc gián đoạn, sau khi làm khô nước, đem lọc để tách Na2SO4.
II: Thiết bị làm việc liên tục, Na2SO4 nằm giữa 2 lớp lưới.
Sau khi tách nước xong, Na2SO4 được đem đi sấy khô để sử dụng lại.
Tinh dầu sau khi lắng lọc và sấy khô nếu có màu trong sáng thì nhập kho bảo quản, nếu có màu sẩm, xấu thì dùng than hay đất hoạt tính để hấp phụ màu. Tùy thuộc vào cường độ màu mà có thể dùng lượng than từ 1  2 %.

   
Tách tinh dầu bằng phương pháp trích ly
a. Mở đầu: Trích ly là dùng những dung môi hữu cơ hòa tan các chất khác, sau khi hòa tan, ta được hỗn hợp gồm dung môi và chất cần tách, đem hỗn hợp này tách dung môi ta sẽ thu được chất cần thiết. Cơ sở lý thuyết của quá trình trích ly là dựa vào sự khác nhau về hằng số điện môi của dung môi và chất cần trích ly. Những chất có hằng số điện môi gần nhau sẽ dễ hòa tan vào nhau. Tinh dầu có hằng số điện môi dao động từ 2  5 và các dung môi hữu cơ có hằng số điện môi dao động từ 1,5  2. Trong công nghiệp sản xuất tinh dầu, phương pháp này dùng để tách tinh dầu trong các loại hoa (hàm lượng tinh dầu ít). Phương pháp này có thể tiến hành ở nhiệt độ thường (khi trích ly) và có thể lấy được những thành phần quí như sáp, nhựa thơm trong nguyên liệu mà phương pháp chưng cất không thể tách được. Vì thế, chất lượng của tinh dầu sản xuất bằng phương pháp này khá cao.
Bản chất của quá trình trích ly là quá trình khuếch tán nên người ta thường dựa vào các định luật khếch tán của FICK để giải thích và tính toán.
Chất lượng của tinh dầu thu được bằng phương pháp trích ly phụ thuộc rất nhiều vào dung môi dùng để trích ly, vì thế dung môi dùng để trích ly cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nhiệt độ sôi thấp để dễ dàng tách tinh dầu ra khỏi dung môi bằng phương pháp chưng cất, nhưng không được thấp quá vì sẽ gây tổn thất dung môi, dễ gây cháy và khó thu hồi dung môi (khó ngưng tụ),
- Dung môi không tác dụng hóa học với tinh dầu,
- Độ nhớt của dung môi bé để rút ngắn thời gian trích ly (độ nhớt nhỏ khuếch tán nhanh),
- Dung môi hòa tan tinh dầu lớn nhưng hòa tan tạp chất bé,
- Dung môi không ăn mòn thiết bị, không gây mùi lạ cho tinh dầu và đặc biệt không gây độc hại,
- Dung môi phải rẽ tiền và dễ mua.
Tuy nhiên, không có loại dung môi nào đạt được tất cả yêu cầu trên, ví dụ: rượu, axêton hòa tan tinh dầu tốt nhưng hòa tan cả nước và đường có trong nguyên liệu nữa và như vậy tinh dầu sẽ có mùi caramen sau khi dùng nhiệt để tách dung môi. Nếu sử dụng ête êtilic dùng làm dung môi trích ly thì dung môi này hòa tan nhựa và sáp tốt nhưng độc và dễ sinh ra hỗn hợp nổ.
Hiện nay, người ta thường dùng dung môi là ête dầu hỏa, nhiệt độ sôi 45  700C thành phần chủ yếu là các hidro cacbon no như pentan, hexan và lẫn một ít heptan. Ête dầu hỏa cần được tinh chế trước khi sản xuất. Ête dầu hỏa được đem đi cất lại để lấy những phần có nhiệt độ sôi từ 45  700C đưa vào trích ly. Ête dầu hỏa dễ cháy nổ, độc, do đó trong sản xuất cần thực hiện nghiêm túc các qui tắc về an toàn lao động và phòng chữa cháy. Hiện nay, ở một số nước người ta dùng dung môi trích ly là CO2 lỏng, dung môi này không độc, có độ bền hóa học cao nên đảm bảo cho tinh dầu thu được có chất lượng cao.
b. Sơ đồ công nghệ quá trình trích ly:
* Chuẩn bị cho quá trình trích ly:
- Chọn dung môi phù hợp với nguyên liệu và phương pháp trích ly. Phương pháp trích ly có thể là tĩnh hay động, trong phương pháp trích ly tĩnh, nguyên liệu được ngâm trong dung môi trong một thời gian nhất định (cả hai đều không chuyển động), phương pháp trích ly động thì dung môi hoặc nguyên liệu chuyển động hoặc cả hai cùng chuyển động.
- Làm sạch dung môi
- Xác định thời gian trích ly cần thiết phù hợp với từng loại nguyên liệu.
* Sơ đồ công nghệ:
NGUYÊN LIỆU
XỬ LÝ
DMÔI
TRÍCH LY
MITXEN BẢ TÁCH DMÔI
LẮNG, LỌC BẢ THẢI DMÔI
TÁCH DMÔI DMÔI TINH CHẾ
CANCRÊT
TÁCH SÁP BẰNG C2H5OH
LÀM LẠNH LỌC SÁP
C2H5OH TÁCH C2H5OH
TINH DẦU THÀNH PHẨM
* Trích ly: Nguyên liệu dùng cho trích ly phải ráo nước. Sau khi cho dung môi và nguyên liệu vào thiết bị trích ly, đem lọc ta sẽ được mitxen, mitxen là hỗn hợp gồm tinh dầu và dung môi. Đem lắng và lọc mitxen để tách các tạp chất như các mảnh nguyên liệu, nếu nguyên liệu là hoa thì các tạp chất có thể là nhụy hoa, phấn hoa. Trong trường hợp mitxen có nước cần phải tách nước, Sau đó, dùng hơi để cất thu hồi lại dung môi. Dung môi từ bả trích ly và dung môi ở thiết bị cất thu hồi được đem đi tinh chế để sử dụng trở lại. Mitxen đã tách dung môi xong gọi là cancrêt, cancrêt là một hỗn hợp gồm tinh dầu, sáp, nhưa thơm và một số tạp chất khác (axit hữu cơ) ở dạng sệt. Để tách sáp và tạp chất người ta hòa tan cancrêt bằng rượu êtilic sau đó đem làm lạnh ở -150C, sáp và tạp chất sẽ đông đặc lại, sau đó ta lọc để tách. Lúc này hỗn hợp chỉ còn lại rượu và tinh dầu, dung phương pháp cất để tách rượu, ta thu được tinh dầu tuyệt đối, rượu được đem tinh chế để dùng lại. Sáp là chất định hương có giá trị trong tinh dầu, nhưng khi có sáp trong tinh dầu, tinh dầu thường bị đục dođó phải tiến hành tách sáp trong tinh dầu.
Thiết bị trích ly thường đắt tiền và phức tạp, do đó phương pháp trích ly chỉ được dùng để sản xuất những loại tinh dầu quí hiếm (hàm lượng tinh dầu trong nguyên liệu bé).
c. Thiết bị trích ly: Để thực hiện tốt quá trình trích ly, người ta tiến hành trích ly ở nhiều thiết bị trích ly khác nhau, có thể gián đoạn hoặc liên tục, dưới đây là sơ đồ hệ thống trích ly gián đoạn:
(http://www.vocw.edu.vn/content/m10261/latest/graphics6.png)
1: thiết bị trích ly2: thiết bị làm bay hơi dung môi
3: thiết bị ngưng tụ4: thùng chứa
Thiết bị trích ly 1 theo sơ đồ trên làm tổn thất dung môi lớn do các công đoạn tháo nạp liệu..Do đó người ta đã thiết kế loại thiết bị trích ly kiểu thùng quay có sơ đồ cấu tạo như sau:
(http://www.vocw.edu.vn/content/m10261/latest/graphics7.png)
1: Cửa cho nguyên liêu vào2: Ống dẫn dung môi vào
3: Hơi nước trực tiếp vào4: Giỏ chứa nguyên liệu
5: Cửa tháo bả6: Ống tháo mitxen
7. Thiết bị truyền nhiệt
Nguyên liệu được cho vào các giỏ chứa 4 lắp trên một khung quay ở bên trong thiết bị. Dung môi nằm cố định trong phần dưới của thiết bị, nhờ khung quay nên các giỏ chứa nguyên liệu được nhúng liên tục vào dung môi, khi nguyên liệu đã hết tinh dầu, mitxen được tháo ra ở cửa 6, sau đó cho hơi nước vào vỏ nhiệt của thiết bị theo ống 3 để tách dung môi từ bả trích ly.

   
Khai thác tinh dầu bằng phương pháp ngâm (trích ly bằng dung môi không bay hơi):
a. Mở đầu: Phương pháp này dựa vào tính chất của một số dung môi không bay hơi như dầu thực vật, mỡ đông vật, vasơlin, parafin... có khả năng hòa tan tinh dầu trong nguyên liệu. Nếu ngâm bằng dung môi là chất béo động vật thì phải nâng nhiệt của quá trình để dung môi ở thể lỏng. Quá trình ngâm giống như quá trình trích ly nhưng chỉ khác là quá trình ngâm dùng dung môi không bay hơi. Dung môi dùng để ngâm phải thật tinh khiết, không có mùi lạ, do đó dung môi cần phải được tinh chế trước khi sản xuất.
b. Sơ đồ và các thông số kỹ thuật ngâm:
Nguyên liệu được cho vào các túi vải rồi nhúng vào dung môi, tùy thuộc vào các loại nguyên liệu mà thời gian ngâm có thể dài hoặc ngắn, thường thì khoảng 48 giờ. Nhiệt độ ngâm nằm trong khoảng 60  700C. Sau thời gian qui định, các túi được vớt ra và thay thế các túi chứa nguyên liệu mới vào, thường thì phải thay 25 lần mới có thể bảo hòa được tinh dầu trong dung môi. Bả nguyên liệu sau khi vớt ra còn chứa nhiều dung môi cần phải thu hồi bằng phương pháp ép hoặc li tâm. Nếu dung dung môi là chất béo động vật ta được sáp thơm và dung môi là dầu thực vật ta được dầu thơm. Dầu thơm và sáp thơm có thể dùng trực tiếp trong công nghiệp mỹ phẩm như dùng làm son, dầu chải tóc....Nếu không dùng trực tiếp dầu thơm và sáp thơm có thể lấy tinh dầu bằng cách tách bằng rượu êtilic rồi sau đó cất tách rượu.
Phương pháp này có ưu điểm là thu được tinh dầu ít tạp chất hơn, sản phẩm trung gian có thể sử dụng trực tiếp trong công nghiệp nhưng có nhược điểm là chất béo dùng làm dung môi rất khó tinh chế và bảo quản, cách tiến hành thì thủ công, khó cơ giới hóa.
Sơ đồ công nghệ được trình bày như sau: (xem trang sau)
NGUYÊN LIỆU
XỬ LÝ
NGÂM DUNG MÔI
LỌC
SÁP THƠM DẦU THƠM
TÁCH BẰNG RƯỢU ÊTILIC
RƯỢU + TINH DẦU
CẤT TÁCH RƯỢU
TINH DẦU THÀNH PHẨM

   
Khai thác tinh dầu bằng phương pháp hấp phụ:
a. Bản chất của phương pháp hấp phụ: Các chất béo động vật và thực vật ngoài khả năng hòa tan tinh dầu còn có khả năng hấp phụ tinh dầu lên bề mặt của nó, than và đất hoạt tính cũng có tính chất này. Phương pháp ngâm khác phương pháp hấp phụ ở phương thức tiếp xúc pha, phương pháp ngâm được tiến hành trên toàn cả hai pha lỏng_lỏng, còn phương pháp hấp phụ thì được tiến hành ở hai pha khí _ bề mặt rắn. Phương pháp hấp phụ thường sử dụng để tách tinh dầu của các loại hoa, đặc biệt là các loại hoa có khả năng sinh thêm tinh dầu ở dạng khí sau khi thu hái khỏi cây như hoa nhài, hoa huệ...
Chất hấp phụ thường dùng là chất béo động vật. Để dung môi đạt được những yêu cầu nhất định, người ta pha chế theo tỉ lệ:mỡ lợn/mỡ bò:2/1 hoặc3/1 (nếu sản xuất vào mùa thu hay đông) và 1/1 (nếu sản xuất và mùa hè).
b. Sơ đồ kỹ thuật quá trình hấp phụ: Hấp phụ có thể tiến hành theo hai dạng: hấp phụ tĩnh và hấp phụ động.
* Sơ đồ kỹ thuật hấp phụ tĩnh:
NGUYÊN LIỆU
  XỬ LÝ
HẤP PHỤ CHẤT HẤP PHỤ̣
TINH DẦU + CHẤT HẤP PHỤ BẢ TRÍCH LY DMÔI
TÁCH BẰNG RƯỢU ÊTILIC
RƯỢU + TINH DẦU
       
Tiêu đề: Re: KỸ THUẬT SẢN XUẤT TINH DẦU
Gửi bởi: abchemical trong Tháng Mười 06, 2009, 07:17:40 PM
LÀM LẠNH, LỌC
CẤT TÁCH RƯỢU
TINH DẦU THÀNH PHẨM
Để hấp phụ người ta thường dùng các khay bằng gỗ (nếu hấp phụ bằng chất béo động vật) có kích thước 500 * 500 mm hoặc 600 * 900 mm, cao từ 50  80 mm. Đáy của các khay có lắp kính, lớp chất béo có bề dày 3  5 mm được đổ trên các mặt kính này. Để tăng bề mặt hấp phụ, người ta rạch những đường rãnh trên các lớp chất béo. Nguyên liệu sau khi thu hái được làm ráo, loại bỏ tạp chất rồi xếp vào các khay, sau đó các khay được chồng lên nhau nhưng không được cao quá đầu người để dễ dàng thao tác. Thời gian hấp phụ khoảng 12  72 giờ (tùy loại nguyên liệu). Mỗi lượt thay lớp nguyên liệu mới cần lật ngược lớp chất béo lại, chú ý phải lấy thật sạch lớp nguyên liệu cũ tránh tình trạng gây mốc trên bề mặt chất béo. Nếu lớp hấp phụ đã bảo hòa tinh dầu mà chưa có điều kiện đem đi chế biến ngay cần phải bảo quản cẩn thận bằng cách đun cho nóng chảy rồi đổ vào các thùng tráng thiếc và rải một lớp parafin mỏng lên trên để tránh tiếp xúc với không khí.
Hấp phụ động: Để khắc phục các nhược điểm của hấp phụ tĩnh người ta dùng phương pháp hấp phụ động để khai thác tinh dầu. Chất hấp phụ thường dùng là than gỗ hay than xương. Khi than đã bảo hòa tinh dầu, có thể cho tác dụng với dung môi lỏng (ví dụ rượu êtilic) để tách tinh dầu ra. Sơ đồ kỹ thuật như sau:
(http://www.vocw.edu.vn/content/m10261/latest/graphics8.png)
1: Quạt gió2: TB lọc không khí3: Đồng hồ lưu lượng
4: Tháp làm ẩm Kkhí5: TB chứa nguyên liệu6: TB hấp phụ
Tốc độ không khí trong tháp hấp phụ có thể thay đổi từ 1,5  3 lít/phút.cm2 tiết diện tháp. Còn chiều cao của lớp than hoạt tính trong điều kiện như vậy là 20  25 cm.

   
Tách tinh dầu bằng phương pháp cơ học:
Phương pháp này chủ yếu dùng để tách tinh dầu trong các loại vỏ quả như cam, chanh, quýt....Trong loại nguyên liệu này, tinh dầu nằm trong những túi tế bào ở bề mặt ngoài. Khi dùng lực cơ học tác dụng vào vỏ quả, tinh dầu sẽ thoát ra. Tinh dầu sản xuất bằng phương pháp này có chất lượng cao hơn phương pháp chưng cất, có mùi thơm tự nhiên của nguyên liệu, tuy nhiên hiệu suất thấp. Người ta thường dùng các cách như sau:
a. Vắt, bóp: Quả được cắt ra làm 2  3 phần, dùng thìa để tách thịt quả để riêng rồi dùng tay vắt bóp cho tinh dầu thoát ra ngoài. Tinh dầu thoát ra được thấm vào bông, khi bông đã bảo hòa tinh dầu, vắt lại cho vào cốc, đem lọc, lắng, sấy thu được tinh dầu thành phẩm. Vỏ đã vắt xong đem chưng cất để thu hết tinh dầu.
b. Bào, nạo: Dùng nguyên quả rồi xát mặt ngoài của vỏ vào bề mặt nhám, tế bào vỏ quả sẽ vỡ ra, tinh dầu thoát ra ngoài, lớp gai của bàn xát phải vừa phải để tránh đâm thủng ruột quả, nếu ruột quả bị thủng sẽ gây khó khăn vì tinh dầu sẽ bị lẫn nước quả và lớp cùi bên trong bị nạo rách sẽ hút mất một ít tinh dầu. Phương pháp này cũng như phương pháp trên gây tổn thất nhiều tinh dầu. Tinh dầu cam, chanh, quýt tách này bằng phương pháp này muốn sử dụng trong thực phẩm ta phải tách bớt tecpen, chủ yếu là limonen, vì nếu không tách thì limonen sẽ bị oxy hóa thành pinen có mùi nhựa thông.
c. Ép: Có thể ép nguyên quả bằng những máy ép đặc biệt, trong quá trình ép có dội nước. Sau khi ép ta được hỗn hợp gồm nước quả, tinh dầu, mô và thịt quả. Để tách tinh dầu ra, cần phải lọc để loại bớt tạp chất, sau đó dùng máy li tâm có tốc độ 15000  20000 vòng/phút để tách tinh dầu.

   
Một số qui trình sản xuất tinh dầu:
Qui trình sản xuất tinh dầu sả:
Nguyên liệu là lá sả tươi đạt độ chín kỹ thuật, tức là lúc đầu lá (tính từ ngoài vào) đã khô từ 5  10 cm thì cắt, sau khi cắt xong lá sã được phơi héo đến độ ẩm còn 50 % so với ban đầu. Ở độ ẩm này, lá sã bảo quản được một số ngày ở nơi cất, hơn nữa, cất lá sả héo sẽ giảm được 35 % nhiên liệu và 27 % thời gian chưng cất. Trước khi đưa lá sả vào nồi cất, cần chú ý loại các tạp chất như cỏ rác lẫn vào trong quá trình thu hái. Nguyên liệu nạp vào nồi cất phải đảm bảo từ 180  200 kg/m3 thể tích thiết bị, thời gian chưng cất (lá héo) từ 2  2,5 giờ. Bả sau khi chưng cất được đem phơi khô để làm nhiên liệu. Hơi tinh dầu và nước sẽ vào thiết bị ngưng tụ, cần khống chế nhiệt độ nước làm lạnh trong khoảng 35  400C. Hỗn hợp tinh dầu và nước sẽ được tách ra bằng thiết bị phân ly, nước chưng sẽ được đưa vào bể xử lý để tách tinh dầu loại II. Tinh dầu thô được lắng để tách tạp chất lớn và được làm khô bằng Na2SO4 khan, lượng Na2SO4 tùy thuộc vào hàm lượng nước trong tinh dầu sả, thường thì 25  50 gam/kg tinh dầu. Sau đó tinh dầu được đem lọc để tách Na2SO4 ra, Na2SO4 tách ra được đem rửa hai lần bằng nước ấm rồi cho vào túi vải bỏ vào nồi chưng cất để tận thu tinh dầu. Sau đó đem sấy khô và bảo quản trong bình kín. Tinh dầu sả khử hết nước có màu sáng, được đóng chai bảo quản.
Sơ đồ công nghệ:
LÁ SẢ TƯƠI
LÀM HÉO
CHƯNG CẤT BẢ PHƠI
NGƯNG TỤ CHẤT ĐỐT
PHÂN LY
TINH DẦU THÔ NƯỚC CHƯNG
LẮNG TÁCH TINH DẦU II
SẤY
LỌC
TINH DẦU THÀNH PHẨM
Qui trình sản xuất tinh dầu bạc hà:
Qui trình công nghệ sản xuất tinh dầu bạc hà tương tự như qui trình sản xuất tinh dầu sả, song cần chú ý một số điểm sau:
Thường thì cứ 1 m3 nồi cất nạp từ 100  125 kg lá bạc hà khô ( đã phơi trong râm mát từ 1  3 ngày). Tốc độ chưng cất điều chỉnh sao cho ít nhất 5 % thể tích nồi cất trong một giờ. Thời gian chưng cất 2,5  3 giờ cho một mẻ, nhiệt độ dịch ngưng từ 30  350C. Tinh dầu bạc hà sau cất được đem đi lắng, làm khô sẽ có màu vàng, hơi xanh, trong suốt, không vẫn đục.
Qui trình công nghệ sản xuất tinh dầu quế:
Sơ đồ công nghệ:
NGUYÊN LIỆU
 NGHIỀN, BĂM
 CHƯNG CẤT BẢ PHƠI
NGƯNG TỤ HƯƠNG LIỆU
PHÂN LY
TINH DẦU THÔ NƯỚC CHƯNG
LẮNG TÁCH TINH DẦU II
SẤY
LỌCTINH DẦU THÀNH PHẨM
Nguyên liệu dùng để cất tinh dầu quế có thể cành, lá hoặc vỏ quế vụn. Nếu dùng cành, lá thì nên cất ở dạng tươi vì nố sẽ cho màu sắc sản phẩm đẹp hơn. Nếu nguyên liệu là vỏ quế vụn thì trước khi cất nên nghiền (lọt sàng 3 mm), nếu là cành, lá thì phải băm nhỏ. Phần nước chưng sau khi phân ly có thể cho hồi lưu trở lại nồi cất để tận thu tinh dầu. Nguyên liệu chỉ cho 1/10 đến 2/10 thể tích nồi cất, nếu không sẽ có hiện tượng trào bọt qua vòi voi. Thời gian chưng cất khoảng 2,5  3 giờ. Tinh dầu quế nặng hơn nước nên phải dùng thiết bị phân ly thích hợp. Tinh dầu quế thành phẩm có màu vàng nâu, trong suốt.
Qui trình công nghệ sản xuất tinh dầu cam, chanh, quýt:
a. Sản xuất tinh dầu cam, chanh, quýt bằng phương pháp trích ly: Nguyên liệu là vỏ cam, chanh, quýt, nếu cần bảo quản để sản xuất lâu dài thì nghiền nhỏ (10*6 mm) và ngâm trong dung dịch muối ăn 25 %.
Nguyên liệu được ngâm trong cồn thực phẩm 80 %V trong thùng nhôm, sau 48 giờ, chiết ra và thay bằng cồn cao độ hơn (90  94 %V), ngâm tiếp trong 24 giờ, tỉ lệ cồn và vỏ sao cho đủ để ngập hết vỏ trong thùng, cồn ngâm xong đem cất để lấy riêng từng phần. Phần đầu đục, để riêng ra để cất lại, phần kế đó trong, có mùi thơm là thành phẩm.
Loại có độ cồn 60 %V trở lên trộn chung lại để pha nước ngọt, loại 15  60%V cho vào nồi cất để cất lại.
b. Sản xuất tinh dầu cam, chanh, quýt bằng phương pháp chưng cất: Cất tinh dầu cam, chanh, quýt tốt nhất là từ vỏ tươi. Trước khi cất cần nghiền nhỏ (2*2 mm), thời gian chưng cất 2,5  4 giờ.
Tinh dầu cam, chanh, quýt thu được bằng phương pháp này chứa nhiều tecpen và seckitecpen nên dễ bị oxy hóa ở điều kiện thường, do đó sau khoảng 5 tuần bảo quản đã có mùi khó chịu. Phải tách bớt tecpen và seckitecpen bằng cách hòa tan tinh dầu trong cồn cao độ (96 %V), tinh dầu sẽ hòa tan hoàn toàn, sau đó thêm nước cất vào để hạ nồng độ cồn đến 65 %V, các dạng tecpen sẽ không hòa tan ở cồn thấp độ nổi lên trên, lọc đi ta sẽ thu được tinh dầu không còn tecpen. Loại tinh dầu này có thể sử dụng trực tiếp để pha chế rượu mùi, nước giải khát mà không sợ đục.
Tinh dầu cam, chanh, quýt đã loại tecpen cần đóng trong các chai lọ có màu, tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng, không khí.
( PGS. TS Nguyễn Thọ)
Tiêu đề: cây chóc máu( salacia chinensis l)
Gửi bởi: trungbkpro trong Tháng Mười Hai 11, 2009, 11:43:55 AM
anh chị nào có thông tin về cây này giúp em với..em đang nghiên cứu nó, hướng nghiên cứu..thanks
Tiêu đề: Máy móc trích ly tinh dầu trong công nghiệp
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Mười Hai 13, 2009, 11:32:47 PM
1. Công ty: WenZhou T-zone Machinery Manufacturing Co,.Ltd.
 
(http://image.ec21.com/image/wztzone/pre_GC03374399/Extract_Machine.gif)

Đây là máy có thể chiết hiệu quả nước, tinh dầu từ hoa, thảo mộc, hoa hồng, đàn hương, và nhiều loại khác

(http://ttmindustry.vn/images/product/22420099527706may%20chiet%20suat%20TQ.jpg)

Thiết bị này thích hợp cho chiết suất tinh dầu từ cây dược liệu và thảo mộc trong dược phẩm, thực phẩm và công nghiệp hóa chất
Thiết bị chính bao gồm thùng chiết suất, cô đặc tuần hoàn ngoài và một số thiết bị phụ. Thiết bị có cấu trúc chắc rắn, vận hành đơn giản và chiết suất, cô đặc, tái chiết suất liên tục, cùng nhau
Toàn bộ quá trình là diễn ra trong điều kiện khép kín và kết thúc quá trình chiết suất và cô đặc diễn ra cùng một lúc. Thiết bị có thể chiết suất với số lượng nguyên liệu lớn. Nhiệt độ có thể kiểm soát trong khoảng 48-100℃
Các thông số kỹ thuật các bạn vui lòng vào trang: http://hoichosanpham.com/root/view_product.php?id=18894

2. Máy của công ty sản xuất tinh dầu Wahyu Atsirindo

(http://wahyuatsirindo.com/images/machine2_s.jpg)

Công ty này chuyên sản xuất tinh dầu xả, hoắc hương, chanh,...Mỗi năm, công ty sản xuất ra ngoài thị trường từ 90-100 tấn tinh dầu các loại!

3. Máy của công ty sản xuất tinh dầu Sanjivani Phytopharma Pvt Ltd

(http://imghost.indiamart.com/data/2/M/MY-448848/5Volatile_Oil_Distillation__250x250.jpg)

(http://imghost.indiamart.com/data/2/5/MY-448848/3Herbal_Extraction_Units_250x250.jpg)

4. Máy của công ty DHOPESHWAR ENGINEERING PVT. LTD.

(http://img.tradeindia.com/tradeleads/0/org_1696641.jpg)

(http://img.tradeindia.com/fp/0/221/728.jpg)
Máy này để chưng cất riêng cho hoa hồng

5. Công ty Tinh Đất Việt
Công ty chuyên về sản xuất tinh dầu trầm
(http://i35.tinypic.com/p4qpz.jpg)
Tiêu đề: Re: Máy móc trích ly tinh dầu trong công nghiệp
Gửi bởi: hacgiayqqk trong Tháng Mười Hai 14, 2009, 02:55:45 PM
1. Công ty: WenZhou T-zone Machinery Manufacturing Co,.Ltd.
 
(http://image.ec21.com/image/wztzone/pre_GC03374399/Extract_Machine.gif)

Đây là máy có thể chiết hiệu quả nước, tinh dầu từ hoa, thảo mộc, hoa hồng, đàn hương, và nhiều loại khác

(http://ttmindustry.vn/images/product/22420099527706may%20chiet%20suat%20TQ.jpg)

Thiết bị này thích hợp cho chiết suất tinh dầu từ cây dược liệu và thảo mộc trong dược phẩm, thực phẩm và công nghiệp hóa chất
Thiết bị chính bao gồm thùng chiết suất, cô đặc tuần hoàn ngoài và một số thiết bị phụ. Thiết bị có cấu trúc chắc rắn, vận hành đơn giản và chiết suất, cô đặc, tái chiết suất liên tục, cùng nhau
Toàn bộ quá trình là diễn ra trong điều kiện khép kín và kết thúc quá trình chiết suất và cô đặc diễn ra cùng một lúc. Thiết bị có thể chiết suất với số lượng nguyên liệu lớn. Nhiệt độ có thể kiểm soát trong khoảng 48-100℃
Các thông số kỹ thuật các bạn vui lòng vào trang: http://hoichosanpham.com/root/view_product.php?id=18894

2. Máy của công ty sản xuất tinh dầu Wahyu Atsirindo

(http://wahyuatsirindo.com/images/machine2_s.jpg)

Công ty này chuyên sản xuất tinh dầu xả, hoắc hương, chanh,...Mỗi năm, công ty sản xuất ra ngoài thị trường từ 90-100 tấn tinh dầu các loại!

3. Máy của công ty sản xuất tinh dầu Sanjivani Phytopharma Pvt Ltd

(http://imghost.indiamart.com/data/2/M/MY-448848/5Volatile_Oil_Distillation__250x250.jpg)

(http://imghost.indiamart.com/data/2/5/MY-448848/3Herbal_Extraction_Units_250x250.jpg)

4. Máy của công ty DHOPESHWAR ENGINEERING PVT. LTD.

(http://img.tradeindia.com/tradeleads/0/org_1696641.jpg)

(http://img.tradeindia.com/fp/0/221/728.jpg)
Máy này để chưng cất riêng cho hoa hồng

5. Công ty Tinh Đất Việt
Công ty chuyên về sản xuất tinh dầu trầm
(http://i35.tinypic.com/p4qpz.jpg)


không biết bạn có thể giới thiệu thiết bị trích béo từ các nguyên liệu: cám, bột cá, bột thịt,.... cho mình không.
Mình nghe nói có loại trích béo theo phương pháp cơ học là ép trực tiếp, vậy thực tế có áp dụng không?
Tiêu đề: Re: cây chóc máu( salacia chinensis l)
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Mười Hai 15, 2009, 10:00:04 PM
"Study on Chemical Constituents of Salacia chinensis L.Collected in Vietnam
Tran Thi Minh(a), Nguyen Thi Hoang Anh(b), Vu Dao Thang(a), and Tran Van Sung(b)
(a) Hanoi University of Technology, Dai Co Viet street, Hanoi, Vietnam
(b) Institute of Chemistry, Vietnamese Academy of Science and Technology, 18-Hoang Quoc Viet Road, Cau Giay District, Hanoi, Vietnam
Reprint requests to Prof. Dr. Tran Van Sung. Fax: +84 4 8361283. E-mail: tvs@ich.vast.ac.vn
Z. Naturforsch. 2008, 63b, 1411 – 1414; received May 1, 2008
A new triterpene, 28-hydroxy-3-oxo-30-lupanoic acid (1), and a triterpene found for the first time as a natural product, 3-oxo-lupane-30-al (2), besides three known triterpenes, 29-nor-21α-H-hopane-3,22-dione (3), 21α-H-hop-22(29)-ene-3β , 30-diol (4), and betulin (5) have been isolated from the n-hexane extract of Salacia chinensis stems. Their structures were elucidated on the basis of spectral studies."


Theo các thông tin được công bố thì hướng nghiên cứu của các thầy cô ở trên đi theo hướng nghiên cứu thành phần hóa học trong loại cây chóc máu. Nhưng ngoài ra nếu muốn nghiên cứu sâu thêm thì nghiên cứu về tính dược lý của cây thuốc mang lại, hoặc nghiên cứu cách chiết tách các chất trong cây ra bằng cách nào????
Tiêu đề: Re: Máy móc trích ly tinh dầu trong công nghiệp
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Mười Hai 16, 2009, 10:53:54 PM
Tùy theo từng loại sản phẩm mà có phương pháp trích béo khác nhau.
Theo các trang thiết bị thì có một số thiết bị mà bạn yêu cầu như sau:
1. Thiết bị trích ly chất béo 6 chỗ
(http://img.123mua.com.vn/product/Medium/20091111/IFeOGeISaQ.jpg)
Thiết bị ứng dụng kiểm tra béo trong thực phẩm như: thịt, cá, cám gạo, thức ăn gia súc.v.v.
Giá bán khoảng 18 triệu VNĐ
Các thông tin về máy:
Hãng Sản Xuất: Selecta - Tây Ban Nha

Model: Det-Gras N

·         Số lượng mẫu tríchly:          6 mẫu/lần

·         Thể tích chứa mẫu tối đa:    50ml/mẫu

·         Khả năng thu hồi dung môi: 60% …80%

·         Nhiệt độ làm việc:               100…2700C

·         Thời gian cài đặt:                0 – 999 phút

·         Bộ nhớ chương trình:           30 phút

·         Lưu lượng nước giải nhiệt:   2 lít/phút

·         Kích thước (HxWxD):        70 x 75 x 40 cm

·         Nguồn điện:                        230V/50Hz, 600W

·         Trọng lượng:                       25 kg

·         Trích lý chấtbéo theo phương pháp Soxhlet

·         Điều khiển quá trình tríchlychấtbéo bằng bộ vi xử lý [{#emotions_dlg.applause}]

·         Hiển thị 02 hàng số trên màng hình LCD

·         Giao tiếp với người sử dụng qua 04 phìm chức năng để cài đặt chương trình, nhiệt độ, thời gian…

Cấu trúc: được chế tạo bằng thép phủ sơn Epoxy chống ăn mòn hóa chất

Có bộ bảo vệ quá nhiệt


*Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:

Văn phòng Cty: 246/ 14 Phan Huy Ích, P.12, Q. Gò Vấp

Tel: (08) 5 4367.595 – 54 27 27 90 – Fax (08) 39.875.369

Đặng Quốc Thuận (HP:0945. 820. 413) – Phòng kinh doanh

Email: thuandang@thanhkhoa.com.vn;  website : www.thanhkhoa.com.vn

2. Bộ chiết chất béo 6 chỗ SER 148/6 (Velp - Ý)
Hệ thống trích béo 6 chỗ kín hoàn toàn, dùng dung môi theo kỹ thuật RANDALL, với việc thu hồi dung môi sử dụng nhằm giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí và thời gian chiết.
• Điều khiển vi xử lý được chương trình hoá cho phép lưu trữ và gọi lai 29 chương trìn trong bộ nhớ
• Hai màng hình hiển thị số: chỉ thị nhiệt độ thực và thời gian làm việc còn lại của chu trình.
• Cơ cấu an toàn: hai mạch điện tử vi xử lý vớo đầu dò nhiệt độ loại pt100, đạt tiêu chẩn an toàn theo tiêu chẩn IP55, có báo động khi có hiện tượng bất thường hoặc thiếu nước.
• Sử dụng các ống trích ly (thimble) bằng cellulose: 33x80mm.
• Thể tích tối đa cốc chiết: 150ml
Tính năng:
• Rút ngằn thời gian trích ly chất béo
• Độ lặp lại: 1%
• Khả năng thu hồi dung môi: 50 đến 70%
• Lượng nước giải nhiệt: 8lít/phút
• Trọng lượng mẫu: 0.5 đến 15g (thông thường 3g)
• Thể tích dung môi sử dụng: 30 đến 100ml
Các thông số có thể cái đặt cho mỗi chương trình:
• Nhiệt độ: 100 đến 260oC
• Thời gian ngâm: 0 đến 999phút
• Thời gian rửa: 0 đến 999phút
• Thời gian thu hồi: 0 đến 999phút
• Vỏ máy bằng thép sơn epoxy để chống hoá chất, tác nhân cơ khí và chống mài mòn.
• Công suất: 950W
• Trọng lượng: 40kg
• Nguồn điện: 220V/50Hz
• Kích thước (WHD): 700x620x390mm
Phụ kiện kèm theo:
06 Ong trích, 25 ống giấy cellulose, giá đỡ cho ống giấy, ống nối ngõ vào, tấm giải nhiệt, viton seal, butyl seal
CÔNG TY TNHH TM RỒNG TIẾN
ĐT: 083.8457084
ĐẶNG THỊ MỸ LỆ
0918 578 123
Tiêu đề: Re: Máy móc trích ly tinh dầu trong công nghiệp
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Mười Hai 16, 2009, 10:58:23 PM
Một số bài viết tiếng Anh cũng đề cập đến như:

The aim of all extraction procedures is to separate cellular or fluid lipids from the other constituents, proteins, polysaccharides, small molecules (amino acids, sugars...) but also to preserve these lipids for further analyses. The preservation of proteins involves special precautions found in delipidation procedures.

There is a great diversity of methodologies because biological tissues are not similar when considering their structure, texture, sensitivities and lipid contents. Removing the non-lipids without losing some lipids is a complex challenge, extracting some specific lipids is not always reliable for other kinds of lipids.
The high sensitivity of the analytical methods needed for low amounts of extracted lipids requires the use of very pure solvents and clean glassware. The chemical nature of the extracted lipids must also be taken into consideration.
Furthermore, all lipids must be protected against degradation through oxidation by solvent, oxygen, enzymes in combination with temperature and light.
1. OILSEED PROCESSING

If we describe here the extraction on a laboratory scale of lipids from various biological materials to run analytical procedures, different processes may lead also to the extraction of oil from many seeds, nuts, and kernels for use as nutritional supplement, as well as raw material for industrial applications.
The type of instrument that is appropriate depends on the size of the operation. Oil processing operations range from "cottage industries" processing some kg per day, to factories processing several thousand tons of seed per day. In all cases, the sequence of operations includes cleaning, dehulling, grinding, and pressing. Furthermore, oils generally need refining to remove cloudiness, excess color and unpleasant flavors. As many crude oils contain variable amounts of mucilaginous compounds (gums) combined with phospholipids, a degumming process has to be run (Dijkstra AJ, OCL 1998, 5, 367). In several instances, and especially when seeds have low oil content (like soybeans) more complex methods including solvent extraction are processed. If hexane is the most commonly used solvent, isohexane appears to be the most likely candidate to replace n-hexane as the preferred oilseed extraction solvent, mainly in USA to avoid federal environmental regulations applying to the use of n-hexane. Several studies have shown that the extraction performances of the two isomers are quite similar (Inform 2002, 13, 282). 
Those who are interested in oilseed processing will find a comprehensive description of basic processes with sources for additional information and a list of suitable raw material in the ATTRA (National Sustainable Agriculture Information Service) publication :

"Small-scale oilseed processing. Value-added and processing guide"

Aqueous enzymatic oil extraction is an emerging technology since it offers many advantages such as elimination of solvent consumption, degumming operations and removal of some toxins. A review of aqueous and enzyme-based processes may be consulted (Rosenthal A et al., Enzyme Microb Technol 1996, 19, 402). Applications of that methodology to the oil extraction of Irvangia seed kernels (Women HM et al., Eur J Lipid Sci technol 2008, 110, 232) and canola seeds (Latif S et al., Eur J Lipid Sci Technol 2008, 110, 887) have been reported.

Comparative experiments on tobacco seeds have demonstrated that the best oil recovery was obtained by cold pressing (Stanisavljevic IT et al., Eur J Lipid Sci Technol 2009, 111, 513). Shortly, seeds were pressed by a hydraulic press (Komet, Germany) through three nozzles (diameter of 15, 10 and 6 mm). The press does not involve mixing and tearing of the seeds. The seed cake was ground by an electrical mill and the residual oil was extracted by using n-hexane at a seeds-to-solvent ratio of 1 : 3 g/mL and 25°C for 60 min. This recovery technique is said to be more acceptable than the other methods, not only for economic but also for environmental, health and safety reasons.
2. GENERAL AND PRACTICAL ASPECTS

As carelessness at the preliminary stage of extraction may result in the loss of components of interest or in the production of artifacts, the lipidologist must be aware of various precautions that are summarized below.
3. SOLVENTS

Neutral lipids or generally storage lipids are extracted with relatively non-polar solvents such as diethyl ether or chloroform but membrane-associated lipids are more polar and require polar solvents such as ethanol or methanol to disrupt hydrogen bondings or electrostatic forces.
To avoid peroxidation of the extracted lipids, during the procedure or later, all solvents should be used peroxide-free. The most convenient is to use "pesticide grade" or HPLC grade" and to buy small quantities at once. Do not stock bottles for a year !! Manufacturers  often indicate an expiration date on bottles. To minimize possible deleterious effects due to peroxide formation, pay attention to the expiration dates and keep stocks for no more than 3 months.   Furthermore, to avoid contamination of extracted lipids by non-volatile material contained in the large volume of solvent used in the first step of extraction, it is important to use organic solvent containing less than 5 mg dry matter per liter, 1 mg/l is currently proposed.

Diethyl ether, dioxan, isopropyl ether and tetrahydrofuran form peroxides on storage and must be kept in dark bottles or in dark areas. These solvents should be  routinely tested to prove that peroxide levels are kept low before use. It must be emphasized that peroxides, even at low levels, may present an explosion hazard after concentration of solvents. Because of its low flammability and its natural origin, ethyl lactate was proposed as a substitute for ethyl acetate in exctracting carotenoids from foods (Ishida BK et al., J Agric Food Chem 2009, 57, 1051).

Alcohols are good solvents for most lipids, methanol and ethanol being the most popular. Ethanol can be contaminated on storage by aldehydes.

Chloroform is a popular solvent, particularly for lipids of intermediate polarity and when mixed with methanol it becomes a general extraction solvent. It is not very stable, forming phosgene and HCl in air, it should be stored in brown bottles. It is sold after addition of preservatives, ethanol, amylene or cyclohexene.  Dichloromethane (or methylene dichloride) is a similar extractant but less oxidizable. Chloroform and dichloromethane are currently stabilized by addition of ethanol (up to 1%) or methyl-2-butene-2 (about 20 mg/l).

Among hydrocarbons, hexane is the most popular but is a good solvent only for lipids of low polarity. Its main use is to extract neutral lipids from mixtures of water with alcohols. A mixture of isomers, called "hexanes", can be used for the same purpose. Hexane can be replaced by petroleum ether which is a mixtures of various hydrocarbons with 5 to 8 carbon atoms. Cyclohexane is sometimes used to store lipid extracts in the cold without danger of evaporation since it freezes at about 6°C. Benzene is no more used since it is now considered as a potent carcinogenic substance, it may be replaced by toluene which, nevertheless, is more difficult to evaporate.

A simple test for peroxides in water-immiscible solvents:

shake 2 ml of solvent with 1 ml of a freshly prepared KI solution (10% in water) and a drop of starch indicator solution, a blue color is rapidly developing if peroxides are present (a  faint yellow/brown color after addition of KI indicates low levels of peroxides).
4. GLASSWARE

The leitmotiv is to avoid any source of contamination by mineral oils, greases, plasticisers from plastics and detergents. Therefore, all operations should be carried out in glass equipment with, if required, ground-glass joints (do not grease !!). Separatory funnels or columns are best equipped with Teflon (PTFE) stopcocks.
All vials or tubes should be closed if necessary (for incubation, agitation, centrifugation) with screw caps including a Teflon-covered liner (Teflon inside the tube !!). Never use cork, rubber, polyethylene or Para film.
Filtration of HPLC solvents should be made with an all-glass vacuum filtration apparatus equipped with filter membranes made of nylon or Teflon.
Except Teflon, all plastics must be avoided because they leach contaminants into the solution which can be detected as unknown spots on thin-layer plates or extra-peaks in GLC chromatograms. Polypropylene tubes can be used if GLC is not necessary for the analysis.
It should be emphasized that all the glassware must be cleaned using classical basic detergents in washing machine or sonicator bath but the washed vials or tubes should be first tested for the absence of contaminants with the current techniques.
5.REMOVAL OF CONTAMINANTS


In the presence of some water, small molecules are dissolved in organic solvents. Among these contaminants there are pigments, lipophilic amino acids, polypeptides and some hydrophobic proteins.
The removal of contaminants can be done by various ways:

- A simple way to eliminate "proteolipids" is to evaporate the lipid extract under vacuum, add a small amount of methanol which is an excellent denaturation agent and evaporate again. Redissolve the dried lipid extract with a small volume of chloroform/methanol (2/1) and transfer into another clean tube.

- Use the washing procedure of Folch's method and repeat the process if necessary with the same volume of the reconstituted upper phase. Finally, a chloroform phase can be washed
efficiently with water by vortexing and centrifugation.

- Use a liquid/liquid partitioning column. The Sephadex packing (G 25 superfine) is swollen (20 g/250 ml of solvent) in a mixture of chloroform/methanol/water (60/30/4.5) and washed three times (30 min each time). A small amount of suspension is poured in a small glass column (1 cm diameter, 2.5 cm height for filtration of up to 10 mg lipids). The lipid sample is dissolved in the same solvent mixture and 2.5 ml are applied to the column followed by 5 ml of the same mixture, 2.5 ml of chloroform / methanol (2/1) and finally by 2.5 ml of chloroform / methanol / water (48/35/10). The total purified lipid extract (12.5 ml) is evaporated under a stream of nitrogen and redissolved in the required amount of solvent. This procedure is commonly used for gangliosides studies where colored contaminants frequently hide lipid spots on HPTLC (Dreyfus et al Anal Biochem 1997, 249, 67).

Alternatively, all lipids except gangliosides are separated from various impurities (bile salts, amino acids sugars) on a Sephadex G-25 column previously equilibrated with chloroform/methanol (19/1, v/v) saturated with water. A glass column with a Teflon stopcock and a fiberglass plug is used. The Sephadex beads are equilibrated in 1/1 methanol/water and added to a height of 10 to 20 cm. Five cm of washed sea sand is then added on the top. Lipids dissolved in chloroform/methanol (19/1, v/v) are applied on the column and eluted with 50 ml of the same solvent. The column is regenerated with 1/1 methanol/water and then with 19/1 chloroform/methanol saturated with water and thus can be used indefinitely.

Chlorophyll removal : High levels of chlorophyll-type compounds are frequently found in lipid extracts from plants. The presence of these pigments may interfere with further lipid fractionation. Thus, a method has been developed to chemically remove chlorophyll without modification of other extracted lipids (Bahmaei M et al., JAOCS 2005, 82, 679).
Crude lipid extracts are mixed with a mechanical device at 200 rpm with a 0.4wt% mixture of phosphoric and sulfuric acids (2/0.75, v/v) for 5 min at 50°C. The precipitate is removed from the oily extract by centrifugation (4000 x g, 5 min) and the oil extract is washed according to the Folch procedure to remove acid traces. 
6. PRACTICAL CONSIDERATIONS


Glassware: Since all solvents may extract also some contaminants from containers or apparatus, only Teflon lined stoppers and clean glassware must be used. During extraction take care of any contact between solvent and washers or greased bearings in your mechanical device.

Antioxidant: When fatty acid analyses are planned, it is advisable to add an antioxidant such as butylated hydroxytoluene (BHT) (about 100 mg per liter).

Lyophilized tissues: They are difficult to extract, thus it is recommended to rehydrate them with distilled water before extraction (about 5 ml per g dry material).

With some tissues: it is recommended to add first the required methanol amount during the homogenization to prevent clogging, this is currently the case with liver, muscle, blood. chloroform is then added before the last mixing and the true extraction step.

Evaporation of solvents: When a large amount of solvent must be evaporated, it should done in a rotary film evaporator, the flask containing the extract being maintained at no more than 50°C with a water bath. The reduced pressure must be generated by a pump running without oil (motorized pump with metallic or Teflon membranes) or conveniently with a water aspirator achieving a vacuum of 10-20 mm Hg. Last traces of water may be removed by adding 1 or 2 ml ethanol and evaporating again.

The first description of that concentration device was made by Craig LC (Craig LC et al., Anal Chem 1950, 22, 1462), the famous inventor of countercurrent distribution. The diagram given in the Craig's paper (see below) shows clearly the principle of the device found on the market as yet.
(http://www.cyberlipid.org/images/pict381.jpg)
If small samples are extracted, the small solvent volumes (1-5 ml) are easily evaporated under nitrogen blowing and warming the tubes with the help of a water bath or a heating fan. With the later device, an excessive heating must be avoided as some free fatty acids or their esters (C14 and C16) escape from the tubes.

A very valuable and efficient evaporation equipment may be found from Pierce, the Reacti-ThermTM System where reaction vials are heated in a thermostated aluminium block  and the Reacti-VapTM Evaporator module enabling a gentle nitrogen blow
(http://www.cyberlipid.org/images/pict154.JPG)
Lipids should not be left for any time in the dry state but should be taken up rapidly in an inert non-alcoholic solvent such as chloroform.
If the weight of extracted lipids are needed, the desiccation time must be prolonged till a constant weight is reached. A convenient procedure is to evaporate a part of the total extract in a small flask and to keep it overnight under vacuum before weighing.
7. STORAGE OF LIPID EXTRACTS


Lipid extracts should not be stored in the dry state. Oxidative degradation is slower in solutions even in the absence of added antioxidants; This protection depends on the chemical nature of the solvent and the physical conditions of storage.
Air and light should be avoided. The best storage conditions are a super freezer (-70°C) to store for a long time (up to one year) lipid extracts in chloroform-methanol mixtures filling well stoppered glass vials (with Teflon liners), the cap being secured with a wide length of self-sticking tape. Pencil written labels should be protected by an outer layer of polyester tape. For long period of storage, it can be useful to flush vials or tubes with nitrogen before closing to prevent fatty acid oxidation. For the same purpose, a low amount of antioxidant such as BHT (butylated hydroxytoluene or 2,6-di-tert-butyl-4-methoxyphenol) or ethyl gallate (i.e. about 50 µg BHT/ml) may be added in the solvent if the natural antioxidant amount is estimated too low (purified extracts). The antioxidant is used as a concentrated solution in ethanol (10 mg/ml).
After long periods of storage, the cleavage of ester lipids and plasmalogens must be expected with a concomitant rise in free fatty acids, diacylglycerols methyl or ethyl esters. These problems can be minimized by using neutral extracts and 2-propanol instead of methanol or ethanol in the solvent mixture. It must be remembered that best results are obtained with freshly prepared materials.

To prevent labile lipids from oxygen attack it is possible to use a commercially available oxygen absorber (Ageless, Mitsubishi Gas Chem Co) placed inside the sample package. After a short "pretreatment" at 2°C, the labile lipids appear preserved even at room temperature for a long time. This method allows transportation of biomaterial samples to a distant laboratory without utilizing any freezing system (Hirao S et al., J Oleo Sci 2003, 52, 583).

It has been demonstrated that after one year storage of plasma samples at -80°C various lipid parameters (cholesterol, triglycerides) were altered (Devanapalli B et al., Clin Chim Acta 2002, 322, 179). Thus, even at low temperature, intact biological samples must be extracted as soon as possible. In contrast, it was shown that after storage at -80°C up to 4 years, the fatty acid compositions of plasma triglycerides and erythrocyte phospholipids were practically unchanged (Hodson L et al., Clin Chim Acta 2002, 321, 63).
Tiêu đề: cây chóc máu( salacia chinensis l)
Gửi bởi: Voi Còi trong Tháng Mười Hai 17, 2009, 06:50:12 PM
       Chóc máu hay chóp máu, chóp mào (danh pháp khoa học: Salacia chinensis), là một loài dây leo cao 1-2 m, cành nhỏ có cạnh, mặt dưới lá màu lục nâu; quả mọng, hình quả lê, chóp quả màu đỏ, thuộc họ Dây gối (Celastraceae)

Được xem là loài biệt dược có khả năng hạn chế sự phát triển của tế bào ung thư, chóc máu đang được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Tại Việt Nam, ngoài Vườn quốc gia Bạch Mã, nơi đang bảo tồn nguồn gen chóc máu thì ở núi Kim Phụng, thôn Hải Cát, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế người dân cũng đã phát hiện loài dược liệu này.
Tiêu đề: Tinh dầu hoa bưởi
Gửi bởi: tinh trong Tháng Hai 17, 2010, 08:41:48 AM
 :D Chào các bạn! Hiện nay mình đang tìm hiểu về: thành phần hóa học của hoa bưởi và các phương pháp chiết xuất lấy tinh dầu từ hoa bưởi, cũng như công dụng của hoa bưởi. Các bạn có tài liệu gì về đề tài này thì chia sẻ cho mình với (tiếng Anh hay tiếng Việt đều được). Xin chân thành cảm ơn!
Mọi thông tin về đề tài này, vui lòng liên hệ với mình qua địa chỉ mail: huutinh1988@gmail.com
 c017
Tiêu đề: Tinh dầu hoa bưởi
Gửi bởi: Voi Còi trong Tháng Hai 17, 2010, 01:07:55 PM
        Thành phần hoá học: Vỏ quả ngoài rất giàu chất narin-gosid, do đó có vị đắng, trong vỏ có tinh dầu, tỷ lệ 0,80-0,84%; quả chứa 0,5% tinh dầu; trong lá cũng có tinh dầu. Tinh dầu vỏ bưởi chứa d-limonen, a- pinen, linalol, geraniol, citral; còn có các alcol, pectin, acid citric. Dịch quả chín có nhiều chất bổ dưỡng: nước 89%, glucid 9%, protid 0,6%, lipid 0,1% và các khoáng Ca 20mg%, P 20mg%, K 190mg%, Mg 12mg%, S 7mg% và Na, Cl, Fe, Cu, Mn... Có các vitamin (tính theo mg%) C 40, B 0,07, B2 0,05 PP 0,3 và tiền sinh tố A 0,1. 100 mg dịch quả cung cấp cho cơ thể 43 calo.
        TD tinh dầu: Trong lá, hoa, vỏ quả bưởi đếu chứa tinh dầu. Ngoài ra, vỏ quả bưởi còn có pectin, naringin (một loại glucozid), men tiêu hoá peroxydaza và amylaza, đường ramoza, vitamin A và C...Tinh dầu từ vỏ quả và hoa bưởi có thể dùng để kháng khuẩn (giảm độc trực khuẩn lao, tụ cầu vàng, phế cầu, có khả năng tiêu diệt amip). Bên cạnh đó, một số bài thuốc từ bưởi giúp giảm huyết áp, hạ cholesterol trong máu, lợi tiểu.

Mùi hương  thanh tao, giúp giải cảm, thư giãn,  giảm stress.  Hương thơm của tinh dầu bưởi còn có tác dụng giải rượu giúp tỉnh táo, minh mẫn. Tinh dầu bưởi có trong dầu massage giúp tan mỡ, cân bằng các yếu tố dinh dưỡng cho da, chống lại sự lão hóa. Đặc biệt tinh dầu bưởi kích thích sự mọc tóc, giúp cho tóc dài và mượt; chống hói và rụng tóc.
      Công dụng hoa bưởi:
      - Dùng ướp hương cho trà & bánh kẹo, có tác dụng hành khí, tiêu đàm, giảm đau, dùng chữa các chứng đau dạ dày, đau tức ngực từ 2-4g sắc uống. Dùng để chưng cất nước hoa bưởi làm hương liệu mỹ phẩm…
PP tách chiết::
      * Xđ cơ quan chứa tinh dầu:
      - Vỏ bưởi, hoa, lá...
      * Pp trích ly:
      + Pp chưng cất cổ điển: Cho 200g nguyên liệu & 600ml nc vào bình chưng cất 2000ml. đun lên và có ống để thu tinh dầu lỏng bay lên trên ngưng đọng vào bình riêng
      + Pp vi sóng: Cho 100g nguyên liệu và 300ml nc vô bình chưng cất rồi làm như trên
   
Tiêu đề: Re: Tinh dầu hoa bưởi
Gửi bởi: tinh trong Tháng Hai 19, 2010, 10:15:45 AM
cám ơn câu trả lời của bạn nha! Nhưng mà cái mình đang cần biết hiện nay là thành phần hóa học của hoa bưởi cơ. Các bạn nếu có tài liệu hay thông tin gì thì chỉ mình với. c017
Tiêu đề: Re: Tinh dầu hoa bưởi
Gửi bởi: vugiasinh trong Tháng Hai 23, 2010, 01:15:39 PM
xem trong cuốn từ điển dược học và cuốn cây thuốc và vị thuốc việt nam , còn tinh dầu hoa bưởi thì có 1 cách thu rất đơn giản , pm nick buoisang2911 . hi
Tiêu đề: Re: Tinh dầu hoa bưởi
Gửi bởi: Pull trong Tháng Hai 25, 2010, 07:30:01 PM
Mình nghĩ cái này cũng không khó tìm lắm đâu. Bạn có thế tìm đọc trong các cuốn về tinh dầu như TINH DẦU của Thầy Lê Ngọc Thạch, Cây Thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi ... Trong cuốn Tinh Dầu có nói chi tiết về các phương pháp trích ly cổ điển cũng như các pp hiện đại. Bạn nên tìm hiểu các tp có trong tinh dầu rồi thử search bằng tiếng anh thử nhé.
Tiêu đề: Re: Tinh dầu hoa bưởi
Gửi bởi: molecules trong Tháng Ba 13, 2010, 04:23:19 PM
Chào các bạn tôi đang làm cái đề tài về trà bưởi, nhưng điều băn khoăn ở đây nếu mình sấy vỏ bưởi các hợp chất tinh dầu bay đi mất thì phí quá. Nếu muốn giữ lại tinh dầu nhưng mình vẫn sấy khô vỏ bưởi được thì có giải pháp nào không? Ai biết có thể chỉ cách cho tôi được không? Cảm ơn
Tiêu đề: Re: Tinh dầu hoa bưởi
Gửi bởi: Pull trong Tháng Ba 18, 2010, 07:46:54 PM
Mình cũng không rõ lắm về bưởi nhưng bạn cứ thử tiến hành thực nghiệm xem sao, đừng nên sấy mà thử để héo trong bóng râm, một số thực vật khi để héo lại cho lượng tinh dầu cao hơn khi còn tươi như gừng dại chẳng hạn. Củ tươi thì chỉ ly trích được từ 0.5-0.8% nhưng để khô lại ly trích được từ 4-5% tinh dầu đó. Chúc bạn làm tốt.
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: hue.dtk trong Tháng Tư 17, 2010, 08:16:18 PM
1,7-bis(4-hydroxyphenyl)heptan-3-on-5-ol

Giải thích giúp em -bis có nghĩa là j với ạ. E đang cần lắm!
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: anhtuan_h2vn trong Tháng Tư 17, 2010, 08:32:09 PM

1,7-bis(4-hydroxyphenyl)heptan-3-on-5-ol

Giải thích giúp em -bis có nghĩa là j với ạ. E đang cần lắm!
Bis có nghĩa là 2 đấy ạ, có nghĩa là có 2 nhóm thế p-HO-C6H4-, với các nhóm thế phức tạp theo danh pháp IUPAC thì không dùng di- mà thay bằng bis, tương tự tri- thay bằng tris, tetra thay bằng tetrakis-.....
Tiêu đề: Yêu cầu tài liệu tại đây!
Gửi bởi: lethimaitam trong Tháng Tư 29, 2010, 10:03:37 PM
xin mọi người giúp giùm mình với. Mình đang làm đề tài về hoa nhài các bạn ơi. Xin giúp mình tài liệu với. Cảm ơn các bạn nhiều!
   @ làm ơn cụ thể ra là cần cái gì đi
Vâng mình đang chiết tinh dầu hoa nhài các bạn à . Mình đang cần xác định các chỉ số hóa lý có trong tinh dầu . mình xác định chỉ số este còn gì nữa các bạn, và mình cần tài liệu về tinh dầu nhiều lắm . Cảm ơn các bạn nhiều .
Tiêu đề: Trích tinh dầu
Gửi bởi: dinhphuochai trong Tháng Bảy 24, 2011, 07:11:54 PM
xin giúp dùm em!
Em muốn trích lọc tinh dầu nhưng không biết sử dụng thiết bị nào.Các anh nào am hiểu thì xin cho em ý kiến(em muốn trích tinh dầu từ hoa và các thực vật có hương
Tiêu đề: Re: Trích tinh dầu
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Bảy 25, 2011, 09:32:39 AM
Tùy theo từng loại tinh dầu mà có phương pháp, thiết bị trích ly tinh dầu khác nhau.
Nên bạn phải cho biết tinh dầu bạn trích là loại thực vật gì???
Tiêu đề: Flavour and Fragrance Journal - Tháng 01/2012
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Một 20, 2012, 09:34:07 PM
http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/ffj.v27.1/issuetoc (http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1002/ffj.v27.1/issuetoc)


(http://onlinelibrary.wiley.com/store/10.1002/ffj.v27.1/asset/cover.gif?v=1&s=e5473dc7f547c308b329756d168cba1f1cb05b58)

Free

Tạp chí tháng 01/2012, có các nội dung sau:

+ Quy định sửa đổi về Hương của liên minh Châu Âu (EU), các hương đi từ tinh dầu và nồng độ sử dụng cho phép của các chất bị hạn chế có trong tinh dầu.

+ Các loại tinh dầu có khả năng kháng khuẩn và kháng sinh.

+ Các hợp chất thơm có trong tinh dầu cam đắng (Citrus aurantium L.): Tinh dầu và các sản phẩm chưng cất.

.....

Tiêu đề: gừng lúa-ngải trặc
Gửi bởi: minhtytrang trong Tháng Tám 12, 2012, 07:52:04 PM
mình đang nghiên cứu về gừng lúa hay còn gọi là ngải trặc. các bạn có tư liệu gì về nó không, cho mình xin với.
thân.
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: Mr H2O trong Tháng Tám 13, 2012, 12:51:19 AM
mình đang nghiên cứu về gừng lúa hay còn gọi là ngải trặc. các bạn có tư liệu gì về nó không, cho mình xin với.
thân.

Bạn nghiên cứu về vấn đề gì từ gừng lúa - cách chiết tinh dầu, tính dược, hay cách nhân giống? Câu hỏi của bạn chung chung quá!
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: minhtytrang trong Tháng Tám 13, 2012, 12:35:46 PM
mình đang nghiên cứu cách chiết tinh dầu, xác định thành phần hóa học trong tinh dầu thân rễ, lá. tách chất từ dịch chiết CH2Cl2 và dịch hexan.
nếu có thì cho mình xin nhé.
thân
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: Mr H2O trong Tháng Tám 14, 2012, 12:02:12 AM
Chỉ có thể giúp bạn được một số tham khảo như sau:

+ Phân tích tinh dầu Gừng - rhizoma Zingiberisbằng phương pháp GC-MS:

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11596252 (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11596252)

+Bai YC, Li YJ, Ma YS:  Effects of volatile oil of Rhizoma zingiberis and other two kinds of volatile oil on percutaneous penetration of bullatine A via hairless mouse skin in vitro - Zhongguo Zhong Yao Za Zhi; 2008 Mar;33(5):513-6

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/18536371 (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/18536371)

Về phần nghiên cứu chiết tách, bạn có thể tham khảo sách - Hợp chất thiên nhiên của thầy Nguyễn Văn Bời - ĐH Công nghiệp TP.HCM- phần sesquiterpen.
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: minhtytrang trong Tháng Tám 28, 2012, 11:39:04 PM
khi chạy sắc ký bản mỏng, ví dụ hệ dung môi lựa chọn là hexan: aceton.
một số luận văn chạy bản mỏng hệ dung môi với tỉ lệ 2:1, 3:1, 4:1, 5:1, ..., 10:1, ...   (KIỂU 1)
nhưng có bạn lại chạy theo kiểu khác: 99:1, 98:2, ..., 95:5,..., 75:25, ... (tổng dung môi là 100)       (KIỂU 2)
1. hai kiểu chạy trên giống hay khác nhau.
2. khi nào dùng kiểu 1, khi nào dùng kiểu 2.

 các bạn giải đáp giúp mình với. à, các bạn có thể cho mình thêm thông tin để rõ hơn về kiểu chạy 1 với nhé. mình không hiểu lắm cách chạy tỉ lệ này. thanhks các bạn nhiều.

thân.
Tiêu đề: phổ NOESY
Gửi bởi: minhtytrang trong Tháng Mười 10, 2012, 08:59:01 PM
mình tách được gingerol. trong gingerol có 1 cacbon bất đối phải xác định cấu hình bằng phổ NOESY. mình đã tìm hiểu rất nhiều về phổ này nhưng không hiểu lắm.
mong các bạn giúp đỡ, cùng giải phổ này giúp mình với nhé.

thân!!!
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: Mr H2O trong Tháng Mười 11, 2012, 11:31:26 AM
Bạn có thể scan phổ của bạn lên không??

mình tách được gingerol. trong gingerol có 1 cacbon bất đối phải xác định cấu hình bằng phổ NOESY. mình đã tìm hiểu rất nhiều về phổ này nhưng không hiểu lắm.
mong các bạn giúp đỡ, cùng giải phổ này giúp mình với nhé.

thân!!!
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: minhtytrang trong Tháng Mười 15, 2012, 01:47:28 AM
cho mình mail nhé.
mình tìm mãi mà ko biết cách đưa file pdf lên

thân!
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: Mr H2O trong Tháng Mười 15, 2012, 07:24:57 AM
Trong phần trả lời, ở phía dưới có "Các tùy chọn khác, bạn bấm vào đó, có phần đính kèm tương tự như email"
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: minhtytrang trong Tháng Mười 15, 2012, 08:52:09 AM
Trong phần trả lời, ở phía dưới có "Các tùy chọn khác, bạn bấm vào đó, có phần đính kèm tương tự như email"




trong các tùy chọn khác làm gì có gửi mail bạn. thôi bạn vào mail của mình nhé.
uyentuyen@gmail.com
mật khẩu: nguyenvantroi
bạn vào thư nháp. kích vào thư đầu tiên nhé. mình sẽ gửi cho bạn bản NOESY và bản word công thức để bạn dễ nhìn
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: Mr H2O trong Tháng Mười 15, 2012, 06:42:36 PM
Mình đã download bản pdf rồi, email của mình sonquan1421988@gmail.com
Mình đính kèm lại tài liệu trên luôn.
Bạn cần giải thích phổ đúng không?
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: minhtytrang trong Tháng Mười 16, 2012, 11:03:02 AM
Mình đã download bản pdf rồi, email của mình sonquan1421988@gmail.com
Mình đính kèm lại tài liệu trên luôn.
Bạn cần giải thích phổ đúng không?

giải thích giúp mình phổ HMBC và phổ MS. mình đã send phổ khối lượng cho bạn rồi.
gingerol M=294
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: minhtytrang trong Tháng Mười 16, 2012, 11:25:45 AM
bạn nhớ check mail nhé.
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần hóa học cao n-hexan của trái cây Xa kê Artocarpus altilis
Gửi bởi: Mr H2O trong Tháng Mười 22, 2013, 11:34:09 PM
Bài báo "Nghiên cứu thành phần hóa học cao n-hexan của trái cây Xa kê Artocarpus altilis" của các tác giả: Nguyễn Trung Nhân, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thanh Mai
Đăng trên tạp chí Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, T. 14, S. 5T (2011)

Tóm tắt

Từ cao n-hexan của trái cây Xa kê Artocarpus altilis (Parkinson) Fosberg họ Dâu tằm thu hái tại Hóc Môn – Tp. HCM, 4 hợp chất : 2-formyl-5-hydroxymetylfural (1), acid gallic (2), 5-hydroxy-7,4’-dimetoxyflavon (3) và epifriedelanol (4) đã được cô lập. Cấu trúc của các hợp chất được xác định bởi các phương pháp phổ nghiệm và so sánh với tài liệu tham khảo.

http://www.ww.vjol.info/index.php/JSTD/article/viewFile/8652/8028 (http://www.ww.vjol.info/index.php/JSTD/article/viewFile/8652/8028)
Tiêu đề: NGHIÊN CỨU TRÍCH LY VÀ TINH SẠCH MIMOSIN TỪ CÂY MẮC CỠ
Gửi bởi: Mr H2O trong Tháng Mười 27, 2013, 05:38:19 PM
Tài liệu tham khảo - Bài báo "NGHIÊN CỨU TRÍCH LY VÀ TINH SẠCH MIMOSIN TỪ CÂY MẮC CỠ" của các tác giả Phan Thanh Long, Đống Thị Anh Đào, Nguyễn Thị Xuân Đài, đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ các trường đại học kỹ thuật, S. 71 (2009)

http://www.vjol.info/index.php/DHBK/article/viewFile/11053/10039 (http://www.vjol.info/index.php/DHBK/article/viewFile/11053/10039)


Tóm tắt

Loài thực vật Mimosa pudica L. họ Mimosaceae chứa nhiều hợp chất sinh học có lợi cho cơ thể, trong đó mimosin rất có ý nghĩa về dược học. Việc trích ly, thu nhận mimosin từ cây mắc cỡ để ứng dụng vào các ngành khoa học khác là việc làm cần thiết.Trong nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu trích ly và tinh sạch mimosin từ cây mắc cỡ. Nguyên liệu được chần ở 100oC trong 3 phút. Quá trình trích ly được thực hiện với dung môi HCl 0,2N, pH = 2, tỉ lệ nguyên liệu (g) : dung môi (ml) là 1:22, ở nhiệt độ 52oC trong thời gian 50 phút, đạt hiệu suất 84,36%. Thực hiện tinh sạch mimosin bằng phương pháp sắc ký cột trao đổi ion đạt độ tinh sạch 62,86%, hiệu suất thu hồi sau khi qua cột là 93,24%. Chế phẩm mimosin thu được bền trong điều kiện bảo quản lạnh 5oC, không có ánh sáng.

..............
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: Nguyễn Xuân Hiền trong Tháng Mười Một 02, 2013, 11:20:43 AM
Bạn nào có tài liệu về phương pháp tách alkaloid từ cây dừa cạn ko? Mình đang cần c017 >:(
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: Mr H2O trong Tháng Mười Một 02, 2013, 10:56:54 PM
Một số tài liệu tham khảo về các alkaloid từ cây dừa cạn (tiếng Việt) tuy nhiên bạn bắt buộc phải tìm thêm các tài liệu tiếng Anh - rất phong phú.

I. Nguyễn Văn Minh - Khảo sát một số hợp chất Alkaloid có hoạt tính sinh học ở cây dừa cạn (Catharanthus Roceus L.) trong điều kiện nuôi cấy in vitro, đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ  T. 48, S. 1 (2010)
Tóm tắt

Thực vật là nguồn cung cấp các hợp chất dùng làm dược liệu và phụ gia có giá trị. Những sản phẩm này được biết như là những hợp chất trao đổi thứ cấp, thường được tổng hợp với một lượng rất nhỏ trong cây và là sản phẩm của các phản ứng hóa học của thực vật với môi trường hoặc là sự bảo vệ hóa học chống lại vi sinh vật và động vật. Những nghiên cứu về các hợp chất thứ cấp có nguồn gốc thực vật đã phát triển từ cuối những năm 50 của thế kỉ 20 (Rao và cộng sự, 2002). Các chất trao đổi thứ cấp có thể xếp trong ba nhóm chính là alkaloid, tinh dầu và glycoside.
Cây Dừa cạn (Catharanthus roseus L.) thuộc họ Trúc Đào, có xuất xứ từ đảo Madargascar, Châu Phi. Dừa cạn được trồng ở nhiều nơi trên thế giới nhưng chủ yếu phát triển mạnh ở những vùng nhiệt đới như nước ta. Trong Dừa cạn có trên 70 alkaloid, trong đó alkaloid chứa nhân indol vinblastin là hợp chất quan trọng nhất. Vinblastin có khả năng liên kết đặc hiệu với tubulin, là protein ống vi thể ở thoi phân bào, phong bế sự tạo thành các vi ống và gây ngừng phân chia tế bào ở pha giữa. Do đó hiện nay, vinplastin được sử dụng như là dược chất điều trị một số bệnh ung thư trên người. Hàm lượng alkaloid vinblastin trong cây Dừa cạn tự nhiên rất nhỏ, tỉ lệ chỉ khoảng 0,1 - 1,12% [1].
Với mục đích khảo sát hợp chất alkaloid vinblastin trong cây Dừa cạn tự nhiên và trong nguồn mô thực vật nuôi cấy in vitro làm cơ sở cho những nghiên cứu sản xuất hợp chất này trong điều kiện in vitro, chúng tôi tiến hành: (1) nhân giống in vitro cây dừa cạn, xác định các điều kiện của quá trình tái sinh chồi, rễ và tạo dịch huyền phù tế bào, (2) khảo sát hợp chất vinblastin ở cây Dừa cạn các loại mô nuôi cấy in vitro....

II. Trần Hữu Nguyên - Nghiên cứu chiết xuất các alcaloid khác từ dừa cạn để tận dụng nguyên liệu

Đề tài nghiên cứu chiết xuất các alcaloid khác từ dừa cạn để tận dụng nguyên liệu nhằm chiết các alcaloid khác để tận dụng nguyên liệu chủ yếu là phân lập ajmalicin từ rễ do nhu cầu điều trị và nghiên cứu vindolin, carathanthin từ lá...

III. Hồ Huỳnh Thùy Dương, Tất Tố Trinh, Franck Thiard, Nguyễn Ngọc Hạnh - Khảo sát hoạt tính ức chế tăng trưởng của các cây thuốc Việt Nam trên dòng tế bào ung thư cổ tử cung Hela

Tóm tắt

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hoạt tính ức chế tăng trưởng trên dòng tế bào ung thư cổ tử cung HeLa của 30 cao chiết thô từ 19 cây thuốc Việt Nam dựa trên thử nghiệm MTT (3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyl tetrazolium bromide). Tại nồng độ khảo sát 100 µg/ml, 7 cao chiết từ cây còng nước (Calophyllum dongnaiense), dừa cạn (Catharanthus roseus), vàng nhựa (Garcinia ferrea), sơn vé (Garcinia merguensis Wight), trau tráu (Mammea siamensis (Miq.) T. Anderson) có phần trăm ức chế tăng trưởng tế bào lớn hơn 50%, những cao chiết này tiếp tục được khảo sát tại nồng độ 20 µg/ml. Kết quả tại 20 µg/ml cho thấy cao chiết ether dầu (PEE) từ trau tráu (họ Clusiaceae) có hoạt tính mạnh nhất với phần trăm ức chế sự tăng trưởng tế bào là 93%. Kết quả quan sát kiểu hình tế bào và sự phân mảnh DNA bộ gene cho thấy chính apoptosis (chết theo chương trình của tế bào) là cơ chế gây ức chế tăng trưởng tế bào của PEE.

IV.
Tiêu đề: GINSENOSIDE RG1 VÀ L-TRYPTOPHAN TỪ CÂY LƯỢC VÀNG (CALLISIA FRAGRANS)
Gửi bởi: Mr H2O trong Tháng Mười Một 04, 2013, 09:59:09 AM
Tài liệu tham khảo - Tác giả Trần Thu Hương, Lê Huyền Trâm, Trần Thượng Quảng, Trần Thị Minh, Phan VĂn Kiệm, Nguyễn Phương Thảo, Nguyễn Tuấn Anh, Hồ Đức Cường  "GINSENOSIDE RG1 VÀ L-TRYPTOPHAN TỪ CÂY LƯỢC VÀNG (CALLISIA FRAGRANS)" - Đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ các trường đại học kỹ thuật, S. 74 (2009)

Tóm tắt

Cây Lược vàng, còn gọi là cây Lan vòi, có tên khoa học là Callisia fragrans (Lindl.) Woods, thuộc họ Thài lài (Commelinaceae), vốn có nguồn gốc từ Trung Mỹ, sau đó được di thực đến nhiều nơi khác. Bài báo này thông báo quá trình phân lập và xác định cấu trúc của ginsenoside Rg1 và  L-tryptophan từ dịch chiết metanol của cây Lược vàng nhằm định hướng cho những nghiên cứu sâu hơn tiếp theo.

Từ dịch chiết metanol của cây Lược vàng, đã phân lập được 2 hợp chất là sterol ginsenoside-Rg1 có khung dammarane và 1 axit amin L-tryptophan. Cấu trúc của các hợp chất này được xác định bằng các phương pháp phân tích phổ ESI-MS, phổ NMR 1 chiều và 2 chiều, cùng với việc so sánh với các tài liệu chuẩn. Đây là lần đầu tiên các hợp chất này được phân lập từ cây Lược vàng. Hợp chất Ginsenoside-Rg1 được nghiên cứu có hoạt tính gây độc tế bào và hoạt tính kháng vi sinh vật chọn lọc mạnh. Tryptophan và ginsenoside-Rg1 đều có hoạt tính sinh học cao.

http://www.vjol.info/index.php/DHBK/article/viewFile/11267/10241 (http://www.vjol.info/index.php/DHBK/article/viewFile/11267/10241)
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: Hễ Cứ Đem Tài Liệu Lên Mạng trong Tháng Tám 08, 2014, 02:14:40 AM
(http://ecx.images-amazon.com/images/I/51vaZ3Q7WiL._BO2,204,203,200_PIsitb-sticker-arrow-click,TopRight,35,-76_AA300_SH20_OU02_.jpg)

http://www.mediafire.com/view/vam1hp588dxubx1/Bioactive_Natural_Products_Detection,_Isolation,_&_Structural_Determination_(2e)_-_Steven_M._Colegate_&_Russell_J._Molyneux.pdf

(http://ecx.images-amazon.com/images/I/41LOX2BFLvL.jpg)

http://www.mediafire.com/view/6qamxd0anej87eq/Chemistry_For_Pharmacy_Students_General,_Organic_Natural_Product_Chemistry_-_Satyajit_D._Sarker,_Lutfun_Nahar.pdf
Tiêu đề: Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
Gửi bởi: hoan1954 trong Tháng Hai 20, 2018, 05:54:16 PM
TỔNG HỢP HỮU CƠ
Citral là nguồn nguyên liệu ban đầu để tổng hợp thành các chất hữu dụng khác sử dụng trong các ngành công nghiệp khác như: methol,  isopulegol, citronellal,…

(http://lh6.ggpht.com/_PfE9jmZwjeQ/SgBpPDldWGI/AAAAAAAAASA/g1Xb0uDl5gQ/s576/untitled9.jpg)

Phản ứng tổng hợp này, dựa trên cở sở của phản ứng hidro hóa citral. Theo các nghiên cứu trên thế giới và được kết quả khả quan khi sử dụng chất xúc tác Pt và Pt/Sn với các chỉ số thích hợp của I. M. J. Vilella, S. R. de Miguel and O. A. Scelza, tài liệu này được công bố bởi Investigaciones en Catálisis y Petroquímica (INCAPE), Facultad de Ingeniería Química (Universidad Nacional del Litoral) CONICET, S. del Estero 2654, (3000) Santa Fe,oascelza@fiqus.unl.edu.ar.
Tiêu đề: Re: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên
Gửi bởi: hoan1954 trong Tháng Hai 20, 2018, 06:00:39 PM
   Chào anh !
 Tôi muốn đặt hang anh 01 -05 máy siêu âm dung cho nồi chưng cất Sả 500 kg ? xin anh trả lời cho , giá cả ,tiến độ...
 Tel : 024 66823425 /o901731954  - email: tanhoananh@ gmail.com
 Kính thư Trần Ngoc