Cộng đồng Hóa học H2VN

..::: NHÓM HÓA HỌC ỨNG DỤNG - CÁC CHUYÊN NGÀNH ::. => Chuyên ngành khác => Nhóm Môi Trường - Địa hóa học => Tác giả chủ đề:: nguyentannhat trong Tháng Năm 20, 2006, 07:39:21 PM

Tiêu đề: Hóa học và môi trường
Gửi bởi: nguyentannhat trong Tháng Năm 20, 2006, 07:39:21 PM
Theo kết quả một cuộc nghiên cứu của hai nhóm nghiên cứu quốc tế đăng tải trên Tạp chí Khoa học hôm qua, tiến độ dâng cao của mực nước biển xảy ra nhanh hơn nhiều so với dự đoán trước đây.
(http://www.khoahoc.com.vn/photos/Image/2006/03/25/North-Pole-ice.jpg)
Cuộc nghiên cứu cho thấy khí thải nhà kính gia tăng trong thế kỷ tới có thể làm Bắc cực nóng lên từ 3 - 50C vào mùa hè. Nếu tình hình này tiếp diễn thì Bắc cực sẽ không còn băng vào năm 2100. Hiện nhiệt độ Trái đất đang gia tăng theo hướng sẽ làm tan chảy các tảng băng tại Greenland và Bắc cực vào năm 2600, nhấn chìm những khu vực đông dân cư nằm dọc theo bờ biển và hầu như toàn bộ Hà Lan sẽ chìm trong nước biển. Mực nước biển được dự đoán sẽ dâng lên ít nhất 6m trở lên vào thời điểm đó, điều mà các nhà khoa học lúc trước cho rằng phải hơn 1 ngàn năm nữa mới xảy ra. Khi đó, các khu vực trung tâm của London (Anh) sẽ hoàn toàn bị ngập lụt. Nếu không có sự can thiệp kịp thời và quyết liệt ngay từ bây giờ, con người sẽ không thể đảo ngược tiến trình trên vào nửa cuối thế kỷ này
Tiêu đề: Dioxin và hậu quả trong chiến tranh Việt Nam
Gửi bởi: ThanhLongt87 trong Tháng Tám 02, 2006, 12:28:15 PM
Hủy diệt mội sinh luôn luôn là một thủ đoạn rất cổ xưa và rất thông thường trong chiến tranh. Khi kỹ thuật và công nghệ ngày càng tinh vi, sự hủy diệt môi trường ngày càng trở nên khốc liệt. Có thể nói chiến dịch chất độc ở Việt Nam là một sự phá hoại môi trường lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới.

NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ.

Chiến dịch sử dụng hóa chất trong cuộc chiến tranh Việt Nam của quân đội Mỹ không lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh cận đại. Trong Thế chiến thứ II, chính phủ Mỹ ủy nhiệm và cung cấp ngân sách cho Hội đồngKhoa học Quốc gia để phát triển một hóa chất dùng cho tiêu hủy đồng lúa và vụ mùa ở Nhật. (nên nhớ rằng lúc đó lúa gạo là nguồn thực phẩm chính người Nhật). Kết quả của nghiên cứu này là 2,4-D và 2,4,5- T (tức là chất độc màu da cam ngày nay) ra đời. Tuy nhiên, qua thảo luận Tổng thống Dwight Roosevelt và Chánh văn phòng Nhà trắng, Đô đốc Willam D. Leahy quyết định không sử dụng hóa chất này trong chiến tranh Nhật. Do đó, chất đốc màu da cam không dùng được trong Thế chiến thứ II.

Nhưng trong đầu những nhà cầm quyền Tây phương, việc sử dụng hóa chất như một vũ khí trong chiến tranh vẫn là một lựa chọn. Vào cuối thập niên 1950, qua sự thành công của Anh trong việc sử dụng hóa chất 2,4,5 – trichlogophenoxyacetic ( 2,4,5 – T ) để tiêu diệt mùa màng ở Malaya, Bộ quốc phòng Mỹ lại ủy nhiệm cho cơ quan ARPD (Advanced Reseach Project Agency ) nghiên cứu và phát triển các hóa chất diệt cỏ để dùng cho mục đích quân sự. Một cuộc thử nghiệm tương đối qui mô đầu tiên dùng hóa chất (Agent Purple) được tiến hành ở Trại Drum (bang New York) vào năm 1959, và mô hình này được ứng dụng trong chiến tranh Việt nam sau đó vài năm.

Giữa lúc cuộc chiên tranh giữa Việt nam và Mỹ càng ngày càng đi vào giai đoạn ác liệt, và trước sự thất bại của Mỹ trong việc theo dõi quân đội Việt nam, giới quân sự và chính trị Mỹ nghĩ đến việc dùng hóa chất. Họ lý giải rằng, chất màu da cam nên được dùng bởi vì nó có thể “ khai quang”, tức là làm trống đồng cỏ, quân đội Việt nam không có nơi để ngụy trang, và không quân Mỹ tha hồ bỏ bom cắt tuyến đường Trường Sơn.

Ngày 20 tháng 11 năm 1961, Tổng thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiên dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng thống Nam Việt Nam ( một chính phủ do Mỹ dựng nên và nuôi dưỡng), ủng hộ nồng nhiệt. Diệm cho rằng ông ta “ biết Cộng sản ở đâu”, và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mỹ mãn. Ngược lại với quan điểm của Diệm, các giới cao cấp trong Bộ ngoại giao Mỹ như Roger Hilsman và W. Averell Harriman phản đối quyết định của Tổng thống Kennedy, vì họ cho rằng không có cách gì để biết được là chiến dịch sẽ “ khai quang” hay đồng ruộng của dân bị tiêu hủy. Ông Averell Hilsman còn lý giải rằng nếu Mỹ dùng hóa chất trong cuộc chiến, Việt Nam sẽ có lý do để tố cáo Mỹ là “Chủ nghĩa đế quốc dã man” (“ Foreign imperialist barbarism”). Nhưng chiến dịch vẫn được thi hành.

Hóa chất bắt đầu được vận chuyển đến Việt Nam trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1961. Các hóa chất này được chứa trong các thùng phuy, với mã màu khác nhau: chất màu hồng (Agent Pink), chất màu xanh lá cây (Agent Green ), màu tím (Agent Purple), màu da cam(Agent Orange), màu trắng (Agent White) và màu xanh da trời (Agent Blue ). Mỗi thùng phuy chứa khoảng 250 lít (tức 55gallons). Mỗi lọai hóa chất màu có thành phần hóa học khác nhau, nhưng nói chung phần lớn chúng đều có thành phần phần 2, 4, 5 – T, tức có chứa dioxin. Dioxin, như đã và sẽ đề cập trong một phần sau, là một độc tố có khả năng gây ra ung thư và hàng loạt bệnh tật khác trên con người. Vì thế, nói đến chất màu da cam, người ta thường hay đồng hóa với dioxin.

Chiến dịch phun hóa chất xuống Việt Nam có tên là “Operation Trail Dust”. Trong chiến dịch này có nhiều chiến dịch và chương  trình nhỏ. Chiến dịch Ranch Hand (“Bàn tay nông dân” – nằm trong chiến dịch Trail Dust) thực hiện khỏang 95% việc phun hóa chất. Khi đến Việt Nam, trên danh nghĩa, các hóa chất này thuộc quyền sở hữu của chính phủ miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Điều này có nghĩa là quân đội Nam Việt Nam trực tiếp quản lý  và sử dụng các hóa chất này. Trong chương trình có tên là “Farmgate” ( do Bộ quốc phòng Mỹ điều khiển), máy bay mang nhãn hiệu Việt Nam, do phi công mặc đồ dân sự lái và có sự trợ giúp của một nhân viên người Việt, đã tiến hành những phi vụ tiêu hủy mùa vụ ở miền Nam cả Trung Việt Nam.

Trong chiến dịch Ranch Hand, có nhiều dự án với những mục tiêu cụ thể, chẳng hạn như phun ở đâu, bao nhiêu, lọai hóa chất nào, và do ai tiến hành. Mỗi dự án điều có sự chấp thuận của hai bên, Mỹ và Nam Việt Nam.
Kể từ năm 1962, lực lượng Không quân Mỹ đã bắt đầu rải hóa chất ở qui mô lớn trong các vùng đất thuộc miền Nam và Trung Việt Nam. Phần lớn ( 90%) AO (tức Agent Orange – chất đọc màu da cam) được rải xuống Việt Nam bằng máy bay lọai C123, và phần còn lại ( 10% ) bằng trực thăng, xe vận tải, và đi bộ.
Tiêu đề: Hồi âm: Dioxin và hậu quả trong chiến tranh Việt Nam
Gửi bởi: ThanhLongt87 trong Tháng Tám 02, 2006, 12:44:55 PM
DƯ LUẬN THẾ GIỚI

Chiến dịch dùng hóa chất của Mỹ ở Việt Nam bị dư luận thế giới lên án gay gắt. Hầu như tất cả báo chí Âu châu và ngay trong nước Mỹ, giới khoa học và trí thức thế giới cực lực phản đối hành động của Mỹ và đòi hỏi chính phủ Mỹ phải ngưng ngay việc dùng hóa chất độc hại. Bertrand Russell, một nhà toán học danh tiếng trên thế giới, tố cáo thẳng thắn rằng quân đội Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam, qua việc sử dụng hóa chất có khả năng gây ra ung thư trên con người. Trong khi đó, một thượng nghị sĩ Mỹ, Robert W. Kastenmeier ( Wisconsin ), cảm thấy tình hình bất ổn, Ong viết cho Tổng thống Kennedy, chất vấn việc dùng hóa chất và đặt vấn đề chế độ Diệm có xứng đáng để Mỹ phải hy sinh nguyên tắc đạo đức hay không.

Tháng 1 năm 1966, Giáo sư Jonh Edsall (Đại học Harvard) và một nhóm gồm 29 nhà khoa học ở Thành phố Boston việc một thư phản đối việc dùng hóa học để tiêu hủy mùa vụ của nông dân. Họ cho đó là một hành động vô nhân đạo và dã man. Một năm sau, Cố vấn khoa học cho Tổng thống nhận được một thư phản kháng từ 5.000 nhà khoa học trên thế giới, trong đó có 17 người đạt giải Nobel và 129 thành viện Viện hàn lâm khoa học Mỹ, yêu cầu Tổng thống Lyndon B. Johnson chấm dứt ngay hành động hủy diệt môi sinh tại Việt Nam.

Năm 1967, Hiệp hội vì phát triển Khoa học Mỹ (American Association for the Advancement of Science), với sự thúc đẩy của Giáo sư E. W. Pfeiffer (Đại học Montana), khuyến cáo Bộ quốc phòng Mỹ về hậu quả lâu dài cho người dân và môi sinh Việt Nam do chiến dịch Ranch Hand gây ra. Bộ quốc phòng ủy nhiệm cho Viện nghiên cứu khoa học Trung Tây (Midwest Research Institute) nghiên cứu về ảnh hưởng của chất màu da cam ở Việt Nam. Dựa vào các dữ kiện khoa học thời đó, Viện này kết luận rằng ảnh hưởng của chất màu da cam ở Việt nam đến đất đai không lâu; họ cho rằng sẽ hồi phục sau một thời gian. Nhưng họ cũng đề nghị cần nghiên cứu thêm về hậu quả chất màu da cam đến sức khỏe con người.

Đại sứ Ellsworth Bunket tại Sài Gòn lúc bấy giờ cũng tổng kết sự tiến triển của chiến dịch Ranch Hand, và ông đánh giá rằng chiến dịch đã thành công trên phương tiên quân sự, nhưng những tàn phá môi trường, mùa vụ, và sống còn của người dân là một mối quan tâm[11]. Đại sứ Bunker cũng trình bày báo cáo lên Nguyễn Văn Thiệu, lúc đó là Tổng thống Nam Việt Nam, và ông Thiệu cũng đồng ý nhận định của ông Bunker, nhưng đề nghị nên hạn chế việc dùng chất màu da cam trong tương lai hay dùng nơi cần thiết, tuy nhiên vẫn dùng.

Năm 1969, khi Richard Nixon lên cầm quyền, trong xu hướng giảm thiểu sự có mặt của quân đội Mỹ ở Việt Nam, chiến dịch Ranch Hand cũng giảm 30%. Đến cuối năm 1969, chiến dịch này đã mất 11 trong số 25 máy bay.

Trong thời gian này, Thượng nghị vịên Mỹ sắp phê chuẩn Nghị quyết của Liên hiệp quốc về việc cấm dùng các vũ khí hóa học và sinh học trong chiến tranh. Nixon cũng muốn thông qua Nghị quyết này, nhưng lại lý luận rằng việc Mỹ dùng chất màu da cam ở Việt Nam không nằm trong Nghị quyết của Liên hiệp quốc. Tuy nhiên, Hội đồng khóang đại Liên hiệp quốc không chấp nhận lý luận của Nixon, và cho rằng chiến dịch Ranch hand của Mỹ, theo Nghị quyết, là bất hợp pháp. Nhưng dù sao đi nữa, Nixon có thêm một lý do để chấm dứt chiến dịch Ranch Hand.

Mùa thu năm 1969, một nhóm khoa học gia công bố một nghiên cứu quan trọng cho thấy chất 2,4,5-T, một thành phần hóa học của chất màu da cam, ở nồng độ cao, có khả năng gây ra dị thai hay dị dạng bẩm sinh và chết thai trong bụng mẹ. Lúc đó, các bản tin từ báo chí Sài Gòn cũng cho biết chất màu da cam là nguyên nhân gây ra nhiều trường họp dị dạng bẩm sinh trong người dân. Ngày 15 tháng 4 năm 1970, sau khi nghiên cứu này được công bố, BộY tế, Giáo dục và Xã hội, Bộ Nội vụ và Bộ Nông nghiệp Mỹ ra lệnh ngưng ngay việc dùng chất màu da cam ở Mỹ.

Tháng 4 năm 1970, Bộ Quốc phòng ra lệnh tạm thời đình chỉ chiến dịch Ranch Hand. Nhưng trên thực tế, các thuốc khai hoang khác vẫn được tiếp tục rải xuống Việt Nam. Đến tháng 7 năm 1971 thì chiến dịch hoàn toàn chấm dứt. Theo báo cáo chính thức của chiến dịch Ranch Hand, quân đội Mỹ đã thành công trong việc phá hủy khỏang 14% diện tích rừng Nam Việt Nam, kể cả 50% các rừng đước.
Tiêu đề: Hồi âm: Dioxin và hậu quả trong chiến tranh Việt Nam
Gửi bởi: ThanhLongt87 trong Tháng Tám 02, 2006, 12:49:55 PM
VÀI NHẬN XÉT.

Xét qua diễn biến chiến dịch Ranch Hand và những hậu quả của nó, nguời ta có thể nói cuộc chiến Việt Nam đã được giới quân sự Mỹ biến thành một bãi thí nghiệm khổng lồ cho hóa chất độc hại. Điều đáng nói ở đây là có dấu hiệu cho thấy họ biết những hóa chất này có khả năng gây ra tác hại cho sức khỏe của người dân.

Trong một lá thư giử cho Thượng nghị sĩ Tom Daschle, đề ngày 9 tháng 9 năm 1988, Tiến sĩ James R. Clary, thuộc cơ quan nghiên cứu vũ khí hóa học (Chemical Weapons Branch) trực thuộc Trung tâm Phát triển Vũ trang Không quân (Airforce Armament Development Laboratory, Florida), viết như sau (tạm dịch):

“Lúc chúng tôi (các nhà khoa học quân đội) khởi xướng chương trình khai hoang vào thập niên 1960, chúng tôi biết tiềm năng độc hại của chất Dioxin chứa trong thuốc diệt cỏ. Chúng tôi còn biết rằng công thức mà giới quân sự dùng có nồng độ cao hơn nồng độ mà giới dân sự dùng, vì chi phí rẻ và thời gian sản xuất ngắn. Tuy nhiên, vì hóa chất sẽ được dùng trên kẻ thù, không ai trong chúng tôi quan tâm thái quá. Chúng tôi không bao giờ nghĩ là quân đội chúng ta bị nhiễm độc hại. Và, nếu chúng tôi nghĩ đến tình huống này, chúng tôi mong muốn chính phủ chúng ta giúp đỡ các cựu chiến binh bị nhiễm độc chất ”

(“When we (military scientists ) initiated the herbicide program in the 1960s, we were aware  of the potential for damage due to dioxin contamination in the herbicide. We were even aware that the military formulation hada higher dioxin connetration than the civilian version due to the lower cost and speed of manufacture. However, becau the material was to be used on the enemy, none of us were pverly concerned. We never condidered a scenario in which our own personnel would become contamninated with the herbicide. And, if we had, we would have expected with the government to give assistance to veterans so contaminated.”

Tiết lộ trên cho thấy giới quân sự Mỹ đã cho biết các hóa chất trong cuộc chiến Việt Nam là độc hại, nhưng một cách kiêu ngạo, họ cho rằng có thể dùng trên “ kẻ thù”

Cần phải nói thêm ở đây là không những chỉ dùng các phương tiện hóa học ở Việt Nam Mỹ có dự định dùng vũ khí hạt nhân trong thời chiến. Tài liệu của Viện nghiên cứu Nautilus (Nautilus Institute, Berkeley, California vừa mới tiết lộ vào năm 2003 cho thấy vào năm 1966, trong lúc Mỹ đang leo thang chiến tranh ở Việt Nam, Lầu năm góc (Pentagon) đã từng suy nghĩ đến việc dùng vũ khí hạt nhân tấn công Việt Nam. Ong Freeman Dysin, cựu giáo sư vật lý tại Đại học Princeton, từng nghe các giới chức Lầu năm góc nói đến việc dùng vũ khí hạt nhân để đối phương (tức Việt Nam) do dự. Không phải là người hiếu chiến và muốn ngăn ngừa ý đồ điên đồ của giới quân sự, sau khi nghe tin này, ông Dyson và đồng nghiệp, Robert Gomer và S. Courtenay Wright (thuộc Đại học Chicago), và Stven Weinberg (Đại học Harvard), quyết định tiến hành một nghiên cứu về những hậu quả nếu Mỹ quyết định dùng vũ khí hạt nhân ở Việt nam. Công trình nghiên cứu này ước đóan rằng Mỹ cần phải dùng đến 3000 vũ khí hạt nhân để phá hủy hệ thống giao thông đường mòn Hồ Chí Minh. Ngoài ra, nếu Mỹ quyết định như thế thì phía Việt Nam, dưới sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, có thể dùng vũ khí hạt nhân để phản công và hậu quả sẽ khủng khiếp cho quân đội Mỹ hơn là cho quân đội Việt Nam. Báo cáo của các nhà vật lý được đệ trình lên Bộ quốc phòng, nhưng không ai biết ảnh hưởng của báo cáo đến chính sách của Mỹ ra sao. Lúc đó, Robert McNamara là Bộ trưởng quốc phòng, và ông đã từng phản đối ý nghĩ dùng vũ khí hạt nhân trong cuộc chiến.

Trong y học, một khi một công thức thuốc được phát triển, người ta phải làm thử nghiệm về sự an toàn của thuốc trên thú vật (như chuột) cực kỳ kĩ càng trước khi đem ra dùng cho bệnh nhân. Ngay cả thử nghiệm trên chuột, các nhà khoa học cũng phải được phép của Hội đồng y đức trước khi tiến hành nghiên cứu. Trong khi đó, quyết định dùng chất da cam chứa dioxin trong chiến tranh Việt Nam chỉ do một số người quyết định (Tổng thống Kennedy) và nhận được ủng hộ của ông Ngô Đình Diệm. Người dân hoàn toàn không biết gì đến quyết định này. Vì thế, có thể nói rằng quyết định dùng AO (Agent Ỏange - chất độc màu da cam) ở Việt Nam là một việc làm tàn nhẫn và vô nhân đạo. Nó thể hiện một thái độ ngạo mạn của người Mỹ coi thường mạng sống con người Việt Nam và môi trường Việt Nam. Nhận xét đó đã được giới khoa bảng Mỹ nêu lên từ năm 1966, họ cho đó là một hành động dã man, chỉ có hại cho người lính và thường dân.

Hiện nay, trong khi Mỹ tìm cách ngăn chận các nước khác dùng hóa chất trong chiến tranh, thì chính Mỹ lại là nước dùng những độc chất đó vào những mục tiêu phá hoại và giết người. Lịch sử sẽ ghi nhận việc Mỹ dùnh hóa chất màu da cam và dioxin ở Việt Nam ( và nhiều hóa chất độc hại khác ở vùng Vịnh, vùng Balkans và A Phú Hãn) như là những cuộc chiến tranh hóa học đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới.

( Trích trong cuốn sách Chất độc da cam , dioxin và hậu quả )
Tiêu đề: Xét nghiệm nước miễn phí bằng điện phân
Gửi bởi: Hieuclass trong Tháng Mười 24, 2006, 02:24:56 PM

1. Kịch bản

Một ngày nào đó sẽ có (hoặc đã từng có) một nam thanh hay một nữ tú đến nhà bạn (hoặc cơ quan bạn) tự giới thiệu là nhân viên tiếp thị (NV2T) của Công ty 3X được trang bị công nghệ hàng đầu Thế giới trong lĩnh vực cung cấp nước uống tinh khiết, siêu sạch. NV2T này thông báo vắn tắt tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt trên Thế giới và ở Việt Nam mà bạn đã từng biết hoặc chưa biết, giới thiệu tên các cơ sở đang sử dụng sản phẩm của họ, trong danh sách này có cả các cơ quan nước ngoài hoặc bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài, bởi vì sản phẩm của họ không chỉ đạt tiêu chuẩn chất lượng của Việt nam mà cả của Thế giới. Bài nói hết sức lưu loát, rất thuyết phục, người nói rất tự tin.

Sau đó, NV2T xin được phép xét nghiệm miễn phí chất lượng nước mà bạn đang dùng cho ăn uống hàng ngày, coi thử đã đủ sạch chưa. Bạn khăng khăng là nước của bạn đã được kiểm nghiệm và đạt các tiêu chuẩn của Việt Nam và Thế giới. Thế nhỡ tháng trước đạt tiêu chuẩn, tháng này không thì sao? Có hàng trăm lý do chính đáng. Bạn đem ra một cốc nước trong mát, có thể là nước giếng khoan sau lọc, nước máy của thành phố, nước đóng chai của một hãng khác hoặc nước mưa lấy từ bể chứa. NV2T rót nước uống tinh khiết siêu sạch đã mang theo sẵn vào một cốc khác. NV2T đặt máy điện phân vào 2 cốc cùng lúc và bật điện. Máy này (vỏ nhựa, kích thước cỡ bao thuốc lá Vinataba - Hình-1) có 4 thỏi kim loại chìa ra (gọi là cực); hai cực nhúng vào cốc nước của bạn, 2 cực còn lại nhúng vào cốc nước của NV2T đem theo.

Sau 5-3 giây, trời ạ, cốc nước của bạn đổi sang mầu da cam rồi nâu dần (Hình-2). NV2T : "Thấy chưa, nước của bạn quá bẩn !". Bạn không tin, tự làm lại thí nghiệm, nhưng lần này thì đổi cực, cặp cực bên trái nhúng vào cốc nước của bạn. Kết quả vẫn không thay đổi: nước của bạn đổi sang mầu da cam rồi nâu dần, nước của NV2T vẫn trong veo.

  (http://khoahoc.com.vn/photos/Image/2006/10/21/dien_phan.jpg)
Hình-1:
Máy điện phân nước 
(http://khoahoc.com.vn/photos/Image/2006/10/21/dien_phan1.jpg)
Hình-2:
Kết quả xét nghiệm nước bằng máy điện phân.
1: Cốc chứa nước nhà bạn đang dùng.
2: Cốc chứa nước uống tinh khiết của NV2T. 


Rõ ràng là, nước của bạn quá bẩn. Có thể lâu nay vẫn bẩn như thế, cũng có thể tuần trước sạch tuần này bẩn, chất lượng không ổn định, có vô vàn lý do. Bạn lấy nước đóng chai của hãng khác, cũng bẩn không kém gì nước nhà 

(http://khoahoc.com.vn/photos/Image/2006/10/21/dien_phan2.jpg)
Hình-3: Mầu sắc nước sau điện phân và bộ phận cơ thể bị tổn thương (Trích tờ rơi đang lưu hành của Công ty 3X)
 
bạn, có khi còn bẩn hơn. Bạn thử với nước mưa, tưởng rằng nước ngưng ở bầu trời thì sạch, ngờ đâu các đám mây chứa nước lại chứa cả khói thải nhà máy, bụi bốc lên từ một bãi tha ma do một cơn lốc nào đó, bụi phóng xạ từ một vụ thử nghiệm hạt nhân tận đẩu tận đâu, sau khi bật điện, nước mưa của bạn cũng chuyển mầu nhưng nhạt hơn, vậy là nó ít bẩn hơn, nhưng vẫn không sạch bằng nước uống tinh khiết của NV2T.

Mẫu nước chuyển sang mầu cam chứng tỏ có nhiễm sắt, nếu nước của bạn chuyển sang màu xanh chứng tỏ trong đó có chất độc chứa clo, đồng, nếu chuyển sang màu đen thì có kim loại nặng, màu trắng - có asen (thạch tín), sợi đá thạch miên (amiăng)... , màu lam - có thuốc trừ sâu cơ phốt pho, và chúng đều gây các bệnh nan y cả (Hình-3)

Rất may là nước của bạn chưa nhiễm thạch tín !. Cần phải bảo đảm sức khoẻ cho gia đình trong đó có con cái, cháu nội, cháu ngoại (hoặc cho đồng nghiệp), bạn đặt vấn đề mua nước của họ, chính hãng của họ; một bình 19 lít chỉ có hai chục ngàn đồng (20.000 VNĐ), quá rẽ; kiểm tra chất lượng (bằng máy điện phân) miễn phí trước khi trả tiền. OK

Kịch bản này sẽ này sẽ (và đã) điễn đi diễn lại rất hiệu quả nhiều lần tại nhiều nơi cho đến lúc gặp người nghe ngờ ngợ rằng mình đang bị lừa. Làm sao có thể lừa được bạn ?. Bạn đã tự tay xét nghiệm cơ mà, hơn nữa bạn đã khéo léo tế nhị mời NV2T đứng cách xa 3 mét rồi còn gì. Tuy nhiên, bạn vẫn bị lừa và còn tiếp tục bị lừa cho đến khi nào bạn biết được nguyên lý hoạt động của máy điện phân nói trên và nhớ lại được một số kiến thức cơ bản về điện hoá học nước mà bạn đã có lần nghe hoặc đọc được ở đâu đó.

Hồi phụ (đọc thêm): Kịch bản chính đến "OK" là hết. Ở vùng sâu vùng xa còn một hồi phụ nữa. Sau nhiều lần cung cấp nước tinh khiết cho dân làng đúng theo hợp đồng miệng, một hôm NV2T thông báo rằng, hiện nay Công ty sản suất không đủ hàng cung cấp cho tất cả, chỉ ưu tiên những ai đóng tiền trước. Mọi người hò nhau móc túi, chờ đợi mỏi mắt vài tuần không thấy NV2T quay lại; tá hoả chạy tới chạy lui, hỏi qua hỏi lại thì ra người làm phước đã lặn biệt tăm.



2. Vài nét sơ lược về điện hoá học nước

Trừ khi bạn ăn kem hoặc uống bia làm lạnh bằng đá, thì nước bạn gặp hàng ngày đều ở trạng thái lỏng. Phân tử nước có công thức là H2O. Phân tử nước ở trạng thái lỏng phân cực, một đầu tích điện âm, đầu kia tích điện dương. Trong một cốc nước bình thường, có một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng vài phần tỷ) phân tử nước phân ly thành hai loại ion mang điện trái dấu, tạo thành một cân bằng động:

H2O <=> H+ + OH-                             (2.1)

Tích số nồng độ (nồng độ tính ra mol/l) của ion H+ và của ion OH-,
là một hằng số, gọi là tích số ion của nước (Tn); ở 25oC, tích số này bằng 10-14: Tn = [H+].[OH-] = 10-14.

Âm logarit cơ số 10 của nồng độ ion H+ gọi là pH (chữ p không Hoa): pH = -Lg[H+]. Nếu không có tác động nào khác vào cân bằng phân ly của nước (cân bằng 2.1), thì nồng độ H+ luôn bằng nồng độ OH-, và bằng 10-7 mol/l, khi đó pH = 7, ta nói nước trung tính. Nếu thêm vài giọt axit vào nước (axit hoá), tức là tăng nồng độ ion H+, thì pH < 7. Còn nếu thêm vài giọt kiềm vào nước (kiềm hoá), tức là tăng nồng độ ion OH-, đồng thời giảm nồng độ ion H+, thì pH > 7.

Nước trong tự nhiên (nước ngầm, nước sông, nước biển,...) hoà tan nhiều chất khoáng: NaCl, CaCl2, CaSO4, MgCl2, MgSO4, Na2CO3, NaHCO3... Nước tự nhiên thực tế là một dung dịch. Các chất khoáng này phân ly thành các ion, chẳng hạn:

NaCl -> Na+ + Cl-                                    (2.2)
NaHCO3 -> Na+ + HCO3-                      (2.3)

Khi nhúng một cặp điện cực vào cốc nước có chứa ion, thì các ion dương (cation) chuyển dịch đến cực âm (Catôt), các ion âm (anion) chuyển dịch đến cưc dương (Anôt), tạo nên dòng điện. Một cách nôm na, dòng điện trong dung dịch là dòng của các ion. Nước tinh khiết có độ phân ly thấp, nồng độ cation H+ và anion OH- rất nhỏ, nên tính dẫn điện kém. Nước cất một lần (vẫn còn một lượng nhỏ chất khoáng và một ít khí hoà tan trong đó có CO2) có độ dẫn điện riêng (sau đây gọi tắt là độ dẫn) không lớn hơn 0,5 mS/m (miliSimen/met). Nước siêu tinh khiết dùng trong công nghệ chế tạo vật liệu bán dẫn, được sản xuất bằng các phương pháp đặc biệt, có độ dẫn nhỏ hơn 0,01 mS/m. Nước tự nhiên do chứa nhiều chất khoáng nên độ dẫn có thể tăng lên đến vài chục, vài trăm mS/m hoặc hơn, tuỳ thuộc vào nồng độ các chất khoáng đã hoà tan.



3. Nguyên lý hoạt động của máy điện phân "xét nghiệm nước".

Máy điện phân này rất đơn giản. Theo sơ đồ nguyên lý (Hình-4), bạn có thể ra chợ điện tử mua linh kiện, tự lắp một chiếc, thử chơi. Hai Catôt bằng nhôm, hai Anôt bằng sắt. Một Catôt và một Anôt tạo thành 1 cặp điện cực. Phóng đại Hình-1, bạn sẽ nhìn thấy 2 chữ nổi nằm giữa 2 cặp điện cực là: ALUMINUM (nghĩa tiếng Việt là Nhôm) và IRON (Sắt). Lúc còn mới, các thỏi kim loại đều có màu trắng. Nếu nuôi máy bằng điện lưới nhà bạn (220V xoay chiều) thì điện thế một chiều giữa Anôt và Catôt là 200V. Khi điện phân nước, mỗi cặp điện cực nhúng vào một cốc.

(http://khoahoc.com.vn/photos/Image/2006/10/21/dien_phan3.jpg)
Hình-4: Sơ đồ nguyên lý của máy điện phân "xét nghiệm nước"

Cái gì xảy ra khi điện phân nước của bạn?

- Tại thỏi nhôm, đang giữ vai trò là Catôt (âm): Cation H+ từ dung dịch khuếch tán tới bề mặt thỏi nhôm, nhận điện tử thành hydrô:

2H+ + 2e -> H2­­­                             (3.1)

Bạn thấy trên bề mặt thỏi nhôm có khí sủi lên, có thể hứng vào ống nghiệm, đốt thì cháy, đó chính là khí hydrô vậy.

- Tại thỏi sắt, đang giữ vai trò là Anôt (dương): Nguyên tử sắt ở lợp bề mặt mất điện tử trở thành cation Fe3+, khuếch tán vào dung dịch, hiện tượng này được gọi là hoà tan anôt:

Fe - 3e -> Fe3+                             (3.2)

Trong dung dịch nước có pH loanh quanh vùng trung tính, Fe3+ tương tác với phân tử nước tạo thành hydroxyt sắt(III), quá trình này gọi là thuỷ phân:

Fe3+ + 3H2O = Fe(OH)3 + 3H+    (3.3)

Hydroxyt săt(III) là một chất rất ít tan, vừa hình thành liền bị các phân tử nước (vốn đã phân cực) vây xung quanh tạo thành một vành đai khá vững, vì vậy công thức của nó nhiều khi được ghi là Fe(OH)3.nH2O. Trong cốc nước của bạn, hợp chất này tồn tại ở dạng huyền phù, có mầu da cam, nếu nồng độ đủ lớn có thể chuyển sang mầu nâu; đó chính là mầu mà bạn đã nhìn thấy.

Do thế điện phân lên đến 200V nên tại Anôt xảy ra nhiều phản ứng phụ, trong đó có một phản ứng quan trọng như sau: Anion OH- từ dung dịch khuếch tán tới bề mặt Anôt (sắt), bị Anôt thu mất điện tử thành oxy:

4OH- - 4e -> O2­ + H2O       (3.4)

Một phần oxy vừa sinh ra phản ứng với lớp sắt bề mặt tạo thành oxyt săt(III) bám chắt trên bề mặt thỏi sắt, làm cho thỏi sắt có mầu nâu đen như bạn đã thấy (Hình-1, Hình-2). Một phần oxy khác khuếch tán vào dung dịch bám vào huyền phù hydroxyt sắt(III) làm cho tỷ trọng của nó nhỏ hơn nước nên từ từ nổi lên. Đó là lý do làm cho mầu trong cốc nước của bạn lớp trên đậm hơn lớp dưới (Hình-2, cốc 1).

Bật mí cho bạn biết, Hình-2 ghi lại một khảo sát được thực hiện tại phòng thí nghiệm. Cốc 1 chứa nước máy của thành phố. Mẫu nước này đạt tiêu chuẩn dùng làm nước ăn uống của Bộ Ytế (1329/2002/BYT/QĐ ngày 18/04/2002). Theo tiêu chuẩn này, giới hạn cho phép đối với sắt là không được lớn hơn 0,5 mg/l. Nồng độ sắt trong mẫu nước máy ở cốc 1, trước khi điện phân là < 0,1 mg/l, sau khi điện phân là > 10 mg/l. Sắt ở đâu ra, chính là do sự hoà tan Anôt (bằng sắt) như đã diễn giải trên.

Bạn sẽ hỏi, tại sao mẫu nước uống tinh khiết của NV2T ở cốc 2 (Hinh-2) vẫn không đổi mầu? - Là bởi vì độ dẫn của nó thấp.



4. Độ dẫn đóng vai trò quyết định trong việc phán xét bằng máy điện phân.

Mời bạn đọc bảng dưới đây.

Bảng 1: Kết quả đo độ dẫn tại phòng thí nghiệm một số mẫu nước (lấy ngẫu nhiên)

Mẫu nước ...........................Độ dẫn điện riêng,(mS/m)
Nước cất một lần....................0,3
Nước uống tinh khiết ...............0,4
Nước máy thành phố .................30,2
Nước giếng khoan (sau lọc)..........27,4
Nước mưa............................10,4


Năm mẫu nước trên đều trong suốt, nồng độ sắt đều < 0,1 mg/l.

Nếu điện phân bằng máy nói trên trong 5 giây thì nước cất và nước uống tinh khiết của NV2T vẫn không đổi mầu; nước máy thành phố, nước giếng khoan (sau lọc) chuyển thành da cam đậm, nước mưa - mầu nhạt hơn. Nếu búng vài hạt muối ăn (NaCl) tinh khiết vào cốc chứa nước cất và cốc chứa nước uống tinh khiết (để tăng độ dẫn) thì lập tức nó cũng chuyển sang mầu da cam; nhớ đừng cho nhiều muối sẽ đứt cầu chì đó.

Nếu điện phân mẫu nước cất và nước uống tinh khiết lâu hơn, ví dụ 1 phút, thì chúng cũng sẽ chuyển sang mầu da cam.

Như vậy việc tăng độ dẫn (do sự có mặt của muối khoáng hoà tan) đã tăng tốc quá trình hoà tan Anôt (bằng sắt). Đến đây, bạn có thể tự đánh giá được thực chất về sự phán xét chất lượng nước bằng máy điện phân đã đề cập.

Hình-3 nêu khả năng nhận biết 5 nhóm độc tố nhạy cảm có thể có mặt trong nước uống bằng máy điện phân. Nếu đúng như vậy thì hay quá, quên đi các phòng thí nghiệm đẳng cấp này nọ. Sự thực về khả năng nhận biết chỉ tiêu sắt đã được bàn luận ở trên. Còn các chỉ tiêu khác thì sao ?. Bạn hãy lắp một máy theo sơ đồ đã chỉ (Hình-4), tự giải đáp. Bài này chỉ mạn đàm vài lời về asen (thạch tín) vì đây là một đề tài rất nhạy cảm, nhà nước đã chi gần 18 tỷ cho giai đoạn một. Nếu nồng độ asen trong nước đủ lớn để phản ứng với Fe3+ (do sự hoà tan Anôt sinh ra) tạo thành kết tủa FeAsO4 đủ nhiều cho bạn nhìn được thì bạn đã nghẻo từ lâu rồi còn đâu mà đem mẫu nước đi điện phân.



5. Lợi ích của việc uống nước tinh khiết.

Nước uống tinh khiết ngoài phân tử H2O hầu như chẳng còn gì nữa, chẳng có độc tố cũng chẳng còn mấy chất khoáng...

Trong năm nay (2006), TV có chiếu cảnh một nữ vận động viên nước ngoài tham gia đua xe đạp địa hình quốc tế, khi gần đến đích thì ngã nhoài xuống đất, co giật, chai nước lăn lóc bên cạnh. Chữ thập đỏ trờ tới. Bác sĩ bảo do chị ấy uống nước tinh khiết, mồ hôi ra nhiều, mất khoáng, thiếu chất điện giải, gây rối loạn tuần hoàn máu, rối loạn hệ thần kinh thực vật, rối loạn các chức năng khác của cơ thể. Vậy lợi ích trước tiên của việc uống loại nước này là bạn khỏi lo bị đeo các vòng nguyệt quế trên cổ.

Cơ thể người ta cần rất nhiều loại nguyên tố vi lượng (ác cái là, nếu lớn hơn một giới hạn nào đó thì độc); uống nước tinh khiết bạn thiếu hẵn các nguyên tố này, vậy là phải mua thuốc, thực phẩm đặc hiệu bổ sung. Như thế là kích thích các ngành sản xuất kia phát triển, đó là lợi ích thứ hai. Chắc còn nhiều lợi ích nữa, bạn có thể liệt kê thêm.

Tiêu đề: Hồi âm: Xét nghiệm nước miễn phí bằng điện phân
Gửi bởi: environmental trong Tháng Mười Một 01, 2006, 06:46:40 PM
vậy phương pháp này có nhạy với những kim loại khác không bạn
vídụ như: Cd, Cu và Pb chẳng hạn
nếu đựoc thì quá tiên cho phân tích đien hoá
Tiêu đề: Hồi âm: Xét nghiệm nước miễn phí bằng điện phân
Gửi bởi: Hieuclass trong Tháng Mười Một 01, 2006, 07:31:10 PM

dĩ nhiên là có chứ bạn xem ở đây.

Trích dẫn
Mẫu nước chuyển sang mầu cam chứng tỏ có nhiễm sắt, nếu nước của bạn chuyển sang màu xanh chứng tỏ trong đó có chất độc chứa clo, đồng, nếu chuyển sang màu đen thì có kim loại nặng, màu trắng - có asen (thạch tín), sợi đá thạch miên (amiăng)... , màu lam - có thuốc trừ sâu cơ phốt pho, và chúng đều gây các bệnh nan y cả (Hình-3)
Tiêu đề: mưa acid
Gửi bởi: xacuop trong Tháng Một 27, 2007, 05:49:36 PM
bác nào có tài liệu về mưa acid không .cho em xin đi.em cảm ơn nhiều
Tiêu đề: Re: mưa acid
Gửi bởi: Hieuclass trong Tháng Một 28, 2007, 10:45:04 AM
xacuop cần mưa axit để làm gì?? để thử tìm trong thư viện đã
Tiêu đề: Re: mưa acid
Gửi bởi: xacuop trong Tháng Hai 04, 2007, 04:52:14 PM
em can de thuyet trinh sep a co tim nhanh len nha .em cam on nhieu
 ;D
Tiêu đề: Hóa học và môi trường
Gửi bởi: phan thanh son trong Tháng Năm 09, 2007, 03:55:18 PM
ai biết về xử lí nước thải bằng than hoạt tính post lên với
Tiêu đề: cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: rat_de_thuong_92 trong Tháng Sáu 09, 2007, 09:00:56 PM
cac cong nhân thu gom , cũng như quet rác đang chịu mùi hôi thối nặng nề
ta co thể chế ra máy , lọc các khí hôi thối đó được không
Tiêu đề: Re: cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: pani trong Tháng Sáu 09, 2007, 09:39:22 PM
y cua ban cung hay day
minh nghi mot thiet bi giong nhu may ..hut bui.ben trong co than hoat tinh de loc va khu mui ...ac ac ko bit dc ko ta . hy vong cac ban dong gop y kien
Tiêu đề: Re: Dioxin và hậu quả trong chiến tranh Việt Nam
Gửi bởi: lavoadie trong Tháng Sáu 10, 2007, 03:41:41 PM
Đọc đến thì tôi lại cảm thấy căm phẫn vô cùng .
Tại sao lương tri của 1 nhà Hóa Học lại tồi tệ đến vậy .
Hóa Học sinh ra là để phục vụ cho cuộc sống của con người ngày 1 tốt hơn . Vậy mà có những kẻ lợi dụng Hóa Học để gây tội ác cho nhân loại và đau xót hơn đó chính là những con người Việt Nam chúng ta .
Tôi là 1 người yêu Hóa Học, tôi thích khám phá và tìm hiểu .
Nếu 1 ngày nào đó, dù có không may điều chế ra 1 chất độc Hóa Học . Nhất định tôi sẽ đem bí mật đó xuống mồ . Tôi mong muốn 1 thế giới hòa bình ko chiến tranh, ko tội ác và mãi mãi không ngớt tiếng cười .
Tiêu đề: Re: Dioxin và hậu quả trong chiến tranh Việt Nam
Gửi bởi: minhgiang trong Tháng Sáu 10, 2007, 07:32:37 PM
Đọc đến thì tôi lại cảm thấy căm phẫn vô cùng .
Tại sao lương tri của 1 nhà Hóa Học lại tồi tệ đến vậy .
Hóa Học sinh ra là để phục vụ cho cuộc sống của con người ngày 1 tốt hơn . Vậy mà có những kẻ lợi dụng Hóa Học để gây tội ác cho nhân loại và đau xót hơn đó chính là những con người Việt Nam chúng ta .
Tôi là 1 người yêu Hóa Học, tôi thích khám phá và tìm hiểu .
Nếu 1 ngày nào đó, dù có không may điều chế ra 1 chất độc Hóa Học . Nhất định tôi sẽ đem bí mật đó xuống mồ . Tôi mong muốn 1 thế giới hòa bình ko chiến tranh, ko tội ác và mãi mãi không ngớt tiếng cười .
Thế thì sử dụng khí cười để tất cả mọi người cùng cười đi bạn!
Vẫn biết doxin là độc ,gây nguy hiểm trực tiếp cho con người và cả đến nhưng thế hệ sau này nhưng chẳng phải là tòa an vẫn ko nhận đơn kiện của việt nam đó thôi....
lavoadie  ơi bạn muốn giúp họ nhưng nạn nhân của chất độc màu da cam thì hãy điều chế ra 1 lọai thuốc để khắc phục điều đó đi.ko thì biết đến bao giờ hậu quả của chất độc màu da  cam mới hết đây?
Đừng chỉ nghĩ về quá khứ mà hãy nghĩ về tương lai.......quá khứ đã qua thì ko thể lấy lại...bây giờ điều mà tôi nghĩ là quan trọng nhất là thuốc để chữa cho bệnh nhân nhiêm chất độc màu da cam và để họ ko mang di truyền cho đời sau ko thì biết đến bao giờ hâu quả mới kết thúc?
Vẫn biết là rất khó.....nếu ko muốn nói là cực khó....nhưng khó ko có nghĩa là mko làm được..Tôi tin với niềm say mê hóa và lòng yêu thương con ng` việt các bạn( và có thể cả tôi nữa) sẽ khắc phục được hâu quả chất độc dĩoin
Tiêu đề: Re: cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: tinhnguyenvien_0525 trong Tháng Sáu 14, 2007, 06:46:53 PM
Đó là một ý tưởng hay. Chúng ta phăi nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Hãy suy nghĩ và hành động, hãy phát huy sáng tạo để có thể chế tạo những thiết bị cải thiện môi trường!
Tiêu đề: Re: cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: rat_de_thuong_92 trong Tháng Sáu 17, 2007, 11:23:52 AM
nâng cao ? nâng cao?
bằng cách nào và như thế nào?
các bạn nói rõ hơn chứ ?
tui có một vài thông tin đây

1. với ý nghĩ đơn giản : một cái máy tổng hợp Hidro và Oxi nhưng con nguoi không thể hit thở Oxi nguyên chất và lượng không khí hit thở rất lớn , không biêt bình nào chứ nổi??

2. Một máy lọc u , trong rác thải có hơn 400 loại mùi hôi thối , chất nào lọc được??

tới đây tui đã bí , có bạn nào có ý tưởng nào hay không
XIN ĐỪNG NÓI MƠ HỒ
Tiêu đề: Re: cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: minhgiang trong Tháng Sáu 17, 2007, 06:31:56 PM
cái này theo mình nghĩ thì cần phải nghiên cứu sâu...chứ nói ntn thì khó thực hiện lắm....theo mình nghĩ thì cái gì cũng phải từ thực tế mà ra.
Bạn nên nghiên cứu 1 vài cách trước đi đã.....mang rác về nhà rồi thử tìm 1 vài chất...để khử mùi...
Hóa học thực nghiệm .Nhất là về vấn đề rác thải thì càng cần thực tế....thế nên nói phải bắt tay vào làm mới được....
:D ý tưởng này cũng hay đấy....:D mình sẽ thử làm cái coi có ra kết quả gì ko...:D
Tiêu đề: Re: cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: tinhnguyenvien_0525 trong Tháng Sáu 18, 2007, 12:10:04 AM
Van de ran thai rat buc xuc.De cai thien van de theo minh nghi ba phai tuyen truyen cho moi nguoi hieu duoc phai bo rac dinh noi quy dinh. Phai giao duc y thuc cho moi nguoi. Ngay ban than cac ban va gia dinh cac ban phai chap hanh tot da.
Con y tuong tao ra cai may hut bot khi thai cai thien cho nhung nguoi cong nhan thu gom rac thai phai can nghien cuu đa. Chu co y tuong la tot nhung ban phai dinh huong xem cach lam nhu the nao?Chu noi khong ai noi khong duoc!
Tiêu đề: Re: cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: pani trong Tháng Sáu 19, 2007, 06:46:09 AM
Mình nghĩ đối với công nhân thu gom rác thì chúng ta nên trang bị cho họ khẩu trang than hoạt tính ( cái này có bán trên thị trường hoặc cũng có thể chế tạo một loại riêng cho họ ( khả năng lọc cao hơn chẳng hạn ) vì các phân tử mùi hôi đó phân tán trong không khí nên dùng máy hút sẽ không triệt để . Còn ở những nơi tập trung thu gom rác với một lượng lớn mình nghĩ nên xây một cái hầm để chứa rác, bên trên có ống lọc khí , mùi => như vậy sẽ đảm bảo cho công nhân và những người dân sống ở khu vực ven đó .
Tiêu đề: Re: xử lí nước thải bằng than hoạt tính
Gửi bởi: pani trong Tháng Sáu 19, 2007, 02:16:57 PM
Ở đây có một trang hướng dẫn lắp đặt hệ thống xử lí nước thải bằng than hoạt tính . Rất hay .www.courant.com.vn/Huong_dan_lam_be_loc_nuoc_bang_than_hoat_tinh.html  (http://www.courant.com.vn/Huong_dan_lam_be_loc_nuoc_bang_than_hoat_tinh.html)
Tiêu đề: Re: cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: tinhnguyenvien_0525 trong Tháng Sáu 19, 2007, 11:57:58 PM
Minh cung nghi nhu vay! Chu bay gio ma di nghien cuu may xu ly mui giup cong nhan moi truong thi hoi kho do. Chung ta hay tim ra giai phap vua hop ly lai vua tiet kiem thi hay biet may. Nhung co nhung y tuong moi cung nen phat huy ban a. Va can phai co mot cach nhin toan dien hon ve phuong an ban tien hanh. Phai tinh toi chi phi bo ra va hieu qua ma no dem lai nua.
Tiêu đề: Re: cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: rat_de_thuong_92 trong Tháng Sáu 20, 2007, 08:12:07 PM
việc thu gơm rác thải có bao nhiêu công đoạn thế nhỉ?
công đoạn nào là quan trọng nhất?
Tiêu đề: Re: Dioxin và hậu quả trong chiến tranh Việt Nam
Gửi bởi: yellow frog trong Tháng Sáu 22, 2007, 04:52:59 PM
Đioxin đã gây ra căn bệnh ung thư cho biết bao nhiêu ngừoi trên đất nước Việt Nam. Đó chính là hậu quả của việc Lầu năm góc và các hãng sản xuất thuốc làm rụng lá cây (55000tấn thuốc diệt cỏ trong đó có 33550 tấn chất độc màu da cam vơi hàm lượng đioxin 2,5mg/kg) đã rải chất đó xuống Việt Nam.Vậy mà khi Việt Nam lên tiếng đòi công lý cho những nạn nhân chất độc da cam thì lại bị bác đơn kiện, thật đau xót. Nhưng phải giải thích thế nào khi các hãng sản xuââtthuốc làm rụng lá trong cuộc chiến tranh ở VIệt Nam, như công ti hoá chât hàng đầu ở Mĩ Hercucles đã phải chấp nhận vào ngày 7 tháng 5 năm 1984 một phương pháp thoả thuận và buộc phải chuyển váo tài khoản của hỘi cựu chiến binh MĨ 180 triệu đola?
Phải chăng người ta muốn tránh 1 phiên toà công khai? Phải chảng ngừoi ta có điêug gì muốn giấu giếm? Phải chăng ngừoi ta muốn tránh 1 phiên toà liên quan đến các chất diệt cỏ? Đó là nguyên nhân khiến họ chọn phưong án bồi thường 180 triệu đola trong khi Hội cựu chiến binh Mĩ còn chưa đưa ra được đầy đủ chứng cớ; có lẽ điều cơ bản là họ muốn chấm dứt ngay cuộc tranh luận về đioxin.

Ngày 18 tháng 6 năm 2007 vừa qua, các nạn nhân chất độc da cam đã đưa đơn kiện lên toà án cấp cao và đang chờ được giải quyết. Chúng ta hãy lên tiếng vì công lý để ủng hộ cho các nạn nhân chất độc da cam qua việc ký tên ủng hộ và gấp hạc giấy ảo qua trang web: dongcavicongly.com nhé! Mong ràng trong thời gian gần nhất những nạn nhẫn chất độc da cam dẽ đuọwc bồi thường thoả đấng để làm vơi đi nỗi khổ của họ đã phải chịu. :(
Tiêu đề: Re: cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: pani trong Tháng Sáu 23, 2007, 10:55:32 PM
loc  khong khi bang phuong phap loc sinh hoc . tham khao nhe
Lọc sinh học là gì?
Lọc sinh học là một biện pháp xử lý ô nhiễm tương đối mới. Đây là một phương pháp hấp dẫn để xử lý các chất khí có mùi hôi và các hợp chất hữu cơ bay hơi có nồng độ thấp.
Hình dạng phổ biến của một hệ thống lọc sinh học giống như một cái hộp lớn, một vài hệ thống có thể lớn bằng sân bóng rổ, một vài hệ thống có thể nhỏ độ một yard khối (0,76 m3). Nguyên tắt chính của hệ thống xử lý là tạo điều kiện cho vi khuẩn tiếp xúc với các chất ô nhiễm trong khí thải. Hệ thống lọc khí thải này là nơi chứa các nguyên liệu lọc và nơi sinh sản cho các vi sinh vật. Trong hệ thống này, các vi sinh vật sẽ tạo thành một màng sinh học (biofilm), đây là một màng mỏng và ẩm bao quanh các nguyên liệu lọc. Trong quá trình lọc, khí thải được bơm chậm xuyên qua hệ thống lọc, các chất ô nhiễm trong khí thải sẽ bị các nguyên liệu lọc hấp thụ. Các chất khí gây ô nhiễm sẽ bị hấp phụ bởi màng sinh học, tại đây, các vi sinh vật sẽ phân hủy chúng để tạo nên năng lượng và các sản phẩm phụ là CO2 và H2O theo phương trình sau:
Chất hữu cơ gây ô nhiễm + O2 ---> CO2 + H2O + nhiệt + sinh khối
Mô tả quá trình xử lý
Hệ thống lọc sinh học cung cấp môi trường cho vi sinh vật phát triển và phân hủy các chất khí có mùi hôi và các chất hữu cơ gây ô nhiễm trong khí thải. Hệ thống lọc bao gồm một buồng kín chứa các vi sinh vật và hấp thụ hơi nước, giữ chúng lại trong nguyên liệu lọc. Nguyên liệu lọc được thiết kế sau cho có khả năng hấp thụ nước lớn, độ bền cao, và ít làm suy giảm áp lực luồng khí đi ngang qua nó.
Bể lọc sinh học có một lớp nguyên liệu lọc (diện tích 6000 ft2) ở nhà máy Monsanto
Các hệ thống nhỏ hơn, phổ biến hơn với nhiều lớp nguyên liệu lọc được trình bày trong hình sau:
Các đơn vị nguyên liệu lọc này gọi là "khối sinh học" (Biocube) được thiết kế bởi EG&G Corporation có kích thước cao khoảng 7 ft và đường kính khoảng 6 ft. Việc sử dụng nhiều lớp nguyên liệu lọc kiểu này hạn chế được việc các nguyên liệu lọc bị dồn nén lại và việc các luồng khí xuyên thành những đường thoát qua lớp nguyên liệu lọc. Hơn nữa, nó còn tạo sự thuận lợi trong việc bảo trì hay thay mới nguyên liệu lọc.
Trong quá trình lọc sinh học, các chất khí gây ô nhiễm được làm ẩm và sau đó được bơm vào một buồng phía bên dưới nguyên liệu lọc. Khi chất khí đi ngang qua lớp nguyên liệu lọc, các chất ô nhiễm bị hấp thụ và phân hủy. Khí thải sau khi đã lọc sạch được phóng thích vào khí quyển từ bên trên của hệ thống lọc. Hầu hết những hệ thống lọc sinh học hiện nay có công suất xử lý mùi và các chất hữu cơ bay hơi lớn hơn 90%. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là chỉ xử lý được những khí thải có nồng độ chất ô nhiễm thấp (<1000ppm) và lưu lượng khí xử lý chỉ nằm trong giới hạn 300-500 ft3/ft2-giờ.
Nguyên liệu lọc
Lớp nguyên liệu lọc ẩm tạo nên điều kiện lý học và hóa học thuận lợi cho việc chuyển đổi các chất ô nhiễm từ pha khí sang pha lỏng và quá trình phân hủy sinh học các chất ô nhiễm này bởi màng sinh học. Cơ chế của quá trình lọc sinh học bao gồm quá trình hấp phụ, hấp thụ và phân hủy bởi các vi sinh vật. Các vi sinh vật trong màng sinh học liên tục hấp thụ và biến dưỡng các chất ô nhiễm, biến chúng thành các sản phẩm cuối cùng là nước, CO2 và các loại muối.
Nguyên liệu lọc điển hình là hỗn hợp của các chất nền ủ phân compost, đất, cây thạch nam (heather), plastic và các phụ phẩm gỗ. Các nguyên liệu lọc nhằm cung cấp diện tích bề mặt lớn để hấp thụ và hấp phụ các chất ô nhiễm. Ngoài ra nó còn làm nhiệm vụ cung cấp chất dinh dưỡng cho các vi sinh vật. Một vài loại nguyên liệu lọc không đáp ứng được về nhu cầu dưỡng chất cho vi sinh vật, do đó chúng ta phải hiệu chỉnh bằng cách cho thêm vào các hợp chất đạm và phospho.
Các nguyên liệu lọc thường có tuổi thọ từ 5 - 7 năm trước khi phải thay mới.
Các điểm cần quan tâm khi quyết định chọn nguyên liệu lọc:
Khả năng giữ ẩm để tạo lớp màng sinh học
•  Có diện tích bề mặt lớn tạo điều kiện cho quá trình hấp thụ và phát triển của vi sinh vật
•  Có chứa các dưỡng chất để cung cấp cho các vi sinh vật
•  Tạo lực cản không khí thấp (giảm mức độ sụt áp và năng lượng cần sử dụng cho máy bơm)
•  Các tính chất lý học khác như độ ổn định lý học và dễ dàng thao tác. 
Một số thông số thiết kế
Diện tích
Diện tích là một thông số được quan tâm hàng đầu trong việc thiết kế hệ thống lọc sinh học. Để xử lý lưu lượng khí khoảng 30 ft3/phút, một hệ thống lọc sinh học có thể cần diện tích 25 ft2. Đối với những lưu lượng khí lớn hơn, chúng ta cần những diện tích lớn hơn và có thể bằng diện tích một sân bóng rổ như đã nói ở trên.
Thành phần hóa học và hàm lượng của chất ô nhiễm trong khí thải
Phân tích thành phần hóa học và hàm lượng của nó trong khí thải cần thiết để xác định xem biện pháp lọc sinh học có thích hợp hay không. Các hệ thống lọc sinh học hoạt động tốt khi các hợp chất ô nhiễm (không hoà tan trong nước) có nồng độ thấp (<1000 ppm). Một số hợp chất phân hủy sinh học rất chậm (như các hợp chất chlor) do đó đòi hỏi hệ thống xử lý có kích thước lớn.
Thời gian lưu trú
Thời gian lưu trú là khoảng thời gian vi sinh vật tiếp xúc với luồng khí thải và được tính bằng công thức sau:
RT = Tổng thể tích các lỗ rỗng của lớp nguyên liệu lọc/lưu lượng khí thải
Thời gian lưu trú càng dài sẽ cho hiệu suất xử lý càng cao. Tuy nhiên, trong quá trình thiết kế chúng ta cần phải giảm thiểu thời gian lưu trú để hệ thống có thể xử lý một lưu lượng lớn hơn. Thông thường, thời gian lưu trú của các hệ thống lọc sinh học biến động trong khoảng 30 giây đến 1 phút.
Ẩm độ
Ẩm độ của luồng khí thải cần phải xử lý rất quan trọng vì nó giữ ẩm độ cần thiết cho các màng sinh học. Do đó, luồng khí thải thường được bơm qua một hệ thống làm ẩm trước khi bơm vào hệ thống lọc sinh học để đảm bảo ẩm độ của luồng khí thải đi vào hệ thống lọc sinh học phải lớn hơn 95%.
Kiểm soát pH
Các sản phẩm phụ của quá trình phân hủy sinh học là các acid hữu cơ. Để duy trì pH của hệ thống nằm trong khoảng thích hợp cho các vi sinh vật hoạt động, chúng ta cần cho thêm các dung dịch đệm pH.
Nguyên liệu lọc
Nguyên liệu lọc có thể bao gồm than bùn, cây thạch nam, phân ủ compost, than hạt hoặc các nguyên liệu thích hợp khác. Nói chung, các nguyên liệu này phải có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho vi sinh vật và không gây giảm áp luồng khí nhiều. Thêm vào đó, ẩm độ của các nguyên liệu lọc phải được duy trì ở mức 30 - 60% để cho quần thể các vi sinh vật phát triển. Do đó, bên cạnh thiết bị làm ẩm khí thải, người ta thường lắp đặt hệ thống phun nước cho các lớp nguyên liệu lọc.
Giảm áp
Việc giảm áp của luồng khí khi đi ngang lớp nguyên liệu lọc nên được hạn chế tối đa. Nếu lớp nguyên liệu lọc gây trở lực lớn cho nguồn khí, ta cần tiêu tốn thêm năng lượng cho máy thổi khí, gây tăng giá thành xử lý. Khả năng gây trở lực cho nguồn khí phụ thuộc vào ẩm độ và độ rổng của lớp nguyên liệu lọc. Độ ẩm tăng, độ rổng lớp nguyên liệu giảm là nguyên nhân gây tăng trở lực cho nguồn khí. Đối với các hệ thống điển hình mức độ giảm áp nằm trong khoảng 1 -10 hPa.
Bảo trì
Khi bắt đầu đưa vào hoạt động, hệ thống cần được chăm nom một lần/tuần. Sau khi hệ thống đã hoạt động ổn định và đã giải quyết tất cả các vấn đề có thể xảy ra. Tần số thăm nom có thể giảm xuống 1 lần/nửa tháng hoặc hàng tháng.
Ưu và khuyết điểm của hệ thống lọc sinh học
Ưu điểm
•  Ưu điểm chính là giá thành thấp, giá vận hành thấp, ít sử dụng hóa chất.
•  Thiết kế linh động, do đó có thể thích nghi với mọi loại hình công nghiệp và diện tích của xí nghiệp.
•  Hệ thống lọc sinh học linh động trong việc xử lý mùi hôi, các hợp chất hữu cơ bay hơi và các chất độc. Hiệu suất xử lý thường lớn hơn 90% đối với các khí thải có nồng độ các chất ô nhiễm < 1000 ppm.
•  Nhiều loại nguyên liệu lọc, vi sinh vật và điều kiện vận hành khác nhau có thể áp dụng để đáp ứng nhu cầu xử lý.
 
Khuyết điểm
•  Hệ thống lọc sinh học không thể xử lý được các chất ô nhiễm có khả năng hấp phụ thấp và tốc độ phân hủy sinh học chậm ví dụ như các hợp chất hữu cơ bay hơi có chứa chlor.
•  Các nguồn ô nhiễm có nồng độ hóa chất cao cần các hệ thống lớn và diện tích lớn để lắp đặt hệ thống lọc sinh học.
•  Nguồn gây ô nhiễm có mức độ phóng thích chất ô nhiễm biến động cao sẽ gây ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật cũng như hiệu suất xử lý của chúng.
•  Thời gian để cho các vi sinh vật thích nghi với môi trường và tạo thành các màng sinh học (biofilm) có thể kéo dài hàng tuần đến hàng tháng, đặc biệt là đối với việc xử lý các chất hữu cơ bay hơi.
 
Tiêu đề: Re: mưa acid
Gửi bởi: yellow frog trong Tháng Sáu 25, 2007, 07:22:29 AM
 Hiện tượng mưa axit
Trong nước mưa thường có mọt lưuợng rất bé của axit sinh ra do nưuớc hoà tan khí cacbonic và các khí là oxit của lưư huỳnh và nitơ. Trong thiên nhiên, khí SO2 thoát ra từ núi lửa và từ các vật liệu hưữ cơ bị thối rữa, khí NO được tạo ra do sấm sét. Nước mưa "sạch", nghĩa là nước mưa ko bị ô nhiễm, thường có pH từ 5,6 đến 6,5 và ko có hại đối với môi trường sống của sinh vật.
Mưa cho nước có pH <5,6 được gọi là mưa axit. Ngày nay có nhiều vùng công nghiệp lớn và thành phố, ở đó nước mưa có pH từ 4 đến 4,5. Có nơi pH của sương mù đạt tới 2, nghĩa là độ axit tương đưong với nứowc của quả chanh.
Mưa axit có tác hại lớn đối với những sinh vật sống trong đất và trong nước ao hồ. Ở pH < 4, tất cả động vật có xương sống, đa số động vật không sương sống và các vi khuẩn đều bị tiêu diệt. Mưa axit bào mòn nhanh chóng những công trình kiến truclàm bằng kim loịa và đá. Mưa axit còn hoà tan những khoáng vật độc ở trong đất và đưa vào nước sông những ion ki loại có hại cho sinh vật như nhôm, natri, thuỷ ngân...
(Hoá học vô cơ-tập 2- HOÀNG NHÂM)
Tiêu đề: Re: mưa acid
Gửi bởi: yellow frog trong Tháng Sáu 25, 2007, 07:31:28 AM
Nguyên nhân của hiện tượng mưa axit là sự gia tăng mạng lượng oxit cua lưu huỳnh và nitơ ở trong khí quyển do hoạt động của con người gây nên. Otô, nhà máy nhiệt điện và một số nhà máy khác khi đốt nhiên liệu đã xả khí SO2 vào khí quyển. Nhà máy luyện kim, nhà máy lọc dầu cũng xả khí SO2. Trong khí xả, ngoài SO2 còn có khí NO được không khí tạo nên ở nhiệt độ cao của phản ưnứg đốt nhiên liệu. Khí NO tác dụng với oxi không khí tạo thành khí NO2 rồi NO2 tác dụng với hơi ẩm của không khí tạo thành HNO3. Qua trình oxi hoá SO2 thành SO3 bởi oxi không khí xảy ra chậm hơn nhưng đuọwc xúc tiến nhừo xúc tác của những lượng nhỏ các hợp chất của mangan và sắt có trong khí quyển. Khí SO3 kết hợp với hơi ẩm của không khí tạo thành H2SO4.
Biện pháp tốt nhất đẻ tránh hiện tượng mưa axit là hạn chế tối đa việc xả các oxit của lưu huỳnh và nitơ vào không khí. Muốn vậy cần xử lý khí xả ô tô và của các nhà máy trước khi xả vào không khí. Mặt khác cần phải có kế hoạch khai thác các nhiên liệu khác ngaòi nhiên liệu có nguồn gốc hoá thạch.
Tiêu đề: ĐIOXIN
Gửi bởi: yellow frog trong Tháng Sáu 27, 2007, 02:49:50 PM
Xin chào mọi người! Em lập ra topic này mong mọi người sẽ cùng nhau trao đổi những hiểu biết của mình về điôxin và tác hại của nó. Mong mọi người sẽ ủng hộ!

Bài mở đầu cho topic này, em sẽ gíơi thiệu một chút về việc điôxin đã được sinh ra như thế nào.
      Từ các dẫn xuất điclo và triclo của phenol, bằng phản ứng thế SN2 với axit cloraxetic người ta tổng hợp các chất kích thích tố sinh trưởng, và làm rụng lá cây.
Đáng tiếc là trong quá trình tổng hợp axit 2,4,5-triclorophenoxiaxetic (2,4,5-T) từ 1,2,4,5-tetraclorobenzen qua 2,4,5-triclorophenol đã sinh ra một chất độc cực mạnh và cực kì nguy hiểm là 2,3,7,8-tetraclorođibenzo-p-đioxin (gọi tắt là đioxin).
Các chất độc đối với động vật cho thấy đioxin là một trong những chất độc nhất hiện nay. Thử trên chuột cho thấy điôxin độc hơn NaCN tới 15 vạn lần. ĐỐi với người chỉ cần lượng nhỏ điôxin cũng đủ để gây ung thư và các tai biến sinh sản.
Tiêu đề: Re: ĐIOXIN
Gửi bởi: ..::: Bùi Nhật An :::.. trong Tháng Sáu 27, 2007, 02:55:53 PM
Xin lỗi Cóc Vàng nhé  ;D , cái nì có nguyên một topic dài oằng luôn rồi, trong "Chất độc" có, "Đố vui" hình như cũng có nữa đó! 
Tiêu đề: Re: ĐIOXIN
Gửi bởi: ..::: Bùi Nhật An :::.. trong Tháng Sáu 27, 2007, 03:12:12 PM
Em cũng xin góp tí tư liệu về dioxin, không thôi topic lạnh tanh, anh Cóc vàng lại buồn  ;D

Dioxin

Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất hóa học tồn tại bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và các sinh vật khác. Trong nhóm hóa học đó, thành phần độc nhất là TCDD (2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin). Dioxin là sản phẩm phụ của nhiều quá trình sản xuất chất hóa học công nghiệp liên quan đến clo như các hệ thống đốt chất thải, sản xuất hóa chất và thuốc trừ sâu và dây truyền tẩy trắng trong sản xuất giấy.

 
Cấu trúc của DioxinDioxin và furan là các hóa chất độc nhất được biết đến hiện nay trong khoa học. Trong bản báo cáo sơ thảo của Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) năm 1994 đã miêu tả dioxin như là một mối tác nhân đe doạ nguy hiểm đối với sức khoẻ cộng đồng. Cũng theo EPA, dường như không có mức độ phơi nhiễm dioxin nào được coi là an toàn.

Ngoài chiến tranh Việt Nam, dioxin trong chất độc màu da cam gây nên thảm hoạ sinh thái ở Seveso (Ý), và Times Beach (Missouri), Love Canal (New York), ...



Tác hại của dioxin đối với cơ thể người và động vật
Xem thêm: Danh sách các bệnh có liên quan đến dioxin

Chính các báo cáo của EPA đã công nhận dioxin là một chất gây ung thư cho con người. Năm 1997, Tổ chức quốc tế về nghiên cứu ung thư (IARC) thuộc WHO đã công bố 2,3,7,8-TC DD là chất gây ung thư nhóm 1 (nghĩa là nhóm đã được công nhận là gây ung thư). Đồng thời, tháng 1 năm 2001, chương trình Độc học Quốc gia Hoa Kỳ đã chuyển dioxin vào nhóm "các chất gây ung thư cho người". Cuối cùng, trong một nghiên cứu kiểm định năm 2003, các nhà khoa học cũng khẳng định không có một liều lượng nào là an toàn hoặc ngưỡng dioxin mà dưới nó thì không gây ung thư [1]. Điều này có thể hiểu là nếu một người phơi nhiễm dioxin dù lượng nhỏ nhất thì đã mang trong mình hiểm họa ung thư!

Ngoài ung thư, dioxin còn có thể liên quan đến một số bệnh nguy hiểm khác như bệnh rám da, bệnh đái tháo đường, bệnh ung thư trực tràng không Hodgkin, thiểu năng sinh dục cho cả nam và nữ, sinh con quái thai hoặc thiểu năng trí tuệ, đẻ trứng (ở nữ) ..v.v

Cơ chế phân tử của dioxin tác động lên các tế bào và cơ thể người, động vật vẫn đang còn nhiều tranh cãi về chi tiết. Thời gian bán phân huỷ của dioxin trong cơ thể động vật là 7 năm hoặc có thể lâu hơn. Thông thường, dioxin gây độc tế bào thông qua một thụ thể chuyên biệt cho các hydratcarbon thơm có tên là AhR (Aryl hydrocarbon Receptor). Phức hợp dioxin - thụ thể sẽ kế hợp với protein vận chuyển ArnT (AhR nuclear Translocator) để xâm nhập vào trong nhân tế bào. Tại đây dioxin sẽ gây đóng mở một số gene giải độc quan trọng của tế bào như Cyp1A, Cyp1B,... Đồng thời, một số thí nghiệm trên chuột cho thấy dioxin làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào. Điều này, có thể là làm phá huỷ các cấu trúc tế bào, các protein quan trọng và, quan trọng hơn cả, nó có thể gây đột biến trên phân tử DNA.

Trong một đánh giá về rủi ro và nghiên cứu các vấn đề chính sách được đưa ra trong Hội nghị Quốc tế về Dioxin tổ chức tại Berlin, 2004, nhóm tác giả đến từ Cục Môi trường Liên bang Đức (Federal environmental agency) đã đưa ra kiến nghị không có mức phơi nhiễm dioxin tối thiểu nào có độ an toàn cho phép [2] (theo WHO 2002 thì mức phơi nhiễm dioxin cho phép qua thức ăn của mỗi người là 1-10 pg đương lượng độc (TEQ)/ngày).


Quá trình nhiễm độc dioxin ở Việt Nam
 
Chiếc máy bay số hiệu UH-1D của Đại đội không quân số 336 đang rải chất diệt cỏ trong vùng rừng của châu thổ sông Mê Kông, 26/07/1969Ở miền Nam Việt Nam, chất độc màu da cam và các loại thuốc diệt cỏ khác bắt đầu được thử nghiệm bởi quân đội Hoa Kỳ vào năm 1961 và được sử dụng rộng rãi với hàm lượng cao trong chiến tranh vào các năm 1967 – 1968, rồi giảm xuống và ngừng sử dụng năm 1971. Các loại hợp chất này được trộn vào dầu hỏa hoặc nhiên liệu diezen rồi rải bằng máy bay hoặc các phương tiện khác.

Theo công bố của một nhóm tác giả trên tạp chí Nature thì có thể nói chiến dịch dùng hóa chất ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất thế giới [3]. Trong thời gian 10 năm đó, quân đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam đã rải 76,9 triệu lít hóa chất xuống rừng núi và đồng ruộng Việt Nam. Trong số này có 64% là chất độc màu da cam, 27% là chất màu trắng, 8,7% chất màu xanh và 0,6% chất màu tím.

Tổng số lượng dioxin Việt Nam hứng chịu là vào khoảng 370kg. (Trong khi đó vụ nhiễm dioxin ở Seveso, Ý, 1976 chỉ với 30kg dioxin thải ra môi trường mà tác hại của nó kéo dài hơn 20 năm . Tổng số diện tích đất đai bị ảnh hưởng hóa chất là 2,63 triệu hécta. Có gần 5 triệu người Việt Nam sống trong 25.585 thôn ấp chịu ảnh hưởng độc chất màu da cam.


Mối quan tâm của thế giới đến vấn đề dioxin
Tiến sĩ James Clary, một nhà khoa học quân đội Hoa Kỳ, đã công nhận sự thật năm 1988 "Khi chúng tôi khởi đầu chương trình sử dụng thuốc diệt cỏ vào những năm 1960, chúng tôi đã ý thức được tiềm năng độc hại của dioxin trong thuốc diệt cỏ. Tuy nhiên, vì hóa chất sẽ được dùng đối với kẻ thù nên không ai trong chúng tôi quá quan tâm".

Hậu quả của Dioxin không chỉ có người Việt Nam quan tâm, nó là vấn đề chung của nhiều nước. Trong đó, chính các cựu binh Hoa Kỳ cũng là nạn nhân. Đồng thời, trong Hội nghị Dioxin Quốc tế năm 2004, các nghiên cứu về ảnh hưởng của dioxin đối với các cựu chiến binh Úc trong chiến tranh Việt Nam đã bắt đầu.

Nếu có gì trùng lại thì xin các anh chị bỏ qua nhé! Coi như bài tổng hợp vậy mà!
Tiêu đề: Re: ĐIOXIN
Gửi bởi: ..::: Bùi Nhật An :::.. trong Tháng Sáu 27, 2007, 03:14:34 PM
Đây là một số bệnh liên quan đến đioxin:

Dị tật bẩm sinh
Bệnh Hodgkin
Lymphoma không Hodgkin
Sarcoma cơ trơn
Các loại ung thư đường hô hấp trên và ung thư phổi.
Ung thư tiền liệt tuyến
Chloracne (Mụn nhọt mặt do clo)
Bệnh sạm da Porphyria cutanea tarda
Bệnh đa u tuỷ (multiple myeloma)
Bệnh đái tháo đường typ II
Nứt đốt sống gây thoát vị não tuỷ spina bifida (có tài liệu ghi không chính xác là gai đôi cột sống)
Bệnh thần kinh ngoại vi
Các bệnh do rối loạn sinh sản ở nữ giới (thai chết lưu, đẻ non, sảy thai, đẻ trứng ...)
Tiêu đề: Re: ĐIOXIN
Gửi bởi: yellow frog trong Tháng Sáu 27, 2007, 03:47:14 PM
Thảm hoạ sinh thái ở Seveso
Đây là một câu chuyện đau lòng về bé gái Giselle Colombo.
Vụ nổ xẩy ra ngày 10 tháng 7 năm 1976 của nhà máy hoá chất Hoffman-Laroche ở Seveso, theo tạp chí khoa học Nature (THiên nhiên) đây là tai nạn nguy hiểm nhất liên quan đến đioxin từ trước đén nay. Sau khi xảy ra tinh ftrạng ô nhiễm đioxin các chuyên gia đã phân định tại Seveso 2 khu vực: khu vực A bị ô nhiễm nặng và khu vực B bị ô nhiễm nhẹ hơn. Nông trang nhỏ của gia đình Colombo nằm trong khu vực A. Người ta thấy cần ngăn con đường bộ Milan-Côme với mật độ xe rất cao chạy qua khu vực này.Nhưng để tránh 1 tổn thất tài chính nặng nề người ta đã nghĩ ra 1 giải pháp khéo léo: công bố ngay các cơ ngừoi liền kề với con đường ấy đều bị ô nhiếm nhẹ, tức là thuộc khu vực B! Thế là xe cộ vẫn được lưu thông trên con đường ấy và hàng nghìn ngưừoi dân trong đó có gia đình Colombo vẫn đuowcj cư trú tại chỗ. Nhưng vào năm 1977 ngưừoi đứng đầu gia đình này đã yêu cầu khử đôc cho khu đất của họ bằng cách bóc đi một lớp đât 20cm. Ba năm sau, bé Giselle, khi ấy mứoi lên 5 tuổi, bắt đầu thể hiện những dấu hiệu của bệnh đau gan mạn tính. Kết quả xét nghiệm của trường Y khoa Milan cho thấy rằng đay không thể là một trường hợp viêm gan do virut. Các bác sĩ đã đề cập đên skhả năng bé Giselle bị nhiễm độc và khi biết rằng trong phần lớn thời gian của mình, bé đều chơi đùa trong khu vườn "trước kia" bị nhiễm đioxin, họ đề nghị tiến hành phân tích đất. Sáu mẫu đất lấy từ khu đất gia đình Colombo đã chứng tỏ dấu vết của điôxin. Trong đó mẫu chứa điôxin nhiều nhất chính là mẫu lây từ nơi mà Gislle thường vui chơi. Albert Piepoli người giám sát việc khử độc ở Seveso đã tỏ ra vô cùng ngạc nhiên và thừa nhận là không thể giải thích được lý do hiện diện của loại hoá chất độc hại này.
Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu khoa học và điều trị khối u ở Gênes đã cho thấy rằng dân cư ở Seveso bị mắc các bệnh chấn thương thần kinh, ban clo, các rối loạn lipid trong máu và rối loạn chức năng gan. Hơn nữa, trong những năm sau khi vụ nổ xảy ra tỉ lệ sinh sản của dân cư trong vùng cũng giảm đi.
Tiêu đề: Re: mưa acid
Gửi bởi: tinhnguyenvien_0525 trong Tháng Sáu 28, 2007, 10:23:01 AM
1.Mưa axít là hiện tượng mưa mà nước mưa có độ pH dưới 5,6. Đây là hậu quả của quá trình phát triển sản xuất con người tiêu thụ nhiều than đá, dầu mỏ và các nhiên liệu tự nhiên khác.
2.Quá trình tạo nên mưa axít
Trong thành phần các chất đốt tự nhiên như than đá và dầu mỏ có chứa một lượng lớn lưu huỳnh, còn trong không khí lại chứa nhiều nitơ. Quá trình đốt sản sinh ra các khí độc hại như :lưu huỳnh đioxit (SO2) và nitơ đioxit (NO2). Các khí này hòa tan với hơi nước trong không khí tạo thành các axit sunfuaric (H2SO4) và axit nitric(HNO3). Khi trời mưa, các hạt axit này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axit. Do có độ chua khá lớn, nước mưa có thể hoà tan được một số bụi kim loại và ôxit kim loại có trong không khí như ôxit chì,... làm cho nước mưa trở nên độc hơn nữa đối với cây cối, vật nuôi và con người.
Quá trình này diễn ra theo các phản ứng hoá học sau đây:
a.Lưu huỳnh:
S + O2 → SO2;
Quá trình đốt cháy lưu huỳnh trong khí oxi sẽ sinh ra lưu huỳnh điôxít.
SO2 + OH· → HOSO2·;
Phản ứng hoá hợp giữa lưu huỳnh điôxít và các hợp chất gốc hiđrôxít.
HOSO2· + O2 → HO2· + SO3;
Phản ứng giữa hợp chất gốc HOSO2· và O2 sẽ cho ra hợp chất gốc HO2· và SO3 (lưu huỳnh triôxít).
SO3(k) + H2O(l) → H2SO4(l);
Lưu huỳnh triôxít SO3 sẽ phản ứng với nước và tạo ra axít sulfuric H2SO4. Đây chính là thành phần chủ yếu của mưa axít.
b.Nitơ:
N2 + O2 → 2NO;
2NO + O2 → 2NO2;
3NO2(k) + H2O(l) → 2HNO3(l) + NO(k);
Axít nitric HNO3 chính là thành phần của mưa axít.
3.Tác hại
Mưa axit được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1948 tại Thuỵ Điển. Người ta đã thấy rằng mưa axit rất nguy hại đến môi trường sống, trong xây dựng, trong bảo tồn di tích lịch sử...
Mưa axit ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ). Các dòng chảy do mưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao trở thành các thuỷ vực chết. Mưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm xuống đất làm tăng độ chua của đất, hoà tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi (Ca), magiê (Mg),... làm suy thoái đất, cây cối kém phát triển. Lá cây gặp mưa axit sẽ bị "cháy" lấm chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quang hợp của cây giảm, cho năng suất thấp. Mưa axit còn phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại như sắt, đồng, kẽm,... làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, làm lở loét bề mặt bằng đá của các công trình.
Mưa axit gây hư hại các công trình, song cũng đem lại lợi ích đáng kể. Các nhà khoa học vừa phát hiện thấy những cơn mưa chứa axit sunphuaric làm giảm phát thải methane từ những đầm lầy(Đầm lầy là nơi sản ra lượng lớn khí methane), nhờ đó hạn chế hiện tượng trái đất nóng lên.
Một cuộc điều tra toàn cầu mới đây đã cho thấy thành phần sunphua trong các cơn mưa này có thể ngăn cản trái đất ấm lên, bằng việc tác động vào quá trình sản xuất khí methane tự nhiên của vi khuẩn trong đầm lầy.Methane chiếm 22% trong các yếu tố gây ra hiệu ứng nhà kính. Và các vi khuẩn ở đầm lầy là thủ phạm sản xuất chính. Chúng tiêu thụ chất nền (gồm hydro và axetat) trong than bùn, rồi giải phóng methane vào khí quyển. Nhưng trong đầm lầy ngoài vi khuẩn sinh methane, còn có vi khuẩn ăn sunphua cạnh tranh thức ăn với chúng. Khi mưa axit đổ xuống, nhóm vi khuẩn này sẽ sử dụng sunphua, đồng thời tiêu thụ luôn phần chất nền đáng lý được dành cho vi khuẩn sinh methane. Do vậy, các vi khuẩn sinh methane bị "đói" và sản xuất ra ít khí nhà kính. Nhiều thí nghiệm cho thấy phần sunphua lắng đọng có thể làm giảm quá trình sinh methane tới 30%.
Tiêu đề: Re: mưa acid
Gửi bởi: ..::: Bùi Nhật An :::.. trong Tháng Sáu 28, 2007, 10:28:56 AM
Mọi thông tin thêm xin xem tại:
 http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C6%B0a_ax%C3%ADt (http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C6%B0a_ax%C3%ADt) (Tiếng Việt)
 http://en.wikipedia.org/wiki/Acid_rain (http://en.wikipedia.org/wiki/Acid_rain) (Tiếng Anh)

Anh tinhnguyenvien lấy trên wiki VN phải không? Sao không để nguồn vào, có gì các mem khác xem thêm tham khảo!
Tiêu đề: Re: mưa acid
Gửi bởi: tinhnguyenvien_0525 trong Tháng Sáu 30, 2007, 04:07:56 PM
Uh!minh lay tren day. Nhung do minh da copy ve may minh nen khi dua len minh quen khong trich nguon tai lieu. Cam on da nhac nho.
Moi nguoi co the tim them thong tin ve mua axit qua cong cu google chi can nhap 'mưa axit' vao the nao cung se tim duoc nhieu nguon tai lieu hay
http://www.google.com.vn (http://www.google.com.vn)
Tiêu đề: Re: mưa acid
Gửi bởi: ..::: Bùi Nhật An :::.. trong Tháng Sáu 30, 2007, 04:12:47 PM
Uh!minh lay tren day. Nhung do minh da copy ve may minh nen khi dua len minh quen khong trich nguon tai lieu. Cam on da nhac nho.
Moi nguoi co the tim them thong tin ve mua axit qua cong cu google chi can nhap 'mưa axit' vao the nao cung se tim duoc nhieu nguon tai lieu hay
http://www.google.com.vn (http://www.google.com.vn)
Em không có ý gì đâu, nhưng phải cung cấp nguồn thông tin, để chắc chắn rằng thông tin trung thực, đảm bảo sự chính xác, tránh tư tưởng, nhận thức sai lệch cho các mem khác thiếu thông tin hơn!
Tiêu đề: O nhiem moi truong vi`.....
Gửi bởi: Minh Phuong trong Tháng Tám 24, 2007, 12:25:55 PM
Tại Âu châu, các khảo cứu gia đang nghĩ cách làm thế nào để ngăn chận bớt những tiếng ợ của bò và cừu, vì những tiếng ợ này chứa đầy khí Methan, thủ phạm chính của sự ô nhiễm môi trường và làm trái đất nóng dần. Theo đăng tải của báo Times, chính phủ Anh vừa hứa sẽ tài trợ 750 000 Pfund (1,1 triệu Euros) trong 3 năm, cho những thử nghiệm để tìm ra loại lương thực nào thích hợp cho loài nhai lại để chúng đừng ợ nhiều quá (như từ hồi nào tới giờ). Các khảo cứu gia thuộc đại học Wales tại Aberyswyth (Anh quốc) dự định sẽ cho bò và cừu ăn những loại cỏ có chứa chất đường ngọt và dự định trồng thêm nhiều loại "cỏ ba lá" vì họ tin rằng những loài cỏ này sẽ làm cho bò và cừu dễ tiêu hóa hơn nên ợ ít hơn. Bộ Canh Nông của Anh quốc cũng cho biết các khảo cứu gia vẫn đang tìm tòi một giải pháp để thay đổi cách tiêu hóa của loài bò, vì những thử nghiệm trước đây đã cho thấy rõ ràng có sự tương quan giữa cách nuôi bò và cừu với khí thải nhà kính. Nếu so với khí dioxid, khí Methan có ảnh hưởng làm trái đất ấm dần gấp 23 lần hơn.
Tại đại học Hohenheim (Stuttgart, Đức quốc), các khoa học gia cũng đang thử nghiệm để chế ra một loại thuốc viên có khả năng làm cho bò ít sản xuất khí Methan, nghĩa là ít ợ. Ngay cả tại Úc và Đan-mạch, các khảo cứu gia cũng đang thử nghiệm ráo riết để ngăn chận những tiếng ợ của bò, nghĩa là để giảm thiểu sự sản xuất khí Methan, một khí độc địa làm trái đất càng ngày càng nóng dần.
 
Tiêu đề: Re: O nhiem moi truong vi`.....
Gửi bởi: 5012vn trong Tháng Tám 24, 2007, 01:32:11 PM
Thế này mà biết cách thu khí mêtan từ miệng bò thì hay nhỉ, đỡ tiền mua than mua dầu, tiết kiệm được bao nhiêu?
Tiêu đề: Nươc biển
Gửi bởi: Minh Phuong trong Tháng Tám 27, 2007, 04:52:14 PM
Theo quan điểm của các chuyên gia trong Hội-bảo-vệ-thiên-nhiên WWF (World Wide Fund For Nature), để bù đắp cho số lượng nước đang thiếu hụt thì lọc nước biển hoặc làm nước biển bốc hơi hoặc gạn muối từ nước biển là những phương cách không chỉ tốn nhiều công sức mà còn gây ra một số lượng khí thải nhà kính khổng lồ từ những quy trình lọc gạn nước biển. Và rồi  từ lượng khí thải này, môi trường lại còn nguy ngập thêm. Các quốc gia đang thiếu nước trầm trọng như Tây ban Nha, Ả-rập-saoudi, Úc châu và những quốc gia đang bị nạn hạn hán nên nghĩ nhiều đến các phương pháp để tích trữ nước và thiết kế các nhà máy lọc nước thải, hơn là đầu tư vào các nhà máy lọc nước biển.
Hiện nay, nhiều nhà trồng trọt ở các vùng khô cằn đang có khuynh hướng ngày càng nhiều, tưới cây bằng nước biển đã được gạn lọc. Theo WF thì đây chỉ là một lối giải quyết tạm thời vì xử dụng nước biển (đắt) như thế làm sao thâu hoạch có lợi được nữa? Và vùng nào cũng có phương pháp hợp lý và đỡ tốn kém hơn để giải quyết nạn thiếu nước, tại sao phải xử dụng đến nước biển để rồi gây hại thêm cho môi trường?
Theo ước đoán của WWF, trên thế giới hiện nay có khoảng 10 000 nhà máy chuyên lọc nước biển. Nhưng trong vài năm tới đây chắc chắn sẽ có nhiều nhà máy hơn nữa để cung ứng nước cho các vùng - đã khô lại càng khô hơn - của Hoa-kỳ, Ấn-độ, Trung quốc, v.v.. do hệ quả của sự nóng ấm toàn cầu. Hơn nửa số nhà máy lọc nước biển đang tập trung tại những quốc gia sản xuất dầu hỏa ở vùng Vịnh để cung ứng gần 60% lượng nước tiêu dùng tại đây.
Nhiều vùng tại Úc châu cũng đặt hy vọng vào nền kỹ thuật tân tiến để giải quyết tình trạng khan hiếm nước. Tuy Tây-Ban-Nha cũng thiếu nước khá trầm trọng nhưng lại xử dụng lượng nước biển đã lọc một cách hết sức rộng rãi: không chỉ để phát triển các công trình xây cất và trồng trọt mà còn tưới cỏ các sân golf dọc theo bờ Đại Tây Dương!
Hội WWF đang vận động để buộc các nhà máy lọc nước biển phải được thiết kế và hoạt động như thế nào để đừng gây thiệt hại thêm cho môi trường và nhất là, chỉ được phép hoạt động khi trong khu vực đó thật sự thiếu nước trầm trọng.
Tiêu đề: Re: Nươc biển
Gửi bởi: Minh Phuong trong Tháng Tám 27, 2007, 04:55:21 PM
Mong các bạn tham gia đóng góp ý kiến :) :)
Tiêu đề: Re: O nhiem moi truong vi`.....
Gửi bởi: Minh Phuong trong Tháng Tám 27, 2007, 04:56:28 PM
Thế này mà biết cách thu khí mêtan từ miệng bò thì hay nhỉ, đỡ tiền mua than mua dầu, tiết kiệm được bao nhiêu?
Bạn thử nghĩ xem có cách j` ko  ;) ;)
Tiêu đề: Re: Nươc biển
Gửi bởi: 5012vn trong Tháng Tám 28, 2007, 01:08:57 AM
Cứ ngồi chờ xem họ làm thế nào ?.

Sau này Vn có thiếu nước sẽ dùng công nghệ của họ.  :o
Tiêu đề: Re: Nươc biển
Gửi bởi: Mũ Lưỡi Trai trong Tháng Chín 16, 2007, 09:26:28 AM
lọc nước biển còn thu được Mg, muối ăn, và đủ thứ tùm lum khác 
Tiêu đề: Bão
Gửi bởi: Minh Phuong trong Tháng Chín 20, 2007, 01:01:40 PM
Bão đã tăng gấp đôi trong thế kỷ qua
Những số liệu chính xác đã khẳng định lo ngại của các nhà khoa học: Số cơn bão hình thành trên Đại Tây Dương đã tăng gấp đôi trong 100 năm qua, cùng với sự ấm lên của nước biển bề mặt.

Theo báo cáo: từ năm 1905 đến 1930, vùng bờ biển vịnh Đại Tây Dương trung bình đón 6 cơn bão mỗi năm, trong đó 4 phát triển thành bão mạnh.

Nhưng từ năm 1931 đến 1994, con số này đã nhảy lên 10 cơn bão và 5 cơn bão mạnh. Từ năm 1995 đến 2005, số cơn bão trung bình là 15 và hình thành 8 cơn siêu bão.

Thậm chí năm 2006, được xem như một năm "thuận hoà", cũng đã có đến 10 cơn siêu bão.

"Chúng ta đang ở trong xu hướng gia tăng tần số các cơn lốc xoáy và bão nhiệt đới không ổn định", tiến sĩ Greg Holland, giám đốc bộ phận vi khí tượng tại Trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia ở Colorado, Mỹ, tác giả báo cáo, nhận định.

Nhóm nghiên cứu cho rằng những biến đổi khí hậu do con người gây ra, làm tăng nhiệt độ bề mặt nước biển, là nhân tố chính đằng sau việc gia tăng các cơn bão này.

T. An (theo AP, BBC)
Tiêu đề: Re: Bão
Gửi bởi: satlong1993 trong Tháng Chín 22, 2007, 12:04:56 PM
Trời AAAAAAA
Tiêu đề: Re: Nươc biển
Gửi bởi: satlong1993 trong Tháng Chín 22, 2007, 12:07:35 PM
Nước biển có nhiu thứ rất cần cho còn người vì vậy tui nghĩ là nên lọc nước biển nhưng ko biết lọc bằng cách nào có lợi nhất  ;D ;D ;D ;D ;D ;D ;D
Tiêu đề: Re: O nhiem moi truong vi`.....
Gửi bởi: satlong1993 trong Tháng Chín 22, 2007, 12:08:34 PM
Thế này mà biết cách thu khí mêtan từ miệng bò thì hay nhỉ, đỡ tiền mua than mua dầu, tiết kiệm được bao nhiêu?
Bạn tìm cách đi
Tiêu đề: Re: Dioxin và hậu quả trong chiến tranh Việt Nam
Gửi bởi: satlong1993 trong Tháng Chín 22, 2007, 12:14:00 PM
Thanks Thanks Thanks Thanks
Tiêu đề: Re: Xét nghiệm nước miễn phí bằng điện phân
Gửi bởi: satlong1993 trong Tháng Chín 22, 2007, 12:21:40 PM
Cũng hay đó bạn
Tiêu đề: Re: Bắc cực không còn băng vào 2100?
Gửi bởi: satlong1993 trong Tháng Chín 22, 2007, 12:22:39 PM
Hiểm họa sắp xảy ra sao
Tiêu đề: Re: Nươc biển
Gửi bởi: luckystar trong Tháng Mười 03, 2007, 04:14:26 PM
Mọt trong những cách sản xuất nước ngọt trên tàu biển là nén khí propan vói nước biẻn ở nhiệt độ thấp,sau đó lấy chất rắn sinh ra và để ở nhiệt độ thường thì được ngột.giải thích cách làm trên.
Tiêu đề: Re: Nươc biển
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 03, 2007, 05:37:04 PM
Theo mình được biết thì hiện nay người ta đang đầu tư vào công nghệ xử lý nước biển  bằng các chất hấp thụ, hấp phụ. Những chất như Zeolit, than hoạt tính, cát thạch anh, nhựa trao đổi ion... và rất nhiều chất khác nữa. Với thực trang khan hiếm nước  ngọt, nước sạch như hiện nay việc khai thác tài nguyên nước biển sẽ là vấn đề của toàn nhân loại chứ không riêng quốc gia nào. Hy vọng các bạn tiếp tục thảo luận những hiểu biết của mình với mọi người.
Thân!
Tiêu đề: Hiệu ứng nhà kính và hiện tượng phá hỏng tầng ozon
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 10, 2007, 12:51:03 PM
Mời các bạn cùng tham gia thảo luận về vấn đề nóng bỏng hiện nay.!
Tiêu đề: Re: Hiệu ứng nhà kính và hiện tượng phá hỏng tầng ozon
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 11, 2007, 10:42:33 AM
Global Climate Change: Understanding The Greenhouse Effect     16 March 2005
 
        Can you imagine the UK having high incidence of malaria and thousands of people dying because of high temperatures? Is it possible that the Gulf Stream would stop and Europe would cool significantly?

During the first Spotlight of Science talk tonight, Dr Roderic Jones from the Centre for Atmospheric Science at the Department of Chemistry will discuss the underlying principles of global climate change as well as the predicted climate changes over the next year.

According to Dr Jones, it is important to address the misconceptions about the greenhouse effect as well as the extent of the severity of the problems our children might face in the future.

“This is very serious,” said Dr Jones. “I don’t want to scare people but at the same time I think it’s important that they understand the situation and most importantly the need to do something about it. The Kyoto protocol is highly significant, however, as it stands, it is not sufficient to stabilise carbon dioxide.”

“People should not, however, wait for the Government or scientists to do something about this but can change things in their everyday lives that could make a difference. One aspect is being more conscious of their actions and their consequences. On the one hand they could use more energy efficient transport, and better insulation, but on the other they should recognise the need for Governments to act on this global problem.”

The lecture takes place on today, Wednesday 16 March, at the Babbage Lecture Theatre, New Museums Site, off Downing Street, from 7.30-8.30pm

For more information on the seminar or The Cambridge Science Festival, please phone 01223 766766.

For further information, please contact the University of Cambridge Office of Communications on 01223 332300
Tiêu đề: Re: Hiệu ứng nhà kính và hiện tượng phá hỏng tầng ozon
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 11, 2007, 11:58:58 AM
Mình tạm dịch thế này nhé:
 Sự thay đổi khí hậu của toàn cầu: Hiểu biết về Hiệu ứng nhà kính
  Bạn có thể tưởng tượng Vương quốc Anh sẽ chịu sự tác động của một đại dịch sốt rét và hàng nghìn người sẽ chết bởi vì sự tăng lên của nhiệt độ. Điều đó rất có thể xảy ra vì dòng nước ấm ở Vùng Vịnh (từ vịnh Mêhicô qua Đại Tây Dương đến châu Âu)sẽ ngừng lại và châu Âu sẽ lạnh giá. ;)
 Trong bài nói chuyện khoa học đáng chú ý tối nay, Tiến sĩ Roderic Jones đến từ trung tâm Khoa học khí quyển thuộc Khoa CNHH sẽ thảo luận về sự thay đổi khí hậu của toàn cầu cũng như dự đoán sự thay đổi những năm tiếp theo.
 Theo Ts.Jones, điều mấu chốt từ chính sự nhận thức sai lầm về hiệu ứng nhà kính cũng như sự đánh giá mức độ nghiêm trọng của vấn đề của lớp trẻ sẽ thay đổi bộ mặt thế giới trong tương lai.
 "Đây là một vấn đề rất quan trọng", Ts.Jones nói. "Tôi không muốn làm mọi người sợ hãi nhưng đây không phải điều có thể đùa được. Vấn đề này rất quan trọng và cần sự hiểu biết cặn kẽ, họ cần phải hiểu tình cảnh và những gì cần thiết nhất lúc này. Nghị định thư Kyoto có ý nghĩa rất to lớn, tuy nhiên, cũng như mọi người ở đây, nó không có đủ thẩm quyền về độ ổn định của CO2 "
 Từng người khó làm được, tuy nhiên, trong khi chờ đợi sự phát triển của khoa học để làm điều đó, chúng ta có thể thay đổi cách sống để làm nên điều khác biệt. Một điều chúng ta hướng tới là ý thức trong các hành động. Mọi người cùng chung tay, chúng ta sẽ tạo ra một sự thay đổi to lớn, một nơi tuyệt vời, nhưng nếu chúng ta chỉ chú ý đến sự phát triển để hành động thì thật là một vấn đề lớn đối với khí hậu.
        Thông tin từ một buổi thảo luận tại ngày khoa học của ĐHCambridge
 
Tiêu đề: Re: Hiệu ứng nhà kính và hiện tượng phá hỏng tầng ozon
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 11, 2007, 12:02:08 PM
Thông tin có tính tham khảo từ Wikipedia:
Hiệu ứng nhà kính làm cho nhiệt độ của không gian bên trong của một nhà trồng cây làm bằng kính tăng lên khi Mặt Trời chiếu vào. Nhờ vào sức ấm này mà cây có thể đâm chồi, ra hoa và kết trái sớm hơn. Ngày nay người ta hiểu khái niệm này rộng hơn, dẫn xuất từ khái niệm này để miêu tả hiện tượng nghẽn nhiệt trong bầu khí quyển của Trái Đất được Mặt Trời chiếu sáng là hiệu ứng nhà kính khí quyển. Trong hiệu ứng nhà kính khí quyển, phần được đoán là do tác động của loài người gây ra được gọi là hiệu ứng nhà kính nhân loại (gia tăng).
Hiệu ứng nhà kính

Hiệu ứng nhà kính, xuất phát từ effet de serre trong tiếng Pháp, do Jean Baptiste Joseph Fourier lần đầu tiên đặt tên, dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng mặt trời, xuyên qua các cửa sổ hoặc mái nhà bằng kính, được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ không phải chỉ ở những chỗ được chiếu sáng.

Hiệu ứng này đã được sử dụng từ lâu trong các nhà kính trồng cây. Ngoài ra hiệu ứng nhà kính còn được sử dụng trong kiến trúc, dùng năng lượng mặt trời một cách thụ động để tiết kiệm chất đốt sưởi ấm nhà ở.

 Hiệu ứng nhà kính khí quyển

Các tia bức xạ sóng ngắn của mặt trời xuyên qua bầu khí quyển đến mặt đất và được phản xạ trở lại thành các bức xạ nhiệt sóng dài. Một số phân tử trong bầu khí quyển, trong đó trước hết là điôxít cacbon và hơi nước, có thể hấp thụ những bức xạ nhiệt này và thông qua đó giữ hơi ấm lại trong bầu khí quyển. Hàm lượng ngày nay của khí đioxit cacbon vào khoảng 0,036% đã đủ để tăng nhiệt độ thêm khoảng 30 °C. Nếu không có hiệu ứng nhà kính tự nhiên này nhiệt độ trái đất của chúng ta chỉ vào khoảng –15°C.

Ở thời kỳ đầu tiên của lịch sử trái đất, các điều kiện tạo ra cuộc sống chỉ có thể xuất hiện vì thành phần của điôxít cacbon trong bầu khí quyển nguyên thủy cao hơn, cân bằng lại lượng bức xạ của mặt trời lúc đó yếu hơn đến khoảng 25%. Cường độ của các tia bức xạ tăng lên với thời gian. Trong khi đó đã có đủ cây cỏ trên Trái Đất, thông qua sự quang hợp, lấy đi một phần khí điôxít cacbon trong không khí tạo nên các điều kiện khí hậu tương đối ổn định

 Hiệu ứng nhà kính nhân loại

Từ khoảng 100 năm nay con người tác động mạnh vào sự cân bằng nhạy cảm này giữa hiệu ứng nhà kính tự nhiên và tia bức xạ của mặt trời. Sự thay đổi nồng độ của các khí nhà kính trong vòng 100 năm lại đây (điôxít cacbon tăng 20%, mêtan tăng 90%) đã làm tăng nhiệt độ lên 2°C.

Không nên nhầm lẫn hiệu ứng nhà kính nhân loại với việc làm tổn thất đến lớp khí ôzôn ở tầng bình lưu cũng do loài người gây ra.

 Những ảnh hưởng có thể xảy ra do hiệu ứng nhà kính nhân loại

Phần lớn các nhà khoa học ủng hộ giả thuyết cho rằng việc tăng nồng độ các khí nhà kính do loài người gây ra, hiệu ứng nhà kính nhân loại, sẽ làm tăng nhiệt độ trên toàn cầu và như vậy sẽ làm thay đổi khí hậu trong các thập kỷ và thập niên kế đến.

Giả thuyết này bị phủ nhận bởi một số người gọi là nhà phê bình khí hậu mà con số các nhà khoa học trong họ đã giảm đi rõ rệt trong những năm vừa qua.

Sau đây là một số hậu quả liên đới với việc thay đổi khí hậu do hiệu ứng này có thể gây ra:

    * Các nguồn nước: Chất lượng và số lượng của nước uống, nước tưới tiêu, nước cho kỹ nghệ và cho các máy phát điện, và sức khỏe của các loài thủy sản có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự thay đổi của các trận mưa rào và bởi sự tăng khí bốc hơi. Mưa tăng có thể gây lụt lội thường xuyên hơn. Khí hậu thay đổi có thể làm đầy các lòng chảo nối với sông ngòi trên thế giới.
    * Các tài nguyên bờ biển: Chỉ tại riêng Hoa Kỳ, mực nước biển dự đoán tăng 50 cm vào năm 2100, có thể làm mất đi 5.000 dặm vuông đất khô ráo và 4.000 dặm vuông đất ướt.
    * Sức khỏe: Số người chết vì nóng có thể tăng do nhiệt độ cao trong những chu kì dài hơn trước. Sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ có thể đẩy mạnh các bệnh truyền nhiễm.
    * Lâm nghiệp: Nhiệt độ cao hơn tạo điều kiện cho nạn cháy rừng dễ xảy ra hơn.
    * Năng lượng và vận chuyển: Nhiệt độ ấm hơn tăng nhu cầu làm lạnh và giảm nhu cầu làm nóng. Sẽ có ít sự hư hại do vận chuyển trong mùa đông hơn, nhưng vận chuyển đường thủy có thể bị ảnh hưởng bởi số trận lụt tăng hay bởi sự giảm mực nước sông.

Xa hơn nữa nếu nhiệt độ của quả đất đủ cao thì có thể làm tan nhanh băng tuyết ở Bắc Cực và Nam Cực và do đó mực nước biển sẽ tăng quá cao, có thể dẫn đến nạn hồng thủy.

 Các nỗ lực hiện tại để giảm trừ Hiệu ứng nhà kính nhân loại

    * Một trong những cố gắng đầu tiên của nhân loại để giảm mức độ ấm dần do khí thải kỹ nghệ là việc các quốc gia đã tham gia bàn thảo và tìm cách kí kết một hiệp ước có tên là Nghị định thư Kyoto. Tuy nhiên, hiệp ước này không được một số nước công nhận, trong đó quan trọng nhất là Mỹ với lí do là hiệp định này có khả năng gây tổn hại cho sự phát triển kinh tế của Hoa Kỳ.

    Tiến sĩ Roderic Jones thuộc Trung tâm Khoa học Khí quyển, phân khoa hóa của Đại học Cambridge đã phát biểu: Tôi không muốn làm mọi người lo sợ nhưng cùng lúc tôi nghĩ rằng thật là quan trọng nếu họ hiểu được tình hình và, một cách tối yếu, sự cần thiết phải làm gì đó cho nó. Nghị định thư Kyoto rất quan trọng, mặc dù vậy, theo (nội dung) đề cập, nó không đủ để cân bằng hóa CO2.

    * Tuy nhiên, về phía nội bộ nước Mỹ và các nước tiên tiến khác, nhiều nỗ lực để giảm khí độc mà chủ yếu thải ra từ xe máy nổ và các nhà máy kỹ nghệ đã được áp dụng khá mạnh mẽ. Ở Hoa Kỳ, hầu hết các tiểu bang đều có luật bắt buộc các phương tiện giao thông dùng động cơ nổ phải có giấy chứng nhận qua được các thử nghiệm định kì về việc đạt tiêu chuẩn nhả khói của hệ thống xe.
Tiêu đề: Re: Hiệu ứng nhà kính và hiện tượng phá hỏng tầng ozon
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 12, 2007, 09:13:00 PM
Một bài Tiếng Anh nữa:

The greenhouse effect is the rise in temperature that the Earth experiences because certain gases in the atmosphere (water vapor, carbon dioxide, nitrous oxide, and methane, for example) trap energy from the sun. Without these gases, heat would escape back into space and Earth’s average temperature would be about 60ºF colder. Because of how they warm our world, these gases are referred to as greenhouse gases.
(http://i242.photobucket.com/albums/ff30/thanhlpt/greenhouse.gif)
Have you ever seen a greenhouse? Most greenhouses look like a small glass house. Greenhouses are used to grow plants, especially in the winter. Greenhouses work by trapping heat from the sun. The glass panels of the greenhouse let in light but keep heat from escaping. This causes the greenhouse to heat up, much like the inside of a car parked in sunlight, and keeps the plants warm enough to live in the winter.
The Earth’s atmosphere is all around us. It is the air that we breathe. Greenhouse gases in the atmosphere behave much like the glass panes in a greenhouse. Sunlight enters the Earth's atmosphere, passing through the blanket of greenhouse gases. As it reaches the Earth's surface, land, water, and biosphere absorb the sunlight’s energy. Once absorbed, this energy is sent back into the atmosphere. Some of the energy passes back into space, but much of it remains trapped in the atmosphere by the greenhouse gases, causing our world to heat up.
(http://i242.photobucket.com/albums/ff30/thanhlpt/earth.jpg)
The greenhouse effect is important. Without the greenhouse effect, the Earth would not be warm enough for humans to live. But if the greenhouse effect becomes stronger, it could make the Earth warmer than usual. Even a little extra warming may cause problems for humans, plants, and animals.
Tiêu đề: Re: Hiệu ứng nhà kính và hiện tượng phá hỏng tầng ozon
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 12, 2007, 10:32:32 PM
 Hiệu ứng nhà kính là sự gia tăng nhiệt độ mà Trái đất phải chịu đựng bởi vì chắc chắn các thành phần khí trong khí quyển (ví dụ như: hơi nước,CO2, NO2 và metan) hấp thu năng lượng của mặt trời. Nếu không có những khí này, nhiệt sẽ thoát trở lại Vũ trụ và nhiệt độ trung bình của Trái đất sẽ giảm đi khoảng 60 độ F. Bởi cách nó làm ấm thế giới của chúng ta, những khí đó được coi là khí nhà kính.
Bạn đã bao giờ nhìn thấy nhà kính chưa? Phần lớn nhà kính được nhìn thấy như là những ngôi nhà nhỏ làm bằng thủy tinh. Nhà kính được sử dụng để làm nơi trồng thực vật, đặc biệt là vào mùa đông. Nhà kính hoạt động bằng cách hấp thu sức nóng của mặt trời. Những tấm thủy tinh của nhà kính sẽ cho ánh sáng đi qua và giữ lại sức nóng của chúng thoát ra. Bởi lý do đó nên nhà kính nóng lên, giống như là bên trong của chiếc xe ô tô để dưới ánh sáng mặt trời, và giữ cho thực vật đủ ấm để sống vào mùa đông.
Khí quyển Trái đất bao quanh tất cả chúng ta. Nó là không khí mà chúng ta thở. Khí nhà kính trong khí quyển làm việc như là những tấm thủy tinh của nhà kính. Ánh nắng mặt trời chiếu vào khí quyển của Trái đất, xuyên qua những lỗ hổng của khí nhà kính. Và thế là mọi bề mặt của Trái đất như đất liền, biển, sinh quyển... đều hấp thụ năng lượng của ánh sáng mặt trời. Như một cỗ máy làm việc miệt mài, năng lượng được gởi trở lại bầu khí quyển. Một phần năng lượng quay trở lại vũ trụ, nhưng phần lớn nó được giữ lại bởi khí nhà kính. Đó là lý do mà thế giới của chúng ta nóng lên.
Hiệu ứng nhà kính rất quan trọng, nếu không có nó Trái đất sẽ không đủ ấm cho cuộc sống của con người. Nhưng nếu hiệu ứng nhà kính trở nên lớn mạnh, nó sẽ làm Trái đất nóng hơn mức cần thiết. Chỉ cần nóng lên một chút cũng là vấn đề cho cuộc sống của con người, cây cỏ và động vật.
                                       
Tiêu đề: Re: Hiệu ứng nhà kính và hiện tượng phá hỏng tầng ozon
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 13, 2007, 10:06:05 PM
Thông tin có tính tham khảo:
Tầng ozon là gì?
Tầng Ozon là lớp khí quyển mỏng bao quang trái đất có tác dụng bảo vệ chúng ta khỏi các tác
động có hại của bức xạ cực tím từ mặt trời. Tầng Ozon cách mặt đất khoảng từ 15 đến 40km và
phân bố không đồng đều.
Khí Ozon gồm 3 nguyên tử oxy (0
3
). Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu với ranh giới trên dao
động trong khoảng độ cao 50 km. Ở độ cao khoảng 25 km trong tầng bình lưu tồn tại một lớp
không khí giàu khí Ozon (O
3
) thường được gọi là tầng Ozon. Hàm lượng khí Ozon trong không
khí rất thấp, chiếm một phần triệu, chỉ ở độ cao 25 - 30 km, khí Ozon mới đậm đặc hơn (chiếm tỉ
lệ 1/100.000 trong khí quyển). Người ta gọi tầng khí quyển ở độ cao này là tầng Ozon.
Nếu tầng Ozon bị thủng, một lượng lớn tia tử ngoại sẽ chiếu thẳng xuống Trái đất. Con người
sống trên Trái đất sẽ mắc bệnh ung thư da, thực vật không chịu nổi nhiều tia tử ngoại chiếu vào
sẽ bị mất dần khả năng miễn dịch, các sinh vật dưới biển bị tổn thương và chết dần. Bởi vậy các
nước trên thế giới đều rất lo sợ trước hiện tượng thủng tầng Ozon.
Tiêu đề: Re: Hiệu ứng nhà kính và hiện tượng phá hỏng tầng ozon
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 13, 2007, 10:08:07 PM
Nguyên nhân phá hỏng tầng ozon:
Vào năm 1974, các nhà khoa học đã xác nhận rằng rất nhiều hoá chất nhân tạo, bao gồm các
môi chất CFC sử dụng trong tủ lạnh, có thể phản ứng với ozon tạo thành oxi (O
2
). Môi chất CFCs
rất bền vững (một số chất CFCs có thời gian tồn tại trên 100 năm trong khí quyển), vì vậy chúng
không bị phân hủy trong tầng đối lưu. Thông qua sự tuần hoàn của khí quyển, các môi chất bền
vững này sẽ lan rộng ra toàn cầu và cuối cùng lên tới tầng bình lưu. Tại đây, bức xạ UV phá vỡ
phân tử CFC giải phóng ra Clo tự do. Clo tự do hoạt động như một chất xúc tác trong quá trình
Page 2
phá hủy Ozon; nó không bị mất đi trong phản ứng. Chính vì vậy, một nguyên tử Clo có thể tham
gia quá trình phản ứng phá hủy Ozon hàng nghìn lần. Các hợp chất chứa Clo có tính bền vững
là nguyên nhân chủ yếu của sự suy giảm tầng Ozon. Các hợp chất này được sử dụng trong các
lĩnh vực sơn khí, tạo bọt, dung môi và môi chất lạnh. Các hợp chất bền có chứa Brôm, chẳng
hạn như Halon, cũng có khả năng phá hủy tầng Ozon. Một chất có khả năng phá hủy Ozon phải
có 2 thuộc tính:
- Chứa nguyên tố Clo, Brôm hoặc một nguyên tố nào đó có khả năng phản ứng với Ozon tạo
thành Oxi;
- Phải đủ bền vững trong tầng thấp của khí quyển để có thể lên tới tầng Ozon.
Các chất có khả năng làm suy giảm tầng Ozon, gọi tắt là các chất ODS, bao gồm: CFCs, Halon,HBFCs, Carbon Tetrachloride, Methyl Chloroform, Methyl Bromide.
Tiêu đề: Vì sao biển mặn?
Gửi bởi: Công Nghệ Hóa Học trong Tháng Mười 16, 2007, 01:13:13 PM
Ai cũng biết biển mặn là nhờ có muối. Nhưng muối từ đâu đến? Hầu như mỗi nền văn hoá đều có một câu chuyện thần thoại để giải thích vì sao biển mặn. Trên phương diện khoa học, câu trả lời rất đơn giản: Biển mặn nhờ muối sinh ra từ đá trên đất liền.
(http://i242.photobucket.com/albums/ff30/thanhlpt/bien.jpg)
Từ bao đời nay, mưa đã rơi trên Trái Đất. Trong mưa có chứa CO2 hoà tan đến từ không khí bao quanh hành tinh, khiến cho nước mưa mang tính acid nhẹ có nguồn gốc từ acid carbonic – được tạo thành từ CO2 và nước.

Mưa rơi trên đá và acid trong nước mưa phân huỷ đá, tạo ra dạng hòa tan của các muối (ion). Những ion này được những con suối, dòng sông mang ra các đại dương.

Theo ông Galen McKinley, giáo sư khoa học đại dương và khí quyển, thuộc Trường Đại học UW-Madison (Mỹ), độ mặn của nước biển đến từ các muối khoáng hòa tan, chủ yếu là sodium, chloride, sulfur, calcium, magnesium và potassium.

Trong đó, hai ion hiện diện nhiều nhất trong nước biển là chloride và sodium, chiếm tỉ lệ lên đến 90% trong tổng số ion hòa tan trong đại dương.

Một phần lớn những ion hòa tan này được các sinh vật trong đại dương tiêu thụ và bị loại ra khỏi nước. Số còn lại được tích tụ trong một thời gian rất dài và nồng độ của chúng trong nước biển tăng dần. Nhờ đó, độ mặn (tức nồng độ muối) trong nước biển hiện nay ở vào khoảng 35 phần ngàn. Nói cách khác, 3,5% trọng lượng nước biển là các muối hòa tan, và trong một dặm khối (khoảng 1.600 m3) nước biển có khoảng 120 triệu tấn muối.

Tuy nhiên, theo giáo sư McKinley, “hàng năm, lượng ion do nước mưa mang xuống đại dương chỉ làm lượng muối sẵn có trong đó tăng ở tỉ lệ cực thấp, chỉ 0,00005% mà thôi”.

Theo ước tính của các chuyên gia, nếu lấy tất cả muối trong đại dương rải đều lên mặt đất thì người ta sẽ có một lớp muối dày đến 166 mét, tức bằng chiều cao của một tòa nhà 40 tầng.

Theo giáo sư McKinley, “có những chứng cứ địa chất học cho thấy tính mặn của nước biển đã có lịch sử ít nhất là 1 tỉ năm”.

Nhưng bạn đừng nghĩ biển chỉ có muối không thôi nhé! Trong 1.600 m3 nước biển còn có đến 25 tấn vàng và 45 tấn bạc!
(Theo Vietnamnet.vn và Science Daily)
Tiêu đề: Xử lí tốt, rác thải Y tế sẽ cho giá trị cao
Gửi bởi: dothoa trong Tháng Mười 22, 2007, 06:25:36 PM
Rác thải Y tế có giá trị cao
Nguyễn Trọng Bình
Việc xử lý rác thải trong sinh hoạt hàng ngày là việc được nhiều quốc gia quan tâm hiện nay. Xử lý rác thải và tái sử dụng nguồn nguyên liệu tái sinh từ rác thải không chỉ bảo vệ môi trường sống, giảm bớt ô nhiễm từ số lượng lớn rác thải, mà còn có thể giúp thêm nguồn nguyên liệu cho nhà máy sản xuất.

Nhiều quốc gia đã bỏ ra chi phí lớn, nghiên cứu những phương pháp xử lý và tái sử dụng nguyên liệu rác thải sao cho an toàn/ vệ sinh và kinh tế. Trong đó vấn đề an toàn/vệ sinh xã hội là ưu tiên cao nhất.

Trong rác thải sinh hoạt hàng ngày, rác thải y tế (RTYT) từ các bệnh viện và từ các phòng nghiên cứu chiếm một phần không nhỏ. Hơn nữa, RTYT sẽ là các nguồn nguyên liệu có chất lượng cao, nếu được xử lý tốt sẽ cho giá trị cao hơn rác thải thông thường.

Tuy nhiên, trong rác thải y tế có chứa những nguy hiểm mà rác thông thường ít gặp. Những nguy hiểm đó là: mầm bệnh tật, các độc chất (hoá chất trị bệnh; thậm chí là các loại chất phóng xa đồng vị) còn sót lại trong RTYT . Do đó trong quá trình xử lý và tái sử dụng RTYT ưu tiên an toàn/vệ sinh lại càng quan trọng hơn.

Trong RTYT có nguồn nguyên liệu có khả năng mang giá trị cao như các loại nhựa dẻo (plastic, hợp chất cao phân tử) từ các chai lo nhựa dẻo chứa dung dịch và các ống truyền dịch.
Lưu ý trong quá trình xử lí rác thải y tế

Vài khâu chính trong những khâu quan trọng cần phải quan tâm trong quá trình xử lý rác như sau:

Tuyển chọn, phân loại: Phân chia các loại RTYT theo các cấp nhiễm vi trùng bệnh và loại hoá chất ngay sau sử dụng tại cơ sở y tế. Phân loại các loại nhựa khác nhau; các loại đã qua sử dụng có nhiễm chất phóng xạ đồng vị và nhiễm khuẩn bệnh sẽ không được tái sử dụng, mà phải hủy bỏ hoàn toàn. Khâu phân loại này nếu không làm tốt sẽ gây nhiều phức tạp cho các khâu xử lý sau đó .

Tiệt trùng: khử trùng và các mầm bệnh có thể có trong RTYT với mục đích là tránh lây lan ra ngoài xã hội những dịch bệnh nguy hiểm, những RTYT có liên quan dến những mầm bênh có nguy cơ cao sẽ không được tái sử dụng làm nguồn nguyên liệu, để tránh lây lan thành bệnh dịch nguy hiểm cho toàn xã hội.

Tẩy rửa: công nghệ tẩy rửa sạch các chất bẩn và hoá chất. Áp dụng những thiết bị hiện đại và tuyệt đối tránh tẩy rửa thủ công. Bảo đảm các hoá chất và chất bẩn không còn sót lại trong nguyên liệu đã xử lý. Việc tuyệt đối bảo đảm an toàn phải được đặt lên hàng đầu. Những nguồn nguyên liệu từ RTYT sẽ không được sử dụng để tái tạo ra các đồ dùng trong gia đình, hoặc đồ dùng cá nhân liên quan đến thực phẩm, nước uống và y tế.

Tại các nước công nghiệp phát triển, việc xử lý rác thải là một khoản khá tốn kém về kinh tế cho những cơ quan quản lý các tổ chức. Tuy tốn kém, nhưng việc xử lý rác thải vẫn được quan tâm và xúc tiến mạnh mẽ, với ưu tiên hàng đầu là giảm bớt lượng rác thải quá nhiều làm ô nhiễm môi trường sinh sống.

Việc tìm ra các công trình xử lý với hiệu quả kinh tế cao thường là những điều cần được đặc biệt quan tâm ngay sau ưu tiên an toàn/vệ sinh môi trường. Nguồn nguyên liệu tái sinh từ rác thải chỉ giữ một vị trí thấp trong các mối quan tâm xử lý rác.

Hãy đặt vị trí an toàn/vệ sinh trong sinh hoạt lên ưu tiên hàng đầu!
theo vietciences
Tiêu đề: Phòng thử nghiệm Môi trường
Gửi bởi: quatest1 trong Tháng Mười 24, 2007, 09:21:37 PM

Phòng thử nghiệm Môi trường

Phòng thử nghiệm môi trường, thuộc Trung tâm Kỹ thuật 1, Phòng đã được VILAS công nhận phù hợp với chuẩn mực của TCVN, ISO/IEC 17025 mang mã hiệu VILAS 30.

Lĩnh vực hoạt động của phòng bao gồm:

Đánh giá tác động môi trường
Phân tích chất lượng môi trường: Chất lượng không khí, nước, đất/trầm tích…
Phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, các hợp chất hữu cơ như: chlorophenols, PCBs, PAHs… trong đất, nước, trầm tích, sinh vật…
Phân tích lượng vết kim loại nặng
Quan trắc và phân tích môi trường
Tham gia tư vấn thiết kế, xử lý ô nhiễm
Đào tạo thử nghiệm viên về hoá môi trường
Các trang thiết bị chính:

Sắc ký khí khối phổ; sắc ký khí lỏng cao áp, ion, huỳnh quang; cực phổ; thiết bị phân tích BOD5 nhanh; máy quang phổ tử ngoại/khả kiến; các thiết bị phân tích hiện trường.

Các thiết bị lấy mẫu nước, bùn, sinh vật… tiêu chuẩn
(http://www.quatest1.com.vn/images/general/tt1_tn5_2.jpg)
Tiêu đề: Bàn luận về rác thải y tế tấn công môi trường !!!
Gửi bởi: quatest1 trong Tháng Mười 24, 2007, 09:44:00 PM
RÁC THẢI Y TẾ TẤN CÔNG MÔI TRƯỜNG
Công tác quản lý và xử lý chất thải bệnh viện ở nước ta hiện nay được quan tâm như thế nào? Ngành y tế đã được đầu tư trang thiết bị cho việc xử lý rác thải thế nào, hiệu quả hoạt động đến đâu?. Bắt đầu từ số báo này KHDS sẽ lần lượt đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên

Kỳ 1: Kinh hoàng chất thải bệnh viện.

            Mỗi ngày, môi trường sống của chúng ta phải tiếp nhận hàng trăm tấn rác thải y tế từ các bệnh viện thải ra. Nếu không được giải quyết sớm, chất thải bệnh viện sẽ là nguồn gây bệnh đe doạ trực tiếp tới đời sống của cộng đồng dân cư.

TỪ CÁC CHẤT THẢI RẮN

Theo báo cáo từ Bộ Y tế, tính đến năm 2005 cả nước có hơn 1047 bệnh viện với khoảng 140.000 giường bệnh và hơn 10.000 trạm y tế. Trung bình mỗi ngày đêm, mỗi giường bệnh thải ra môi trường khoảng 2,5 kg rác thải, chất thải trong đó từ 10-15% là chất thải độc hại, dễ gây nguy hiểm cần được xử lý theo quy định đặc biệt, bao gồm các chất tiết dịch, bông băng, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất, các chất phóng xạ và cả các bộ phận của cơ thể người bệnh bị cắt bỏ sau phẫu thuật.

 Vẫn theo Bộ Y tế, khoảng 2/3 bệnh viện chưa áp dụng phương pháp tiêu huỷ rác thải đảm bảo vệ sinh. Hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa được phân theo đúng chủng loại, chưa được khử khuẩn khi thải bỏ. Nhà lưu chứa không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng. Rác thải y tế ở một số địa ph­ương hiện đang là một trong những vấn đề bức xúc bởi ngay cả ở các bệnh viện tuyến tỉnh, hiện nay nhiều địa phư­ơng vẫn chư­a có lấy một nơi tập kết chất thải.

Để tìm hiểu điều này phóng viên KHĐS đã đến Trung tâm y tế huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ngay trong khuôn viên bệnh viện hàng loạt các hố xử lý rác thủ công cháy nham nhở bốc mùi khét lẹt. Ông Bùi Xuân Thuý, Giám đốc Trung tâm bức xúc “Vẫn biết xử lý bằng phương pháp thủ công sẽ ảnh hưởng đến môi trường nhưng nếu đốt bằng lò hiện đại thì kinh phí Trung tâm không thể kham nổi”.

Ông Nguyễn Trọng Bình, Phó Giám đốc Sở y tế tỉnh Thái Bình cho biết: Hiện nay, toàn tỉnh Thái Bình có khoảng trên 2000 giường bệnh, trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 1000 -3500kg rác thải y tế, trong đó có khoảng 20% là chất thải nguy hại. Khi được hỏi về vấn đề xử lý rác, ông Bình cho biết, hiện các đơn vị vẫn phải xử lý theo cách chôn lấp tại chỗ. Đơn vị nào có lò đốt thủ công thì sử dụng lò thủ công. Ngoài ra sở cũng liên kết với Công ty môi trường đô thị để xử lý rác..

ĐẾN NƯỚC THẢI

Hiện nay hầu hết các bệnh viện mới chỉ đầu tư cho việc xử lý chất thải rắn bằng hệ thống các lò đốt. Đốt với chất thải lỏng mới chỉ dừng lại ở công đoạn thu gom. Trong khi đó nước thải bệnh viện có đến 20% là chất thải nguy hại. đặc biệt với các loại thuốc điều trị bệnh ung thư hoặc sản phẩm chuyển hoá của chúng, nếu xả thải ra bên ngoài không qua xử lý, có khả năng gây quái thai, ung thư cho người tiếp xúc.

Theo kết quả khảo sát của viện Viện y học Lao động và vệ sinh môi trường cho thấy, nước thải bệnh viện ô nhiễm nặng gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn, tổng số coliform trung bình là 2 x 107 MPN/100ml cao hơn 20.000 lần tiêu chuẩn thải.

 Bác sĩ Hoàng Đức Tế, phó phòng nghiệp vụ kế hoạch, Trung tâm y tế (TTYT) huyện Đông Anh, Hà Nội cho biết, mỗi ngày TTYT huyện đông  xả ra ngoài môi trường khoảng 200m3 nước thải. Lượng nước thải chưa được xử lý này thải trực tiếp ra ngoài môi trường. Đây là tình trạng chung của các bệnh viện tuyến huyện trên phạm vi cả nước. Theo báo cáo của Bộ y tế, hiện nay mới chỉ có khoảng 1/3 số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải. Các bệnh viện có quy mô nhỏ nên hầu như không có đơn vị vận hành chuyên biệt trạm xủ lý nước thải. Hầu hết các công nghệ xử lý rác thải đều không hoạt động hiệu quả do nhiều lý do, một phần là do thiếu kinh phí hoạt động thường xuyên, một phần do hoạt động không tuân theo các yếu tố công nghệ yêu cầu và phần còn lại là do hệ thống không đảm bảo yêu cầu để xử lý đạt tiêu chuẩn. VĂN DŨNG
Tiêu đề: Re: Bàn luận về rác thải y tế tấn công môi trường !!!
Gửi bởi: quatest1 trong Tháng Mười 24, 2007, 09:45:47 PM
Nỗi lo rác thải y tế

Hiện nay cả nước có khoảng 1000 viện và bệnh viện các cấp, 1200 phòng khám đa khoa khu vực, 10.000 trạm y tế xã, phường, 17.700 cơ sở y tế tư nhân. Mỗi ngày lượng rác thải y tế lên tới hàng trăm tấn, hầu hết mới được xử lý theo phương pháp truyền thống như chôn lấp ở các bãi rác công cộng, đốt bằng lò thủ công, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người.

Thực trạng...

Theo ước tính, trong một ngày đêm, mỗi giường bệnh thải ra môi trường khoảng 2,5 kg rác thải, chất thải, trong đó từ 10% đến 15% là loại chất thải độc hại, dễ gây lây nhiễm. Thế nhưng, khâu quản lý rác thải, chất thải của các cơ sở y tế lại hết sức lỏng lẻo. Hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa được phân theo đúng chủng loại, chưa được khử khuẩn trước khi thải bỏ, không có nhà lưu chứa hoặc có nhưng không đúng tiêu chuẩn, không bảo đảm vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng.

Trong quy chế quản lý rác thải, chất thải bệnh viện, Bộ Y tế quy định rất rõ ràng và còn đưa ra quy trình thu gom, lưu trữ. Theo đó, rác thải, chất thải phải được xử lý ngay tại thời điểm mới phát sinh, đựng trong các túi hoặc thùng tuỳ theo quy định về màu sắc, tiêu chuẩn. Nhưng thực tế phần lớn các bệnh viện, cơ sở y tế, nhất là cơ sở y tế tư nhân, chưa thực hiện quy định này. Rất nhiều lần, do bất cẩn, công nhân làm vệ sinh đã đánh rơi túi đựng chất thải, rác thải y tế xuống lề đường, nguy cơ gây bệnh truyền nhiễm là không tránh được.

Hà Nội có hàng nghìn cơ sở y tế lớn nhỏ, chiếm lượng chất thải, rác thải vào môi trường khoảng gần 2% tổng lượng rác thải toàn thành phố. Chỉ có 60 bệnh viện và Trung tâm y tế ký hợp đồng xử lý rác thải với Xí nghiệp xử lý chất thải rắn y tế, khối lượng trung bình 1,5 tấn/ngày. Số rác thải còn lại, do nhiều lý do vẫn trôi nổi lẫn với rác sinh hoạt, đang tăng dần mỗi năm. Ông Đoàn Hồng Quang – giám đốc xí nghiệp Xử lý chất thải rắn y tế cho biết “So với năm trước, các bệnh viện và nhân viên y tế đã có ý thức hơn rất nhiều khi thu gom và phân loại rác. Chúng tôi cũng đã thu gom các loại rác y tế như bông băng, kim tiêm... tại các vườn hoa, công viên, cố gắng không để rác y tế trôi nổi ngoài đường. Có một thực tế không tránh được là không thể thu gom hết rác từ các phòng khám tư nhân”. Phần lớn hơn 310 phòng khám tư nhân trong thành phố chưa chịu trách nhiệm đối với rác thải của mình, chưa thực hiện đúng quy trình thu gom, chuyển giao rác y tế cho công nhân vận chuyển rác. Họ nguỵ biện: lượng rác thải mỗi ngày quá ít, do thuê mặt bằng, do làm ngoài giờ hành chính, do đa số các nhân viên không biết nơi tiêu huỷ v.v...

Nhiều giải pháp nhưng chưa hiệu quả

Trước tình trạng chất thải rác thải y tế nguy hại lẫn lộn với rác sinh hoạt. Bộ Y tế đã phối hợp với Sở khoa học, Công nghệ và Môi trường, Sở Giao thông - Công chính, Sở Kế hoạch - Đầu tư, tiến hành điều tra trong các bệnh viện Hà Nội, đưa ra phương án xây dựng “xưởng đốt rác tập trung cho các bệnh viện trên địa bàn thành phố”...

Đến đầu tháng 4-2003, đã có 61 bệnh viện (chiếm khoảng 7%) trong cả nước được trang bị lò đốt rác. Các lò này hoạt động rất thất thường, hiệu quả thấp và giá thành cao do phải nhập, hầu hết là lò Hoval nhập từ Thuỵ Sĩ, giá thành khoảng 200.000 USD/chiếc; lò C-300 của Ixraen (công nghệ Mỹ), khoảng 100.000 USSD/chiếc. Giá thành xử lý 1 kg rác thải bệnh viện rất đắt, khoảng 8.000 đồng. Tại TP. HCM mỗi ngày các bệnh viện thải ra koảng 7,4 tấn rác, chi phí đốt tới hàng trăm triệu đồng. Hà Nội cũng đã đưa vào sử dụng một lò đốt rác y tế tại Tây Mỗ từ năm 1999, công suất 4 tấn/ngày, một tuần chỉ hoạt động từ 1-2 lần do giá thành quá cao, các bệnh viện không chịu nổi. Một số bệnh viện nhập lò đốt rác của Hàn Quốc (Viện Quân ly 108) song hầu như rất ít sử dụng vì không có hệ thống xử lý nên khi đốt phát tán mùi rất hôi, khó chịu, ảnh hưởng đến dân cư xung quanh. Một số đơn vị Việt Nam đã thử chế tạo lò đốt rác y tế nhưng chưa áp dụng vào thực tế hoặc áp dụng không hiệu quả nên không sử dụng được.

Rác thải, chất thải y tế nếu không có sự quản lý chặt chẽ sẽ rất nguy hại. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của người dân, nhân viên y tế về mức độ nguy hại của nó. Việc quản lý chất thải, rác thải y tế phải được tổ chức tập huấn cho nhân viên trong các bệnh viện về phương pháp phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý theo đúng quy định.

Hoàng Cường
Tiêu đề: Re: Bàn luận về rác thải y tế tấn công môi trường !!!
Gửi bởi: quatest1 trong Tháng Mười 24, 2007, 09:48:05 PM
Mua rác bệnh viện sản xuất đồ dùng sinh hoạt

Cả tấn vỏ thuốc, ống nhựa truyền dịch, xi lanh còn dính máu... từ Bệnh viện Việt Đức chưa qua xử lý, tiềm ẩn nguy cơ cao lây truyền bệnh dịch, đã được đưa ra ngoài tới tay các chủ hàng thu mua phế liệu.
(http://vnexpress.net/Vietnam/Phap-luat/2007/08/3B9F9B1D/rac1.jpg)
Vụ việc của Bệnh viện Việt Đức là "phát súng" đầu tiên nằm trong chuyên án được Cục Cảnh sát môi trường Bộ Công an xác minh nhiều tháng qua. Một loạt các bệnh viện lớn của Hà Nội cũng nằm trong "tầm ngắm" gồm: Bệnh viện K, Phụ sản trung ương, Phụ sản Hà Nội, Bạch Mai, Xanh Pôn, Thanh Nhàn và Đống Đa.

Chiều 10/8, kiểm tra một xe tải "đổ hàng" về điểm thu mua phế liệu của bà Triệu Thị Quý tại khu vực Triều Khúc, Thanh Trì, Hà Nội, Cục Cảnh sát môi trường, Cục Bảo vệ tài nguyên môi trường phát hiện chở gần 60 bao tải các loại, khoảng 700 kg. Rác chủ yếu là vỏ thuốc, ống nhựa truyền dịch, kim tiêm... Chiếc xe trên xuất phát từ điểm tập kết rác thải y tế của Bệnh viện Việt Đức.

Cùng thời điểm, lực lượng chức năng lại phát hiện một xe tải khác đi từ điểm trên về hướng phường Chương Dương, Hoàn Kiếm. Tang vật thu 16 bao tải rác thải y tế, nặng gần 300 kg.

Cục Cảnh sát môi trường cho biết, lái xe và chủ hàng khai đã mua rác thải của Bệnh viện Việt Đức với giá 6.000 đồng/kg nhựa, 1.500 đồng/chai lọ thủy tinh nhỏ. "Hợp đồng" mua bán đã thực hiện từ nhiều tháng nay.

Theo quy trình của chủ hàng, số rác này sau đó sẽ được bán lại cho các cơ sở nhỏ lẻ, chúng tiếp tục "chu du" đến nhiều tỉnh thành khác để tái chế hoặc tận dụng sản xuất đồ dùng sinh hoạt.

Bà Quý cho biết, 5 năm qua (từ 2002) riêng gia đình bà đã mua gần 300 tấn rác thải y tế của Bệnh viện Việt Đức như vỏ lọ thuốc bằng nhựa, thuỷ tinh các loại, dây chuyền bằng nhựa, túi ni lông chứa bơm tiêm, bơm tiêm… Toàn bộ số rác thải này đã được gia đình bà Quý nghiền thành bột, bán cho người khác để sản xuất đồ gia dụng.
Ngày 28/8, đại tá Lương Minh Thảo (Cục phó Cảnh sát môi trường) nhận định: "Rác thải y tế dùng sản xuất đồ dùng gia dụng có độ nguy hại rất cao. Điều nguy hiểm là một số kim tiêm sử dụng cho bệnh nhân nhiễm HIV nguy cơ lây nhiễm cao cũng nằm trong số rác thải này". Để nấu nhựa chỉ cần nhiệt độ khoảng 300 độ, trong khi muốn tiệt trùng vi khuẩn gây bệnh phải cần 1.000-1.500 độ C.

Khoảng 2-3 ngày, ôtô của Xí nghiệp đến nhận tất cả rác thải y tế tại điểm tập kết của bệnh viện. Bà Hương, nhân viên của khoa Chống nhiễm khuẩn cùng một nhân viên ở phòng Quản trị, một nhân viên Kế toán tham gia cân, viết hoá đơn và bàn giao.
Ngay sau khi xảy ra sự việc, bệnh viện đã cho bà Hương thôi việc.
  (Theo Tiền Phong)
Theo xác minh của cơ quan điều tra, Bệnh viện Việt Đức giao Khoa chống nhiễm khuẩn làm đầu mối thu gom, xử lý rác thải. Bệnh viện cũng ký hợp đồng với Xí nghiệp xử lý chất thải Công nghiệp - Y tế để thu gom, vận chuyển và xử lý. Ông Nguyễn Tiến Quyết, Giám đốc bệnh viện, cũng khẳng định điều này. Thậm chí, bệnh viện ngoại khoa đầu ngành này còn "nghiêm cấm cán bộ nhân viên bán rác thải y tế, kể cả bao nilon, vỏ hộp và sách báo cũ".

Trưởng khoa Chống khuẩn Lê Văn Bình thừa nhận, một số nhân viên khi được giao làm nhiệm vụ đã tự ý bán rác ra ngoài.

Vi phạm tại Bệnh viện Việt Đức được xác định là lần đầu, Thanh tra Bộ Tài nguyên - môi trường xử phát hành chính 20 triệu đồng theo thẩm quyền. Còn Cục cảnh sát môi trường tiếp tục xác minh những dấu hiệu vi phạm pháp luật, nếu đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ xử lý.

Hoàng Khuê
Tiêu đề: Nhựa làm từ rác thải y tế cực bẩn
Gửi bởi: quatest1 trong Tháng Mười 24, 2007, 09:49:01 PM
Sau sự kiện hàng trăm tấn rác y tế ở Bệnh viện Việt Đức bị bán để tái chế thành đồ nhựa gia dụng, các chuyên gia cảnh báo người dùng phải thứ nhựa này có thể gặp nguy hiểm, do nhiệt độ nấu nhựa không đủ diệt mầm bệnh.
Hàng trăm tấn rác thải y tế ở Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) đã bị bán trái phép ra ngoài để tái chế thành đồ nhựa gia dụng suốt 5 năm qua.

Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Khôi, Trưởng phòng Vật liệu polymer, Viện Hoá học, các khâu nấu, ép để tái chế nhựa chỉ cần nhiệt độ khoảng 160-170 độ C. Ở nhiệt độ này, mầm bệnh chưa thể bị tiêu diệt hoàn toàn. Một bác sĩ chuyên khoa truyền nhiễm thuộc Viện Các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới Quốc gia cũng khẳng định, phải ở nhiệt độ trên 200 độ C và sau 20 phút thì mới sạch bệnh hoàn toàn.

Các chuyên gia cũng cho rằng nguy cơ bệnh tật không chỉ có ở những người trực tiếp sử dụng đồ nhựa tái chế này, mà mầm bệnh còn lây lan ra môi trường xung quanh trong quá trình súc rửa, hoặc phát tán dưới dạng bụi, ảnh hưởng đến công nhân trực tiếp làm việc và người dân sống xung quanh cơ sở tái chế. 

Theo một cán bộ Công ty Môi trường đô thị Hà Nội, cách xử lý rác thải y tế duy nhất hiện nay là đốt ở nhiệt độ cao trong lò chuyên dụng. Để tránh ô nhiễm môi trường, rác thải của các bệnh viện tại Hà Nội hiện nay đều tập trung đến đốt tại công ty trên. Còn ngay tại bệnh viện, rác đã được phân loại theo hạng mục và mức độ nguy hiểm, đựng trong bao bì có ký hiệu khác nhau. Công ty Môi trường đô thị sau khi thu gom về chỉ việc cho tất cả vào lò, đốt ở nhiệt độ 1050 độ C. Tất cả các chất thải đều ra tro, mầm bệnh vi sinh cũng bị tiêu diệt.

Về vụ việc ở Việt Đức, một lãnh đạo bệnh viện cho biết đã quyết định đuổi việc bà Hương - nhân viên hợp đồng của khoa Chống nhiễm khuẩn, người đã tổ chức bán rác thải y tế ra ngoài. Bệnh viện sẽ chấn chỉnh việc thu gom loại chất thải này, yêu cầu tổ bảo vệ giám sát khi giao rác cho công ty môi trường đô thị. Theo một bác sĩ, mỗi tháng, Bệnh viện Việt Đức phải chi khoảng 100 triệu đồng cho dịch vụ xử lý rác.

H.H.
Tiêu đề: Được tái chế rác thải y tế?
Gửi bởi: quatest1 trong Tháng Mười 24, 2007, 09:50:30 PM
Được tái chế rác thải y tế?

TT - Sau sự cố bán rác thải bệnh viện tại nhiều bệnh viện, Bộ Y tế đã tiến hành tổng kiểm tra rác thải bệnh viện toàn quốc, đồng thời xây dựng qui chế quản lý rác thải y tế mới. Trong đó, Bộ Y tế dự định cho phép tái chế rác thải bệnh viện. 
(http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=223277)
Ông Lý Ngọc Kính, vụ trưởng Vụ Điều trị (Bộ Y tế), cho biết:

- Qua tổng kiểm tra, cả nước hiện có 80 lò đốt rác thải y tế đạt tiêu chuẩn. Trong tổng số 700 bệnh viện được kiểm tra, có trên 73% sử dụng lò đốt, trên 26% còn lại thiêu đốt rác thủ công hoặc chôn lấp tại chỗ, chủ yếu trong số 26% là bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện ở vùng sâu vùng xa. Điều bất cập nhất hiện nay là kinh phí thiêu đốt rác thải hầu như không có. Kinh phí xử lý rác thải bệnh viện ít nhất phải chiếm 5% tổng kinh phí cấp cho bệnh viện, nhưng hầu như lâu nay chưa có, gây khó khăn cho việc xử lý rác thải.

 

Hầu hết bệnh viện đều xử lý tiệt trùng nước thải, nhưng phần lớn là xử lý bằng hóa chất và xử lý đạt yêu cầu hay chưa thì phải kiểm tra. Tất nhiên nước thải bệnh viện xử lý không đảm bảo sẽ ảnh hưởng đến hệ thống nước ngầm. Ở bệnh viện, sử dụng hóa chất tiệt khuẩn là chủ yếu, còn độc chất thì chủ yếu từ các nhà máy. Theo tôi, độc chất nguy hiểm hơn do thấm sâu, khó phân hủy và có khả năng gây những bệnh như ung thư
 
* Thưa ông, qui chế quản lý rác thải bệnh viện mới cho phép tái chế rác thải bệnh viện. Vậy loại rác nào được tái chế, loại nào không?

- Chúng tôi đã xây dựng xong dự thảo này và đang xin ý kiến để ban hành sớm trong thời gian tới. Về nguyên tắc, những rác thải nào không gây lây nhiễm, không độc hại có thể được tái chế. Ví dụ như lọ huyết thanh, lọ thủy tinh, nilông, giấy... không dính máu, dịch.

Tuy nhiên, qui chế cũng yêu cầu bệnh viện giao đầu mối quản lý rác thải y tế cho khoa chống nhiễm khuẩn, rác thải trong danh mục được tái chế chỉ được bán cho các công ty, doanh nghiệp có chức năng và năng lực, không được bán cho người thu mua lưu động. Thời gian qua, có ý kiến đề nghị nên cho phép bán cả dây truyền dịch và một số loại rác khác, nhưng Bộ Y tế không đồng ý vì lo ngại máu có thể trào ngược lên dây truyền.

* Thưa ông, có nhiều ý kiến cho rằng sản phẩm gia dụng sản xuất từ nhựa tái chế có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng, đặc biệt là ở các nhóm sản phẩm như thìa, ca, chậu... Ý kiến ông ra sao?

- Thật ra nhựa sản xuất các sản phẩm phục vụ y tế là loại nhựa rất tốt. Trong số khoảng 400 tấn rác thải bệnh viện mỗi ngày, có 50 tấn là rác thải độc hại, số này phải nghiêm túc thiêu hủy. Số còn lại có thể sử dụng tái chế, nếu thực hiện đúng qui trình, đúng danh mục rác được phép tái chế, tại các nhà máy đủ tiêu chuẩn, tôi cho rằng sản phẩm từ nhựa tái chế không độc hại gì cho sức khỏe.

Vừa qua có một số ý kiến cho rằng khi thí nghiệm cắt mẩu thìa nhựa tái chế vẫn thấy vi khuẩn, chứng tỏ vi khuẩn này không chết khi nhiệt độ nấu nhựa rất cao. Thật ra những chiếc thìa đó sản xuất bằng công nghệ kém, sản phẩm còn những bọt không khí làm "ổ" cho vi khuẩn. Còn nhiệt độ nấu nhựa chỉ cần 70-80OC là vi khuẩn đã chết rồi. 

LAN ANH thực hiện
Tiêu đề: Re: O nhiem moi truong vi`.....
Gửi bởi: QuangThienLy trong Tháng Mười Một 05, 2007, 08:57:43 AM
thật bất ngờ thiệt. bò ợ mà cũng gây ô nhiễm thì tui bó tay.Dzậy thì Việt Nam con ô nhiễm dài dài mất thôi.
NHắc tới ô nhiễm mới nhớ bạn có biết gì về ô nhiễm trong khai thac khoang sản không
Tiêu đề: Re: O nhiem moi truong vi`.....
Gửi bởi: tuanle trong Tháng Mười Một 05, 2007, 09:00:31 AM
Không ngờ Việt Nam mình giàu mỏ khí metan quá ^^
Tiêu đề: Độc chất kim loại trong quá trình khai thac và sản xuất KIM LOẠI
Gửi bởi: QuangThienLy trong Tháng Mười Một 05, 2007, 09:05:51 AM
  Mình thấy trên diễn đàn này nói về mọi thứ từ thực phẩm cho đến các vấn đề ô nhiễm môi trường đều có cả. Mà đặc biệt vấn đề khai khoáng nó ô nhiễm như thế nào? Các chất độc mà quá trình này thải ra cho môi trường, chất nào thì độc nhất, ảnh hưởng tới các hệ sinh thái chung quanh vung như thế nào thi chưa thấy cả. Mình thấy trên vài trang wed khoa học thấy có một vài loại thực vật có khả năng xơi kim loại như một nước uống dinh dưỡng vậy đó. Các bạn có biết về vấn đề này không? Làm cho chỉ cho mình biết với.Cám ơn các bạn nhiều.
Tiêu đề: Cải thiện việc thu gom rác thải tại Việt Nam
Gửi bởi: kimphuc trong Tháng Mười Một 14, 2007, 10:40:42 AM
Ý tưởng của bạn hay đấy nhưng bạn co nghĩ phải lắp đặt nó ở đâu và như thế nào chưa. Công ty tôi đang làm về xử lý môi trường, dùng chế phẩm sinh học (En.Solutions) để xử lý mùi, hiệu quả xử lý đạt 70-75%. Chúng tôi đã làm ở nhiều nơi và được đánh giá rất cao
Tiêu đề: Công nghệ phân hủy sinh học
Gửi bởi: hongbangchu trong Tháng Mười Một 17, 2007, 08:35:40 PM
1 Phương pháp phân huỷ sinh học  
Ngày nay, các phương pháp xử lý môi trường cổ điển bao gồm đào và đốt chất ô nhiễm, hoặc bơm nước lên và xử lý trên bề mặt tỏ ra không thích hợp về mặt chính trị và kinh tế. Do đó, cần phát triển các kỹ thuật làm sạch môi trường mới. Phân huỷ sinh học là một trong các kỹ thuật như vậy.
Phương pháp phân huỷ sinh học sử dụng các sinh vật sống, thường là vi sinh vật, thực vật, và sản phẩm sinh ra từ chúng hoặc kết hợp các yếu tố trên để phân huỷ, khử độc hay cô lập các chất độc trong môi trường. Ph­ương pháp này đã được nghiên cứu từ những năm 1940 và thành tựu công nghệ phân huỷ sinh học xử lý ô nhiễm dầu xuất hiện đầu tiên vào năm 1967. Phân huỷ sinh học thích hợp trong xử lý đất, cặn, nước hoặc ngay cả không khí, dựa trên hoạt tính enzyme to lớn của sinh vật sống, thường là vi sinh vật để xúc tác quá trình phân huỷ các chất độc hoặc chuyển chúng thành dạng ít độc hơn. Vi sinh vật được ưu tiên sử dụng do khả năng trao đổi chất rất đa dạng của chúng. Một số có khả năng phân huỷ các chất rất độc và khó phân huỷ như hydrocarbon trong dầu mỏ và hydrocarbon đã halogen hoá của các ngành công nghiệp. Sản phẩm cuối cùng của phân huỷ sinh học là nước và CO2 không gây độc cho môi trường cũng như các sinh vật khác .
Nhiều giải pháp kỹ thuật đã phát triển để thích ứng với các kiểu ô nhiễm khác nhau. Đánh giá cộng đồng vi sinh vật có khả năng phân huỷ các chất ô nhiễm là quan trọng nhất để quyết định kỹ thuật tối thích.
Có thể tiến hành xử lý ex situ hoặc in situ. Thủ tục ex situ lấy chất ô nhiễm từ vùng ô nhiễm ban đầu để xử lý ở nơi khác. Cách tiếp cận in situ xử lý ô nhiễm tại chỗ.

2.1.1 Phân huỷ sinh học In situ
Phân hủy sinh học in situ gồm những kỹ thuật khác nhau nhằm giảm tối đa các tác động vào vùng ô nhiễm. Với các kỹ thuật này, không cần phải khai quật vùng ô nhiễm cũng như các hệ thống bơm xử lý phức tạp trên quy mô sâu và rộng. Điều này góp phần hạ giá thành và có thể giải quyết các vấn đề tồn tại trong những cách tiếp cận khác. Hầu hết quá trình in situ kích thích cộng đồng vi sinh vật bản địa, hoạt hoá khả năng trao đổi chất và khả năng phân huỷ chất ô nhiễm của chúng.
Có thể chia phân huỷ sinh học in situ làm ba nhóm chính là kích thích sinh học, làm giàu sinh học và xử lý kỵ khí. Cách phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối, trên thực tế có thể tiến hành kết hợp các phương pháp nhằm thu hiệu quả xử lý tối đa.

2.1.1.1 Kích thích sinh học  (biostimulation)
Kích thích sinh học là phương pháp thúc đẩy sự phát triển và hoạt tính trao đổi chất của tập đoàn vi sinh vật bản địa có khả năng sử dụng các chất ô nhiễm bằng cách tác động tới các yếu tố môi trường như độ ẩm, pH, nồng độ oxy, chất dinh dưỡng v.v.

Kích thích sinh học thường được sử dụng cho những vùng ở đó: cộng đồng vi sinh vật phân huỷ sinh học tự nhiên các chất ô nhiễm và các điều kiện môi trường tại đây hoạt động với hiệu quả và hoạt tính thấp.
ưu điểm của phương pháp này là chi phí thấp. Tuy nhiên, nó chỉ có hiệu quả với một số vùng và có thể không thu được kết quả như mong muốn.
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu công nghệ 2001-2005
Gửi bởi: hongbangchu trong Tháng Mười Một 17, 2007, 08:43:13 PM
Một số kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ giai đoạn 2001-2005 và định hướng hoạt động giai đoạn 2006-2010 của Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá
[/color]
TS. Bùi Huy Hiền

1. Kết quả khoa học – công nghệ giai đoạn 2001-2005
Trong giai đoạn 2001-2005 từ các đề tài cấp Bộ, các đề tài hợp tác Quốc tế Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá đã tập trung nghiên cứu ứng dụng và đạt các kết quả nổi bật được thể hiện dưới đây về các lĩnh vực: phát sinh học và phân loại đất; bảo vệ, nâng cao độ phì nhiêu; nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phân bón, cũng như bảo vệ môi trường đất nói riêng và môi trường nông nghiệp nói chung. 
- Viện đã xây dựng bổ sung hệ phân loại đất Việt Nam (VN) áp dụng cho việc lập bản đồ đất tỷ lệ trung bình và lớn, soạn thảo ra hệ phân loại đất VN chi tiết cho các cấp phân vị nhằm sử dụng cho việc lập các bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 và lớn hơn. Trước đây, hệ phân loại đất VN mới dừng ở mức tỷ lệ bản đồ trung bình và nhỏ, dựa trên học thuyết Dokutraev (Phát sinh học đất), chủ yếu là định tính. Do đó hệ phân loại VN mới đang xây dựng này được dựa trên cơ sở các hệ phân loại tiên tiến trên thế giới như: FAO-UNESCO, Soil Taxonomy... nên có nhiều ưu điểm như: định lượng hóa được các chỉ tiêu phân cấp, dễ hiểu và dễ áp dụng trong khi xây dựng bản đồ đất tỷ lệ lớn.
- Viện đã tập trung nghiên cứu quản lý đất dốc theo lưu vực, trong đó chú trọng đến các biện pháp kỹ thuật sử dụng đất, bón phân cùng các biện pháp canh tác kèm theo nhằm ổn định được độ phì nhiêu đất, tăng năng suất cây trồng, tăng sản lượng trên đơn vị diện tích đất. Đã nghiên cứu xác định được nhiều phương pháp quản lý xói mòn đất dốc. Xác định được các phương pháp qui hoạch sử dụng đất, trong đó qui hoạch sử dụng đất theo phương pháp phân tích hệ thống, LUPAS là phương pháp mang tính "mở", bài toán "động" để lựa chọn, tạo được nhiều kịch bản để địa phương chọn lựa cho phù hợp về địa hình, đất đai cũng như điều kiện kinh tế xã hội, đã được áp dụng ở Bắc Cạn, Lào Cai, Yên Bái, v.v… và đã được một số cơ quan khác (Viện Lúa ĐB sông Cửu Long, Trung tâm KHCN phía Nam) áp dụng ở một số tỉnh phía Nam, v.v…
- Sử dụng phân bón gắn với quản lý độ phì nhiêu đất cũng đã được chú trọng nghiên cứu và đạt được các kết quả có tính khả thi cao. Đã tổng kết được kinh nghiệm của thế giới và khu vực về quản lý và kiểm soát phân bón; đánh giá tình hình sản xuất, nhập khẩu, thị trường và sử dụng, hiện trạng quản lý và kiểm soát phân bón ở nước ta, dự báo được nhu cầu phân bón ở Việt Nam đến năm 2010-2015 và định hướng phát triển ngành công nghiệp phân bón ở Việt Nam đến năm 2010-2020; từ đó dự thảo được 2 quy chế về “Kinh doanh, vận chuyển, sử dụng phân bón” và “Bảo vệ môi trường và an toàn sức khoẻ trong sản xuất phân bón”. Ngoài ra cũng dự thảo được “Khung chiến lược kiểm soát phân bón đến năm 2010 ở Việt Nam”, tất cả các nội dung trên đã được thông báo trong các cuộc họp để lấy ý kiến để soạn thảo Nghị định 113/2003/NĐ và đã được Thủ tướng Chính phủ ký ngày 07 tháng 10 năm 2003; đã đóng góp để Bộ NN và PTNT ban hành Quyết định số 71/2004/QĐ-BNN ngày 8 tháng 12 năm 2004 về “Ban hành Quy định khảo nghiệm, công nhận phân bón mới” và Quyết định số 72/2004/QĐ-BNN ngày 8 tháng 12 năm 2004 về “Ban hành Quy định quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón”.
- Đã xây dựng được qui trình xây dựng bản đồ sử dụng phân bón cho một số cây trồng chính qui mô vùng, tỉnh và cấp huyện. Đã xác định được liều lượng phân bón, bón phân cân đối cho các cây trồng trọng điểm như: cà phê, tiêu, lúa, chè, mía, v.v… Đã nghiên cứu cân bằng dinh dưỡng trên cơ sở nguồn cung cấp dinh dưỡng từ: nước tưới, nước mưa, phân bón, tàn dư hữu cơ và các quá trình mất dinh dưỡng từ đất: dinh dưỡng cần để cây sinh trưởng và phát triển thân, cành, lá, rễ để tạo năng suất, dinh dưỡng mất do rửa trôi, xói mòn và bay hơi của N và cố định P. Đã xác định công thức phân bón hợp lý để nâng cao hiệu lực phân bón, tiết kiệm phân khoáng, giảm thiểu ô nhiễm đối với môi trường. Đề xuất lượng phân bón cho cơ cấu 4 vụ cây trồng/năm trên đất bạc màu để tiết kiệm 20% lượng phân bón. Đề xuất lượng phân bón hàng năm cho cà phê vối kinh doanh trên đất bazan Tây Nguyên để đạt năng suất khoảng 4 tấn nhân/ha là: N: 220-230kg, P2O5: 75-80kg, K2O: 230-240kg, phân chuồng: 5 tấn, Ca: 60-70kg, Mg: 30-40kg/ha và đã tiết kiệm 20% lượng phân bón theo qui trình (tương đương 5 triệu đồng/ha).
- Đã nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong cơ cấu cây trồng có lúa nhằm nâng cao độ phì nhiêu đất, giảm sử dụng phân khoáng khi mà giá phân bón ngày càng tăng. Các nghiên cứu được tiến hành trên các loại đất: bạc màu, cát biển, đất phù sa [PS sông Hồng, sông Dinh (Khánh Hoà), sông Cửu Long (trên nền phèn-tại Cần Thơ)] đối với 2 cơ cấu trong hệ thống cây trồng có lúa: (1) Lúa xuân-Lúa mùa-Ngô đông (Bắc Giang, Hà Tây, Nghệ An) và (2) Lúa đông xuân-Lúa xuân hè-Lúa hè thu (Khánh Hoà, Cần Thơ). Vùi phụ phẩm nông nghiệp đã cải thiện độ phì nhiêu đất (hàm lượng chất hữu cơ, đạm, lân và kali dễ tiêu, dung tích hấp thu, thành phần cơ giới, độ xốp, độ ẩm, vi sinh vật tổng số, vi sinh vật phân giải xenlulô, vi sinh vật phân giải lân và vi sinh vật cố định đạm), đã tăng năng suất 6-12% so với không vùi. Vùi  phụ phẩm nông nghiệp có thể thay thế lượng phân chuồng cần bón cho cây trồng trong cơ cấu có lúa; giảm được 20%  lượng phân đạm, lân và 30% lượng phân kali mà năng suất vẫn không giảm so với không vùi phụ phẩm. Hiệu quả kinh tế tương đương với bón đầy đủ phân chuồng và phân khoáng NPK và cao hơn 5% so với chỉ bón phân khoáng NPK, lợi nhuận tăng 5-12% so với không vùi phụ phẩm. Trước khi vùi cho lúa xuân, thân lá ngô phải cho vào máy cắt dài 5 cm và truớc khi ủ cần bổ sung thêm 20 kg vôi và 1 kg  urê/tấn  thân lá ngô tươi. Thân lá ngô tươi được ủ với chế phẩm vi sinh trong thời gian 25 ngày sau đó mới đem vùi. Vùi  kỹ sau 20-25 ngày thì có thể cấy lúa. Cũng như phụ phẩm của cây ngô nếu vùi rơm rạ cho lúa thì cũng cần bón thêm 20 kg vôi + 1 kg  urê /1 tấn rơm rạ tươi khi gặt. Vùi  kỹ sau 20-25 ngày có thể cấy. Vùi rơm rạ cho ngô đông cần thêm chế phẩm vi sinh vật +20 kg vôi + 1 kg  urê / 1 tấn rơm rạ tươi khi gặt.
- Viện cũng đã nghiên cứu để tạo các chế phẩm có tác dụng làm tăng năng suất, chất lượng nông sản, cải thiện độ phì nhiêu đất như: sử dụng Bentonite để cải tạo đất và nâng cao hiệu quả phân bón; Nghiên cứu thành phần, đặc tính các giá thể làm bầu ươm cây giống lâm nghiệp, cây công nghiệp, rau, hoa cây cảnh và các biện pháp kỹ thuật kèm theo để nâng cao chất lượng cây giống trong bầu ươm. Đã xác định được các giá thể có đất và không đất để sản xuất cây giống trong bầu đối với cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rau, cây hoa, cây cảnh. Đã đưa ra các thông số kỹ thuật của từng giá thể như: pHKCl, pHH2O, dung trọng, dung tích hấp thu, hàm lượng hữu cơ, sức chứa ẩm tối đa; tỷ lệ chất độn hữu cơ và đất; hàm lượng N, P, K tổng số; lân và kali dễ tiêu cho từng loại cây trồng. Đã xây dựng được qui trình sản xuất giá thể bầu ươm cây giống theo hướng công nghiệp cho: giống cây lâm nghiệp phía Bắc và phía Nam, các giống cà phê, chè, rau (trong đó có cả trồng rau an toàn), các loại hoa.
- Tạo được các chế phẩm hữu cơ giàu axit amin, các chế phẩm từ vi sinh vật để nâng cao năng suất cây trồng và phẩm chất nông sản. Đã nghiên cứu thu thập, phân lập các chủng nấm men sinh IAA và GA3 để tạo chế phẩm kích thích sinh trưởng cây trồng. Chế phẩm làm tăng năng suất cải ngọt 20- 44%, giảm lượng NO3- trong thân và lá từ 4-16%. Đã tăng năng suất chè 18-33% và tăng chất lượng chè; các mẫu chè đều đạt hoặc khá khi đánh giá cảm quan.
- Đã xây dựng được chất lượng nền môi trường của các nhóm đất: phù sa, đất xám, đất đỏ. Đã cảnh báo chua hoá đất phù sa, nguy cơ phá huỹ kết cấu đất và phú dưỡng nguồn nước, hơn 68% đất phù sa của Việt Nam đang trên đường chua hoá. Dung tích hấp thu giảm, trước đây là 13,25 cmolc/kg, hiện nay chỉ còn 10,71 cmolc/kg. Tình hình sử dụng quá nhiều phân đạm, phân lân, ít sử dụng phân kali đối với một số nông sản hàng hoá lớn. Đất phù sa cũng như các nhóm đất khác hiện nay chưa có vấn đề về các kim loại nặng. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chuẩn về các tính chất nền đất phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Đã thu thập, tuyển chọn, lưu giữ và cung cấp nguồn gen vi sinh vật gồm 640 chủng cho nghiên cứu khoa học và sản xuất. Nghiên cứu và phát triển vào sản xuất 6 sản phẩm phân bón vi sinh vật, 2 sản phẩm thuốc diệt chuột sinh học và 1 chế phẩm vi sinh vật chế biến nguyên liệu hữu cơ.
- Đã ban hành- đang sử dụng 19 Tiêu chuẩn ngành nông nghiệp Việt Nam về phân tích phân bón, trong đó có 13 tiêu chuẩn đã soát xét lần 2 và 6 tiêu chuẩn biên soạn lần đầu. Đã xây dựng 5 Tiêu chuẩn Việt Nam và 12 Tiêu chuẩn ngành về phân bón vi sinh vật và nguồn gen vi sinh vật nông nghiệp.
2. Định hướng hoạt động giai đoạn 2006-2010
     - Nghiên cứu đất, gắn với nghiên cứu cơ bản, về ảnh hưởng của các điều kiện phát sinh, phát triển đến đặc tính các nhóm đất Việt Nam. Đánh giá thực trạng tính chất đất sau một thời gian dài sử dụng các nhóm đất, loại đất “có vấn đề” và đề xuất biện pháp sử dụng hợp lý hơn.
   - Xây dựng mạng lưới quốc gia về quỹ gen vi sinh vật nông nghiệp. Khai thác, sử dụng tài nguyên vi sinh vật đất trong phát triển nông lâm nghiệp bền vững. Nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng nguồn tài nguyên vi sinh vật bằng các kỹ thuật sinh học phân tử.
    - Nghiên cứu quản lý dinh dưỡng tổng hợp quan hệ đồng bộ với quản lý tổng hợp cây trồng để xây dựng qui trình canh tác hướng tới năng suất kinh tế tối đa đối với một số cây trồng chính. Nghiên cứu tạo các chế phẩm vừa góp phần cải thiện độ phì nhiêu đất vừa làm tăng năng suất, phẩm chất nông sản.
    - Quản lý môi trường đất thông qua quan trắc môi trường đất, dự báo ô nhiễm môi trường và xây dựng các biện pháp xử lý môi trường đất.
Tiêu đề: MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT VẬT LIỆU KIM LOẠI - VẤN ĐỀ VÀ GIẢI
Gửi bởi: hongbangchu trong Tháng Mười Một 18, 2007, 07:07:54 PM

  Trích theo báo khoa học và đời sông.
MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT
VẬT LIỆU KIM LOẠI  - VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP

Những năm qua nhiều làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh được khôi phục và phát triển. Sự phát triển của các làng nghề đã đem lại hiệu quả khá cao trên nhiều phương diện. Tuy nhiên sự phát triển các làng nghề, trong đó có các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại do nhiều nguyên nhân đã dẫn đến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Phân tích những yếu tố gây ô nhiễm môi trường ở các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại và những giải pháp khắc phục là nội dung chủ yếu mà tác giả muốn truyền tải tới bạn đọc.

Sự khôi phục và phát triển của các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại trong những năm gần đây đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong sự phát triển kinh tế- xã hội (KT-XH) của các địa phương, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Những ưu điểm mang tính đặc thù của sản xuất làng nghề như sự linh động trong quản lý sản xuất-kinh doanh, sự phân công tự nhiên giữa các hộ về cung cấp và bao tiêu nguyên liệu, sản phẩm, đã tạo điều kiện thúc đẩy quá trình cạnh tranh và hỗ trợ lẫn nhau giữa các hộ sản xuất. Các sản phẩm từ làng nghề chiếm một tỉ trọng đáng kể trên thị trường trong và ngoài nước, đồng thời, góp phần quan trọng trong việc tận dụng phế thải kim loại trên phạm vi toàn quốc. Trong những năm tới, sản xuất sắt thép xây dựng ở các làng nghề còn có nhiều triển vọng phát triển.

Tuy nhiên, những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng cũng đang trở thành những vấn đề bức xúc ở các khu vực này, mà các nguyên nhân chính gây nên tình trạng này là:

- Công nghệ sản xuất lạc hậu; điều kiện cơ sở hạ tầng, trình độ lao động và mặt bằng dân trí thấp; những hạn chế về khả năng đầu tư, điều kiện cạnh tranh trên thị trường ... làm tăng mức phát thải, lãng phí vật tư và ô nhiễm môi trường.

- Lực lượng lao động thủ công còn chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động ở các làng nghề, điều đó góp phần giảm giá thành sản phẩm nhưng lại làm tăng áp lực về dân số ở khu vực làng nghề, tác động tới môi trường KT-XH.

Những hạn chế trong tổ chức quản lý, ý thức và trách nhiệm của cộng đồng đã cản trở việc thực hiện các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường (BVMT) ở các làng nghề. Trong khi đó chúng ta chưa có các biện pháp quản lý và xử lý môi trường hiệu quả, nhất là các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại. Có thể lấy các kết quả nghiên cứu môi trường ở khu vực sản xuất sắt thép xây dựng xã Châu Khê, huyện Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh làm ví dụ.

Đến nay, ở xã Châu Khê, quy mô của làng nghề sắt thép Đa Hội trước đây đã phát triển ra các làng lân cận như Đa Vạn, Song Tháp, Trịnh Xá, Trịnh Nguyễn, Đồng Phúc, với 973 hộ sản xuất bao gồm các nghề : Đúc phôi thép, cán thép, mạ, làm đinh, đan lưới thép v.v... Nguyên liệu đầu vào chủ yếu là sắt phế liệu được thu gom từ nhiều nguồn khác nhau trên toàn quốc, một số nhập từ Nhật Bản qua cảng Hải Phòng. Tổng sản lượng sắt thép các loại đạt gần 1000 tấn/ngày. Số lao động thường xuyên trong khu vực này khoảng 5000 đến 7000 người, trong đó lao động ở các nơi khác đến làm thuê chiếm trên 50%. 

Hầu hết diện tích đất ở và phần đất hai bên trục đường liên xã, dọc theo sông Ngũ Huyện Khê đã được sử dụng làm mặt bằng sản xuất. Các xưởng được xây dựng rất sơ sài, đồng thời là nơi tập kết nguyên - vật liệu, sản phẩm. Diện tích thao tác chật hẹp; hệ thống điện nước lắp đặt tuỳ tiện, không an toàn; đường giao thông chính của xã xuống cấp nặng và thường xuyên ách tắc do hoạt động vận chuyển quá tải; không có hệ thống cấp nước, thu gom nước thải từ các hộ sản xuất; các loại chất thải đều được dân đổ ra phía sau các nhà xưởng.

Máy móc, thiết bị sử dụng trong các làng nghề hầu hết là loại cũ, mua từ Trung Quốc hoặc mua thanh lý từ các nhà máy của Việt Nam, một số là sản phẩm tự tạo. Các thiết bị này lạc hậu, chắp vá, năng suất thấp và mức độ gây ô nhiễm môi trường cao.

Với sự phát triển về qui mô, cơ sở hạ tầng yếu kém, công nghệ lạc hậu cùng với ở đây không có một biện pháp giảm thiểu tác động môi trường nào dù là đơn giản nhất được áp dụng nên môi trường ở Châu Khê đã bị tác động khá nặng nề.

Thứ nhất: Tác động tới môi trường đất, nước, không khí.

Tải lượng các loại chất thải từ các hoạt động sản xuất trong 1 ngày của các làng nghề xã Châu Khê qua điều tra cho thấy: Xỉ kim loại, xỉ than từ 40 ( 50 tấn, nước thải từ 2600 đến 2700 m3, khí thải (chủ yếu là CO2) 255 tấn, bụi khoảng 6 tấn.

 Môi trường đất chịu tác động của các chất độc hại từ các nguồn thải đổ bừa bãi và nước mưa bị nhiễm bẩn ngấm xuống. Dải đất canh tác phía sau các hộ sản xuất đều bị bỏ hoang do ô nhiễm. Hàng năm mỗi hộ lấn ra xung quanh khoảng 20-50 m2 bằng các loại chất thải rắn.Ước tính trong khoảng 5 đến 7 năm tới, diện tích mặt nước và  đất canh tác liền kề các hộ sản xuất sẽ bị san lấp hoàn toàn hoặc không sử dụng được. Nước thải, nước mưa mang theo các chất độc hại làm ô nhiễm hệ thống nước mặt, nước ngầm

Môi trường không khí tại khu vực làng nghề bị ô nhiễm nặng do bụi và khí thải, tiếng ồn, nhiệt độ cao từ các lò đúc, cán thép, máy cắt cóc, dập đinh, dệt lưới, xưởng mạ và các hoạt động vận tải.

Thứ hai: Tác động tới môi trường sinh thái-cảnh quan.

Các hoạt động sản xuất của làng nghề đã làm ô nhiễm và thay đổi hoàn toàn môi trường sinh thái, cảnh quan khu vực. Vật tư, sản phẩm và các loại chất thải đổ xung quanh nơi sản xuất và cả trên đường giao thông; các nhà ở và xưởng xen nhau, bụi, mức ồn cao và liên tục..., đã tạo nên một khung cảnh hỗn loạn và ô nhiễm .

Lòng sông Ngũ Huyện Khê, đất canh tác và các ao hồ trong làng đã hoặc đang bị lấp dần bởi chất thải, không sử dụng được vào mục đích nào khác. Trong làng hầu như không còn cây bóng mát. ở một số ao nuôi cá đã có hiện tượng cá bị chết hàng loạt sau khi bơm nước từ sông Ngũ Huyện Khê vào .

Thứ ba: Môi trường lao động.

An toàn và sức khoẻ của nguời lao động trong làng nghề không được đảm bảo. Số giờ làm việc liên tục trung bình mỗi ngày 10 – 12 giờ trong điều kiện diện tích làm việc chật hẹp, mức ô nhiễm cao. Trong các nhà xưởng không có sự chuẩn bị nào cho an toàn cháy nổ, mặc dù ở khắp làng đều tiềm tàng những nguy cơ gây cháy nổ do điện, lò, hoá chất, xăng, dầu v.v... Trong các nhà mạ kẽm, các loại hoá chất độc hại (a xit, muối gốc xyanua, muối gốc crôm) không được bảo quản đúng quy định.

Hầu hết công nhân làm việc trong điều kiện thiếu hiểu biết về nghề nghiệp và an toàn lao động; không có trang bị bảo hộ lao động, do đó sức khoẻ suy giảm nhanh, tai nạn lao động xảy ra hàng ngày (nổ lò, điện giật, bị thương, có trường hợp chết người). ởó các lò nấu thép, xưởng mạ, sau thời gian làm việc lâu nhất là 5 năm, người lao động buộc phải bỏ việc vì không đủ sức khoẻ.

Thứ tư: Tác động tới sức khoẻ cộng đồng.

Tất cả các yếu tố trên tác động trực tiếp và thường xuyên tới người lao động và dân cư trong làng nghề. Các loại bệnh thần kinh, đường hô hấp, ngoài da, khô mắt, điếc,... chiếm tỷ lệ trên 60% tổng số dân cư trong khu vực làng nghề. Đặc biệt là tỷ lệ mắc các bệnh trên ở nhóm người tham gia sản xuất và không tham gia sản xuất tương đương nhau.

Tóm lại, từ các kết quả nghiên cứu môi trường ở các làng nghề ở xã Châu Khê cũng như ở một số tỉnh khác ( Hà Tây, Nam Định ) đã cho thấy rõ các vấn đề môi trường bức xúc tại các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại nói chung ở nước ta.

Để khắc phục tình trạng này, chúng ta phải thực hiện tốt việc quản lý và BVMT. Chúng tôi cho rằng các địa phương có làng nghề cần sớm tiến hành những biện pháp về quản lý và kỹ thuật cụ thể, phù hợp với quy mô và khả năng của mình.

Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại:

Một là, về biện pháp quản lý:

Các địa phương có làng nghề cần có phương án tách khu sản xuất ra khỏi khu dân cư, quy hoạch xây dựng hợp lý khu công nghiệp  làng nghề mới và có kế hoạch quản lý tốt môi trường . Cụ thể là:

+ Đề ra những quy định về quản lý, BVMT và an toàn lao động trong các làng nghề; định mức và thu lệ phí môi trường đối với các hộ, tổ hợp sản xuất để triển khai và duy trì các hoạt động quản lý và BVMT của xã.

+ Thành lập đội vệ sinh môi trường của làng nghề (xã nghề) để kiểm tra thường xuyên tình trạng môi trường trong khu vực sản xuất, thu gom chất thải; xử lý bụi giao thông v.v...

+ Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm BVMT và sức khoẻ cộng đồng cho các chủ sản xuất, người lao động và nhân dân;

+ Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra môi trường làng nghề; xử phạt thích đáng đối với các trường hợp vi phạm các quy định về môi trường.

+ Triển khai  áp dụng các công nghệ tiến bộ trong sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm lượng phát thải, áp dụng biện pháp quản lý và xử lý chất thải đơn giản, rẻ tiền, để các hộ tư nhân có thể sử dụng.

+ Từng bước hoàn phục môi trường ở khu dân cư, trả lại cảnh quan sạch đẹp cho làng, xã.

Hai là, các biện pháp kỹ thuật:

·   Đối với các lò đúc, cán, ủ kim loại: Xây dựng hệ thống xử lý bụi và khí SO2 bằng tháp rửa, dùng dung dịch nước vôi; quy định các bãi tập kết xỉ than, xỉ kim loại để sử dụng làm vật liệu san nền.

·   Đối với các xưởng mạ kẽm: Xây dựng hệ thống bể xử lý nước thải đơn giản; các thùng chứa a xit, hoá chất mạ phải được bảo quản đúng quy định (có nắp kín, có nhãn ghi tên hoá chất rõ ràng); cặn mạ kẽm phải được chôn lấp theo quy định đối với chất thải độc hại.

·   Bố trí tập trung các hộ có máy cắt kim loại vào một khu cách xa các khu khác để giảm tiếng ồn cho xung quanh; đặt các quạt thông gió tại các vị trí công nhân đổ khuôn, nấu thép, các lò ủ thép, máy cắt kim loại, các nhà mạ kẽm ; trang bị bảo hộ lao động cần thiết và thích hợp cho công nhân ở từng khâu sản xuất.

·   Xử lý nước thải mạ kẽm theo phương pháp tương đối đơn giản là kết tủa, huyền phù, sau đó lắng và lọc bùn, cặn trong hệ thống bể xử lý sử dụng nước tuần hoàn.

Ngoài ra, cần nâng cấp và thường xuyên tu sửa các đoạn đường vận chuyển. Tổ chức phun nước chống bụi nhiều lần trong ngày. Đình chỉ hoạt động của các phương tiện vận chuyển có chất lượng quá kém. Các cơ sở sản xuất phải xây mái che và bờ ngăn nước cho các bãi chứa nguyên vật liệu, sản phẩm để giảm tối thiểu lượng nước mưa chảy tràn qua.

 Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề sản xuất vật liệu kim loại là một mô hình sản xuất mang tính cộng đồng cao, trong những năm qua đã góp phần đáng kể vào sự phát triển KT-XH của các địa phương. Đây là một mô hình kinh tế cần được khuyến khích và hướng dẫn để phát huy những tính tích cực, đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực tới môi trường và xã hội.

 Để phát triển mô hình làng nghề theo mục tiêu phát triển bền vững, các cơ quan quản lý ở các địa phương cần có kế hoạch cụ thể trong việc thực hiện các biện pháp quản lý và các biện pháp kỹ thuật phù hợp để giảm thiểu tác động môi trường trong khu vực làng nghề một cách có hiệu quả. ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần hỗ trợ một phần cho các địa phương giải quyết một số  vấn đề về cơ sở hạ tầng.
Tiêu đề: Duy Trì Môi Trường Sống
Gửi bởi: hongbangchu trong Tháng Mười Một 19, 2007, 08:37:17 PM
Sông vùng Nhiệt đới cung cấp một tỉ lệ lớn về đa dạng sinh học, nó có thể sánh với biển nơi hệ thống sinh học đa dạng nhất. Điều này, một phần là do hệ sinh thái ở đây cực kỳ phức tạp. Các dòng sông này từ lâu đời cung cấp lượng thủy sản rất quan trọng nhưng chưa đựợc đánh giá đúng mức.
Thủy sản ở lưu vực sông Mê Công là một trong những sông có sản lượng cao nhất thế
giới. Nguồn lợi mang tính đa dạng cao lại gần với nhiều vùng cư dân nông thôn dẫn đến mức độ tham gia vào họat động nghề cá của người dân nơi đây rất cao. Nghề cá thương mại lớn hiện diện trong lưu vực, nhưng do hầu hết người dân thương vừa làm nông vừa đánh bắt thủy sản, vì thế họ tham gia vào nghề cá theo mùa vụ hoặc vào thời gian nông nhàn, và sử dụng các lọai ngư cụ nhỏ. Nếu nguồn lợi bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học sẽ bị suy kiệt theo, dẫn đến có ít cơ hội hơn cho họat động nghề cá, mất đi nguồn sinh kế và nhìn chung ảnh hưởng xấu đến lĩnh vực kinh tế xã hội.Cần áp dụng những cảnh báo đối với nghề cá nước ngọt từ những kết luận được rút ra nghề cá biển. Những chức năng này khác nhau trong một vài phương diện đáng chú ý. Sự đe dọa về đa dạng sinh học đang gia tăng từ bên trong ngành bao gồm việc khai thác quá mức và việc sử dụng các ngư cụ hủy diệt. Tuy nhiên, mối đe dọa lớn nhất về đa dạng sinh học lại đến từ bên ngoài nghề cá, từ những họat động làm mất đi môi trường sống trên diện rộng, đơn giản hóa hệ sinh thái và làm giảm chất lượng cũng như trữ lượng nước.Các giải pháp hiệu quả cho các vấn đề này bên trong nghề cá đó là thực hiện việc Quản lý Phối hợp, mô hình này đã được triển khai và trong một vài trường hợp đã đem lại hiệu quả. Việc phát triển mạnh các hệ thống phân chia nguồn lợi đang sử dụng ở Mê Công và những nơi khác (lô đánh bắt), cho phép kiểm sóat việc tự do sử dụng nguồn lợi và là công cụ có tiềm năng quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Tuy nhiên, điều này cần nghiên cứu nhiều hơn nữa trước khi đưa ra phổ biến rộng rãi.
Việc nuôi thủy sản cũng nên được quản lý để tránh ảnh hưởng đến đa dạng sinh học.
Điều cốt lõi trong vấn đề này là môi trường sống bị mất đi do việc biến các khu ngập nước thành khu nuôi thủy sản, và việc di nhập rộng rãi các lòai cá ngọai lai và các dòng, phẩm giống địa phương thì kết quả trực tiếp là mất đi sự đa dạng về di truyền. Cách sữa chữa hữu hiệu cho tương lai là áp dụng các qui tắc hướng dẫn sử dụng dùng trong việc đánh giá trước khi di nhập.
Kết luận chính về đa dạng sinh học ở Mê Công là lợi ích hiện hữu của nghề cá cung cấp lí luận mạnh mẽ về kinh tế cũng như xã hội trong việc ngăn chặn và làm giảm thiểu sự suy thóai hệ sinh thái. Nhận thức vấn đề thực tế này môt cách đầy đủ hơn trong chiến lược phát triển nguồn lợi sẽ củng cố các lí luận nhằm duy trì đa dạng sinh học thủy sinh ở Mê Công.

Nhiều người cho rằng trong các môi trường thủy sinh thì môi trường biển, đặc biệt là các rạn san hô là nơi mà đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng nhất. Tuy nhiên, thực tế không như vậy. Các lòai sinh vật nước ngọt bị mất đi nhiều hơn rất nhiều. Sách Đỏ của IUCN về cá xương- dữ liệu lưu trữ về các lòai tuyệt chủng, các lòai bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng chỉ ra rằng không có một lòai cá biển nào bị tuyệt chủng so với con số 96 lòai từ nước ngọt. Sự mất mát của các lòai cá ở các cấp độ khác nhau chứng minh rằng đa dạng sinh học trong môi trường nước ngọt bị đe dọa nhiều hơn (biểu đồ 1). Điều đáng chú ý là Sách Đỏ này có ghi chép 1 trong 5 lòai cá biển đang có nguy cơ bị tuyệt chủng cao là do việc khai thác quá mức, nhưng chỉ có 1 trong 20 lòai cá nước ngọt cũng do nguy cơ khai thác quá mức. Môi trường bị suy thóai (môi trường sống mất đi và bị ô nhiễm), chứ không phải do việc khai thác quá mức, nhìn chung đấy là một vấn đề chính,mà trong môi trường nước ngọt vấn đề này còn nghiêm trọng hơn nhiều.

Có một số cơ sở để lạc quan qua các vấn đề liên quan đến nước ngọt. Nhận thức đang
được nâng cao điều này sẽ làm cho vấn đề về nguồn lợi thủy sinh nước ngọt được bền
vững. Điều này không khó về mặt kỹ thuật, nhưng nó đòi hỏi sự nhận thức và cam kết.
Các nổ lực nghiêm túc cũng đang được thực hiện nhằm tái tạo những dòng sông bị suy
thóai với kết quả khả quan. Trọng tâm của vấn đề này là sự đánh giá cao về tầm quan trọng của nghề cá nước ngọt đối với sinh kế của nông dân ở các nước đang phát triển.
Tiêu đề: Re: Phòng thử nghiệm Môi trường
Gửi bởi: Voi Còi trong Tháng Mười Một 29, 2007, 12:32:04 PM
 trung tâm kỹ thuật 1 là ở Hn phải ko ạ? Theo em nhớ thì là thế, còn trung tâm quatest 3 là ở Biên Hòa. Cho em hỏi là mấy phòng nghiên cứu đó đã có phương pháp nghiên cứu và kiểm nghiệm mức độ ô nhiễm mơi trường như thế nào?
Tiêu đề: COD, BOD, phương pháp xác định các chỉ số
Gửi bởi: dothoa trong Tháng Mười Một 29, 2007, 06:57:23 PM
BOD: Nhu cầu ôxy hóa sinh học hay nhu cầu ôxy sinh học (ký hiệu: BOD, từ viết tắt trong tiếng Anh của Biochemical (hay Biological) Oxygen Demand) là lượng oxy cần cung cấp để oxy hoá các chất hữu cơ trong nước bởi vi sinh vật. BOD là một chỉ số và đồng thời là một thủ tục được sử dụng để xác định xem các sinh vật sử dụng hết ôxy trong nước nhanh hay chậm như thế nào. Nó được sử dụng trong quản lý và khảo sát chất lượng nước cũng như trong sinh thái học hay khoa học môi trường.

 BOD5: Để Oxy hoá hết chất hữu cơ trong nước thường phải mất 20 ngày ở 20oC. Để đơn giản người ta chỉ lấy chỉ số BOD sau khi Oxy hoá 5 ngày, ký hiệu BOD5. Sau 5 ngày có khoảng 80% chất hữu cơ đã bị oxy hoá.

COD: nhu cầu ôxy hóa học (COD - viết tắt từ tiếng Anh: chemical oxygen demand) là lượng oxy có trong Kali bicromat (K2Cr2O7) đã dùng để oxy hoá chất hữu cơ trong nước. Chỉ số COD được sử dụng rộng rãi để đo gián tiếp khối lượng các hợp chất hữu cơ có trong nước. Phần lớn các ứng dụng của COD xác định khối lượng của các chất ô nhiễm hữu cơ tìm thấy trong nước bề mặt (ví dụ trong các con sông hay hồ), làm cho COD là một phép đo hữu ích về chất lượng nước. Nó được biểu diễn theo đơn vị đo là miligam trên lít (mg/L), chỉ ra khối lượng ôxy cần tiêu hao trên một lít dung dịch.

Phương pháp xác định BOD:

Thử nghiệm BOD được thực hiện bằng cách hòa loãng mẫu nước thử với nước đã khử ion và bão hòa về ôxy, thêm một lượng cố định vi sinh vật mầm giống, đo lượng ôxy hòa tan và đậy chặt nắp mẫu thử để ngăn ngừa ôxy không cho hòa tan thêm (từ ngoài không khí). Mẫu thử được giữ ở nhiệt độ 20°C trong bóng tối để ngăn chặn quang hợp (nguồn bổ sung thêm ôxy ngoài dự kiến) trong vòng 5 ngày và sau đó đo lại lượng ôxy hòa tan. Khác biệt giữa lượng DO (ôxy hòa tan) cuối và lượng DO ban đầu chính là giá trị của BOD. Giá trị BOD của mẫu đối chứng được trừ đi từ giá trị BOD của mẫu thử để chỉnh sai số nhằm đưa ra giá trị BOD chính xác của mẫu thử.

Ngày nay việc đo BOD được thực hiện bằng phương pháp chai đo BOD Oxitop: Đặt chai trong tủ 20oC trong 5 ngày, BOD được đo tự động khi nhiệt độ đạt đến 20oC. Giá trị BOD được ghi tự động sau mỗi 24 giờ.

Phương pháp xác định COD:

Trong nhiều năm, tác nhân ôxi hóa mạnh là pemanganat kali (KMnO4) đã được sử dụng để đo nhu cầu ôxy hóa học. Tính hiệu quả của pemanaganat kali trong việc ôxi hóa các hợp chất hữu cơ bị dao động khá lớn. Điều này chỉ ra rằng pemanganat kali không thể có hiệu quả trong việc ôxi hóa tất cả các chất hữu cơ có trong dung dịch nước, làm cho nó trở thành một tác nhân tương đối kém trong việc xác định chỉ số COD.

Kể từ đó, các tác nhân ôxi hóa khác như sulfat xêri, iodat kali hay dicromat kali đã được sử dụng để xác định COD. Trong đó, dicromat kali (K2Cr2O7) là có hiệu quả nhất: tương đối rẻ, dể dàng tinh chế và có khả năng gần như ôxi hóa hoàn toàn mọi chất hữu cơ.

Phương pháp đo COD bằng tác nhân oxy hoá cho kết quả sau 3 giờ và số liệu COD chuyển đổi sang BOD khi việc thí nghiệm đủ nhiều để rút ra hệ số tương quan có độ tin cậy lớn.

Kết hợp 2 loại số liệu BOD, COD cho phép đánh giá lượng hữu cơ đối với sự phân hủy sinh học.
Tiêu đề: Vì sao sử dụng chì trong nước sơn?
Gửi bởi: [Dr.].Tung trong Tháng Mười Hai 10, 2007, 12:12:02 PM
Mattel, nhà sản xuất đồ chơi hàng đầu thế giới, đã cho thu hồi hàng triệu đồ chơi được phủ ngoài bằng sơn chì. Bản chất độc hại của chì đã được biết đến hàng nghìn năm, vậy tại sao chì lại được thêm vào sơn và tại sao sơn chì vẫn còn được sản xuất?
Sơn chì là gì?

Bất cứ loại sơn nào cũng trông cậy vào các hợp chất chì cho màu sắc của nó. Chì trắng, hay chì (II) carbonate (PbCO3) là một ví dụ điển hình, và một thời đã từng được dùng rộng rãi để sơn bề mặt gỗ trong nhà. Các hợp chất chì khác, như chì chromate (PbCrO4) màu vàng chói, được dùng như phẩm nhuộm màu. Cũng như cung cấp màu sắc cho nước sơn, phẩm nhuộm chì còn có độ mờ đục cao, vì vậy chỉ cần một lượng hợp chất tương đối nhỏ có thể phủ một bề mặt rộng. Chì trắng rất không tan trong nước, làm cho sơn không thấm nước và dễ lau chùi với độ bền cao. Chì carbonate cũng có thể trung hòa các sản phẩm mang tính acid làm mục rữa của các loại dầu bóng trong nước sơn, vì thế lớp sơn phủ có độ bám, không chảy nhão và chống nứt trong thời gian lâu hơn.

Vậy vấn đề là gì?

Chì mang độc tố và vì trẻ nhỏ thường nhai đồ vật, chúng có khuynh hướng nuốt nó. Điều này không tốt cho trí não dễ bị tổn thương và đang phát triển của trẻ. Người ta đã nhận ra một cách rõ ràng vào nữa đầu thế kỉ 20 rằng nhiều trẻ em đã vị ngộ độc bởi sơn chì được dùng trong nôi và đồ chơi được tung ra ở phương Tây vào những năm 1950. Tuy nhiên, các sản phẩm sơn trang trí nhà cửa vẫn được dùng thêm hai thập niên nữa trước khi nó được kết thúc bởi những khuyến cáo về sức khỏe.

Vì sao chì độc hại?

Chì có thể phá vỡ một cách mãnh liệt các chức năng chính của cơ thể, và từ đây dẫn đến các biến chứng rộng, từ nôn mửa đến rối loạn thần kinh hay tử vong. Nó được biết đến như sự cản trở mạnh mẽ sự tiếp nhận glutamate, một truyền dẫn thần kinh quyết định sự tiếp thu. Nó cũng có khả năng thay thế hàng loạt các kim loại khác giữ chức năng bình thường trong cơ thể mà quan trọng nhất là calcium, sắt và kẽm. Một vấn đề đặc biệt là chì thay thế kẽm từ enzyme delta-aminolaevulinate tách nước, một thành phần chủ yếu của quá trình tổng hợp sinh học của heme, phức chất sắt của phân tử hemoglobin đảm trách việc luân chuyển oxygen trong máu. Điều này tạo nên sự thiếu oxygen cho các tế bào trong cơ thể dẫn đến một chuỗi vấn đề về kết hợp.

Tất cả sơn chì đã bị cấm?

Hầu hết. Trong phần lớn các ứng dụng, phẩm nhuộm chì đã được thay thế bằng titanium dioxide, một hợp chất an toàn được dùng trong màu thực phẩm cũng như trong kem chống nắng. Ở châu Âu, ngày nay sơn chì chỉ được dùng trong việc phục chế và bảo trì các tác phẩm nghệ thuật và các di tích kiến trúc. Ở Mỹ, sơn chì có thể sử dụng hạn chế trong các ngành công nghiệp nặng như phủ lớp vỏ ngoài tàu thủy.

Sơn độc chì đã được tìm thấy như thế nào?

Mattel nhận ra sơn có độc tố trong suốt các cuộc kiểm tra định kì. Chì trong sơn, dù là ở thể lỏng hay ở lớp phủ ngoài sản phẩm, có thể được tìm thấy qua nhiều kỹ thuật phân tích, Allan Stewart, thuộc phòng thí nghiệm nhóm khoa học đo lường của Intertek tại Anh, phát biểu. Máy hút nguyên tử và máy phân tích quang phổ huỳnh quang tia X là hai phương pháp tổng quát có thể phát hiện sự có mặt của chì, trong khi máy đo quang phổ plasma cảm ứng đôi có thể tìm thấy chì chỉ với lượng ít hơn một phần tỉ, ông nói thêm.

Vậy điều gì đang xảy ra ở Trung Quốc?

Trung Quốc đang dần hạn chế việc sử dụng chì, ví dụ như lệnh cấm xăng pha chì vào năm 2000. Tuy nhiên, sơn chì rẻ hơn các sản phẩm khác, và điều này khiến cho một vài nhà sản xuất Trung Quốc vẫn duy trì sử dụng chúng thay vì dùng các sản phẩm sơn không độc hại và hợp pháp khác. Đáp lại hàng loạt vụ xì căng đan về độ an toàn các sản phẩm, bao gồm cả thức ăn cho vật nuôi và kem đánh răng bị nhiễm độc, chính phủ Trung Quốc đang cố gắng lập nên một nhân vật huyền thoại “sửa chữa sai lầm quốc gia”. Wu Yi, đang giữ chức phó thủ tướng, là nữ quan chức cao tuổi nhất, sẽ đứng đầu cuộc họp nội các mới về sản phẩm an toàn, trong cuộc nỗ lực hướng các vấn đề của quốc gia đến sản phẩm an toàn.
Tiêu đề: Hóa học và đời sống
Gửi bởi: tuanle trong Tháng Mười Hai 11, 2007, 03:48:48 AM
Trong đời sống chúng ta tất cả mọi chất đều được cấu tạo từ các nguyện từ nhưng điều quan trọng là nó có chá6t độc hay tốt chó sức khỏe hay không? Topic này sẽ giúp bạn biết điều đó
RÁ6t mong nhận được sữ đóng góp cuẩ các bạn
Thân
Tiêu đề: Re: Hóa học và đời sống
Gửi bởi: tuanle trong Tháng Mười Hai 11, 2007, 03:51:31 AM
Mưa axít

Mưa axít là hiện tượng mưa mà nước mưa có độ pH dưới 5,6. Đây là hậu quả của quá trình phát triển sản xuất con người tiêu thụ nhiều than đá, dầu mỏ và các nhiên liệu tự nhiên khác.

Quá trình tạo nên mưa axít

Trong thành phần các chất đốt tự nhiên như than đá và dầu mỏ có chứa một lượng lớn lưu huỳnh, còn trong không khí lại chứa nhiều nitơ. Quá trình đốt sản sinh ra các khí độc hại như :lưu huỳnh đioxit (SO2) và nitơ đioxit (NO2). Các khí này hòa tan với hơi nước trong không khí tạo thành các axit sunfuaric (H2SO4) và axit nitric(HNO3). Khi trời mưa, các hạt axit này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axit. Do có độ chua khá lớn, nước mưa có thể hoà tan được một số bụi kim loại và ôxit kim loại có trong không khí như ôxit chì,... làm cho nước mưa trở nên độc hơn nữa đối với cây cối, vật nuôi và con người.

Quá trình này diễn ra theo các phản ứng hoá học sau đây:

    * Lưu huỳnh:

    S + O2 → SO2;

        Quá trình đốt cháy lưu huỳnh trong khí oxi sẽ sinh ra lưu huỳnh điôxít.

    SO2 + OH· → HOSO2·;

        Phản ứng hoá hợp giữa lưu huỳnh điôxít và các hợp chất gốc hiđrôxít.

    HOSO2· + O2 → HO2· + SO3;

        Phản ứng giữa hợp chất gốc HOSO2· và O2 sẽ cho ra hợp chất gốc HO2· và SO3 (lưu huỳnh triôxít).

    SO3(k) + H2O(l) → H2SO4(l);

        Lưu huỳnh triôxít SO3 sẽ phản ứng với nước và tạo ra axít sulfuric H2SO4. Đây chính là thành phần chủ yếu của mưa axít.


    * Nitơ:

    N2 + O2 → 2NO;

    2NO + O2 → 2NO2;

    3NO2(k) + H2O(l) → 2HNO3(l) + NO(k);

        Axít nitric HNO3 chính là thành phần của mưa axít.

Tác hại

Mưa axit được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1948 tại Thuỵ Điển. Người ta đã thấy rằng mưa axit rất nguy hại đến môi trường sống, trong xây dựng, trong bảo tồn di tích lịch sử...

Mưa axit ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ). Các dòng chảy do mưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao trở thành các thuỷ vực chết. Mưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm xuống đất làm tăng độ chua của đất, hoà tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi (Ca), magiê (Mg),... làm suy thoái đất, cây cối kém phát triển. Lá cây gặp mưa axit sẽ bị "cháy" lấm chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả năng quang hợp của cây giảm, cho năng suất thấp. Mưa axit còn phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại như sắt, đồng, kẽm,... làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, làm lở loét bề mặt bằng đá của các công trình.

Mưa axit gây hư hại các công trình, song cũng đem lại lợi ích đáng kể. Các nhà khoa học vừa phát hiện thấy những cơn mưa chứa axit sunphuaric làm giảm phát thải methane từ những đầm lầy(Đầm lầy là nơi sản ra lượng lớn khí methane), nhờ đó hạn chế hiện tượng trái đất nóng lên.

Một cuộc điều tra toàn cầu mới đây đã cho thấy thành phần sunphua trong các cơn mưa này có thể ngăn cản trái đất ấm lên, bằng việc tác động vào quá trình sản xuất khí methane tự nhiên của vi khuẩn trong đầm lầy.Methane chiếm 22% trong các yếu tố gây ra hiệu ứng nhà kính. Và các vi khuẩn ở đầm lầy là thủ phạm sản xuất chính. Chúng tiêu thụ chất nền (gồm hydro và axetat) trong than bùn, rồi giải phóng methane vào khí quyển. Nhưng trong đầm lầy ngoài vi khuẩn sinh methane, còn có vi khuẩn ăn sunphua cạnh tranh thức ăn với chúng. Khi mưa axit đổ xuống, nhóm vi khuẩn này sẽ sử dụng sunphua, đồng thời tiêu thụ luôn phần chất nền đáng lý được dành cho vi khuẩn sinh methane. Do vậy, các vi khuẩn sinh methane bị "đói" và sản xuất ra ít khí nhà kính. Nhiều thí nghiệm cho thấy phần sunphua lắng đọng có thể làm giảm quá trình sinh methane tới 30%.

Biện pháp:

Một điều nghịch lý là chính các biện pháp chống ô nhiễm, áp dụng ở khu vực xung quanh những cơ sở sản xuất điện, lại góp phần gieo rắc mưa axit trên diện rộng. Do các nhà máy buộc phải xây ống khói thật cao nhằm tránh ô nhiễm cho môi trường địa phương, các hóa chất gây mưa axit đã lan tỏa đi xa hàng trăm, thậm chí hàng nghìn km khỏi nguồn.

Để giảm lượng khí thải SO2 từ các nhà máy nhiệt điện xuống còn 7,84 tỷ tấn năm 2020, trước năm 2005, 80% các nhà máy nhiệt điện phải lắp đặt thiết bị khử sunphua. Đây cũng là một trong những giải pháp hạn chế mưa axít mà nhà nước Trung Quốc đã đề ra năm ngoái. Các nhà máy nhiệt điện lắp đặt thiết bị này sẽ được bán điện với giá cao hơn. Tuy nhiên, quy định này không dễ thực hiện đối với các nhà máy nhiệt điện lâu đời. Rất ít trong số nhà máy này lắp đặt thiết bị khử sunphua bởi vì để lắp đặt được hệ thống khử sunphua hiệu quả phải chi khoản tiền trị giá 1/3 tổng đầu tư xây dựng một nhà máy nhiệt điện. Họ thà bị phạt còn hơn phải lắp đặt hệ thống khử sunphua. Năm ngoái, Chính phủ Trung Quốc tăng lượng phạt khí thải SO2 từ 210 NDT (Nhân dân tệ-đơn vị tiền tệ của Trung Quốc) lên 420 NDT/tấn, năm tới mức phạt sẽ là 630 NDT. Ở tỉnh Quý Châu, chỉ có 2 trong số 9 nhà máy nhiệt điện lắp đặt thiết bị này. Các chuyên gia cho rằng, chính phủ nên rót thêm tiền để nâng cấp nhà máy lâu đời
TRích từ wikipedia.org
Tiêu đề: Re: Bàn luận về rác thải y tế tấn công môi trường !!!
Gửi bởi: satlong1993 trong Tháng Mười Hai 31, 2007, 09:16:52 PM
Trời RTYT đúng là nguy hiểm thật nhưng cái gì thì cũng có 2 mặt của nó cái lợi và cái hại tuy rác thải y tế có nhiu vi khuẩn gây bệnh nhưng nếu đc xử lý tốt thì nó là 1 nguồn lợi lớn đó
Tiêu đề: Re: Hóa học và đời sống
Gửi bởi: Tienhung trong Tháng Một 08, 2008, 01:55:56 PM
NHƯNG NỒNG ĐỘ NO2 VỪA ĐỦ LẠI LÀ NGUỒN BỔ SUNG ĐẠM CHO ĐẤT
Tiêu đề: Re: O nhiem moi truong vi`.....
Gửi bởi: Tienhung trong Tháng Một 08, 2008, 02:11:29 PM
trong mỏ than đầy mêtan
Tiêu đề: Re: Nươc biển
Gửi bởi: Tienhung trong Tháng Một 08, 2008, 02:15:20 PM
mình đã đọc một cuốn sách trong đó nói rằng trữ lượng một số kim loại nhưMg trong nước biển còn nhiều hơn trong đất liền .Ở mĩ đã có một số nhà máy lọc kim loại từ nước biển
Tiêu đề: Re: MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT VẬT LIỆU KIM LOẠI - VẤN ĐỀ VÀ GI
Gửi bởi: Tienhung trong Tháng Một 08, 2008, 02:19:55 PM
sông Cầu ở chỗ tôi bị mấy làng làm giấy xung quanh làm ô nhiễm đến đen ngồm
Tiêu đề: Re: MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT VẬT LIỆU KIM LOẠI - VẤN ĐỀ VÀ GI
Gửi bởi: hongbangchu trong Tháng Một 12, 2008, 11:21:13 PM
bạn ở bắc ninh hả. ở đó công nghiêp phát triển chắc là tình hình o nhiễm khá nặng
Tiêu đề: Re: MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT VẬT LIỆU KIM LOẠI - VẤN ĐỀ VÀ GI
Gửi bởi: thiepbq trong Tháng Một 15, 2008, 03:26:30 PM
minh cũng đang cần một số đề tài về ô nhiễm không khí và biện pháp xử lý  ở các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng. post lên cho minh xem với
Tiêu đề: Re: xử lí nước thải bằng than hoạt tính
Gửi bởi: timtailieuchonguoiyeu trong Tháng Hai 19, 2008, 07:35:13 PM
có ai có bài Xử Lý Nước Thải Bằng Phương Pháp Hóa Lý chỉ cho tôi với cám ơn nhiều!!!!!!
Tiêu đề: Re: Độc chất kim loại trong quá trình khai thac và sản xuất KIM LOẠI
Gửi bởi: QuangThienLy trong Tháng Ba 23, 2008, 12:06:40 PM
Mấy anh quan lý ơi xoa tpic nay gium nha
Tiêu đề: Re: Độc chất kim loại trong quá trình khai thac và sản xuất KIM LOẠI
Gửi bởi: tutram1992 trong Tháng Ba 23, 2008, 10:33:46 PM
Mấy anh quan lý ơi xoa tpic nay gium nha
mình thấy có j đáng xoá đâu chứ nhỉ???
  Mình thấy trên diễn đàn này nói về mọi thứ từ thực phẩm cho đến các vấn đề ô nhiễm môi trường đều có cả. Mà đặc biệt vấn đề khai khoáng nó ô nhiễm như thế nào? Các chất độc mà quá trình này thải ra cho môi trường, chất nào thì độc nhất, ảnh hưởng tới các hệ sinh thái chung quanh vung như thế nào thi chưa thấy cả. Mình thấy trên vài trang wed khoa học thấy có một vài loại thực vật có khả năng xơi kim loại như một nước uống dinh dưỡng vậy đó. Các bạn có biết về vấn đề này không? Làm cho chỉ cho mình biết với.Cám ơn các bạn nhiều.
chuyện thực vật xơi KL mình chưa nghe thấy bao giờ cả, chỉ cùng lắm là nghe thực vật hấp thụ muối khoáng (dĩ nhiên là có chứa KL rùi). Bạn có chắc nguồn tin bạn nghe là đúng ko ???
Tiêu đề: Re: Độc chất kim loại trong quá trình khai thac và sản xuất KIM LOẠI
Gửi bởi: Forza Milan trong Tháng Ba 23, 2008, 10:37:16 PM
Chắc ý bạn là thực vật tích trữ kim loại ?
http://www.clst.ac.vn/AP/tapchitrongnuoc/kcm/2001/tapchi09/3/tep10.htm

 ??? ???
Tiêu đề: Al(OH)3 - ung dung thuc te
Gửi bởi: minhtuyen1904 trong Tháng Tư 18, 2008, 01:55:31 PM
Các bậc tiền bối hoá học cho em hỏi: Nhôm hidroxit tại Việt Nam bi giờ đang ứng dụng làm nguyên liệu sản xuất trong các ngành nào? Nếu có thể mong các bác poste vài tên công ty???
minhtuyen1904
Tiêu đề: Các quá trình biến đổi dầu trong nước biển
Gửi bởi: dinhthuyhang trong Tháng Năm 31, 2008, 11:42:34 AM
Khi một vụ tràn đầu xảy ra, dầu nhanh chóng lan tỏa trên mặt biển. Các thành phần của dầu sẽ kết hợp với các thành phần có trong nước biển, cùng với các điều kiện về sóng, gió, dòng chảy... sẽ trải qua các quá trình biến đổi như sau:
1. Quá trình lan toả
    Dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ là chất lỏng có độ hòa tan rất thấp trong nước, đặc biệt là nước biển. Do đó, khi khối dầu rơi vào nước sẽ xảy ra hiện tượng chảy lan trên bề mặt nước. Quá trình này được chú ý đặc biệt nhằm ứng cứu sự cố tràn dầu hiệu quả.
    Trong điều kiện tĩnh, một tấn dầu có thể lan phủ kín 12km2 mặt nước, một giọt dầu (nửa gam) tạo ra một màng dầu 20m2 với độ dày 0,001 mm có khả năng làm bẩn 1 tấn nước. Quá trình lan toả diễn ra như sau: dầu lan từ nguồn ra phía có bề mặt lớn nhất, sau đó thì tiếp tục lan chảy vô hướng. Khi tạo thành màng đủ mỏng, màng sẽ bị vỡ dần ra thành những màng có diện tích nhỏ hơn và trên bề mặt dầu xuất hiện các vệt không có dầu.
    Do các quá trình bốc hơi, hòa tan mà mật độ, độ nhớt tăng, sức căng bề mặt giảm dần cho đến khi độ dày của lớp dầu đạt cực tiểu thì quá trình chảy lan chấm dứt.
    Trường hợp không có các yếu tố nhiễu thì dầu lan toả thành một vòng tròn, bao phủ một diện tích tối đa là:  Smax =  R2max
 Trong thực tế thì quá trình chảy lan trên biển chịu tác động lớn bởi các yếu tố sóng, gió và thủy triều.
2. Quá trình bay hơi
    Song song với quá trình lan tỏa, dầu sẽ bốc hơi tùy thuộc vào nhiệt độ sôi và áp suất riêng phần của hydro và cacbon trong dầu mỏ cũng như các điều kiện bên ngoài: nhiệt độ, sóng, tốc độ gió và diện tích tiếp xúc giữa dầu với không khí. Các hydro và cacbon có nhiệt độ sôi càng thấp thì có tốc độ bay hơi càng cao. ở điều kiện bình thường thì các thành phần của dầu với nhiệt độ sôi thấp hơn 200o C sẽ bay hơi trong vòng 24 giờ. Các sản phẩm nhẹ như dầu hỏa, gasolil có thể bay hơi hết trong vài giờ. Các loại dầu thô nhẹ bay hơi khoảng 40%, còn dầu thô nặng hoặc dầu nặng thì ít bay hơi, thậm chí không bay hơi. Tốc độ bay hơi giảm dần theo thời gian, làm giảm khối lượng dầu, giảm khả năng bốc cháy và tính độc hại, đồng thời quá trình bay hơi cũng làm tăng độ nhớt và tỉ trọng của phần dầu còn lại, làm cho tốc độ lan toả giảm.
3. Quá trình khuếch tán
    Đây là quá trình xảy ra sự xáo trộn giữa nước và dầu. Các vệt dầu chịu tác động của sóng, gió, dòng chảy tạo thành các hạt dầu có kích thước khác nhau, trong đó có các hạt đủ nhỏ và đủ bền có thể trộn tương đối bền vào khối nước. Điều này làm diện tích bề mặt hạt dầu tăng lên, kích thích sự lắng đọng dầu xuống đáy hoặc giúp cho khả năng tiếp xúc của hạt dầu với các tác nhân oxi hoá, phân huỷ dầu tăng, thúc đẩy quá trình phân huỷ dầu.
    Hiện tượng trên thường xảy ra ở những nơi sóng vỡ và phụ thuộc vào bản chất dầu, độ dày lớp dầu cũng như tình trạng biển. Tại điều kiện thường các hạt dầu nhẹ có độ nhớt nhỏ có thể phân tán hết trong một vài ngày, trong khi đó các loại có độ nhớt lớn hoặc loại nhũ tương dầu nước ít bị phân tán.
4. Quá trình hoà tan
 Sự hoà tan của dầu trong nước chỉ giới hạn ở những thành phần nhẹ. Tốc độ hoà tan phụ thuộc vào thành phần dầu, mức độ lan truyền, nhiệt độ cũng như khả năng khuếch tán dầu. Dầu FO ít hòa tan trong nước. Dễ hòa tan nhất trong nước là xăng và kerosen. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, hàm lượng dầu hòa tan trong nước luôn không vượt quá 1 phần triệu tức 1 mg/l.
    Quá trình hoà tan cũng làm tăng khả năng phân huỷ sinh học của dầu. Song đây chính là yếu tố làm tăng tính độc của dầu đối với nước, gây mùi, đầu độc hệ sinh thái động thực vật trong nước, đặc biệt đối với động vật, dầu thấm trực tiếp và từ từ vào cơ thể sinh vật dẫn đến sự suy giảm chất lượng thực phẩm.
5. Quá trình nhũ tương hoá
    Đây là quá trình tạo thành các hạt keo giữa dầu và nước hoặc nước và dầu.
 1, Keo dầu nước: là hạt keo có vỏ là dầu, nhân là nước; là các hạt dầu ngậm nước làm tăng thể tích khối dầu 3 - 4 lần. Các hạt khá bền, khó vỡ ra để tách lại nước. Loại keo đó có độ nhớt rât lớn, khả năng bám dính cao, gây cản trở cho công tác thu gom, khó làm sạch bờ biển.
 2, Keo nước dầu: hạt keo có vỏ là nước, nhân là dầu; được tạo ra do các hạt dầu có độ nhớt cao dưới tác động lâu của sóng biển, nhất là các loại sóng vỡ. Loại keo này kém bền vững hơn và dễ tách nước hơn.
    Nhũ tương hoá phụ thuộc vào tốc độ gió và loại dầu. Gió cấp 3, 4 sau 1- 2 giờ tạo ra khá nhiều các hạt nhũ tương dầu nước. Dầu có độ nhớt cao thì dễ tạo ra nhũ tương dầu nước. Nhũ tương hoá làm giảm tốc độ phân hủy và phong hoá dầu. Nó cũng làm tăng khối lượng chất ô nhiễm và làm tăng số việc phải làm để phòng chống ô nhiễm.
6. Quá trình lắng kết
    Do tỉ trọng nhỏ hơn 1 nên dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ thường nổi lên mặt nước mà không tự chìm xuống đáy. Các loại nhũ tương sau khi hấp thụ các vật chất hoặc cơ thể sinh vật có thể trở nên nặng hơn nước rồi chìm dần. Cũng có một số hạt lơ lửng, hấp thụ tiếp các hạt phân tán rồi chìm dần lắng đọng xuống đáy. Trong đó cũng xảy ra quá trình đóng vón tức là quá trình tích tụ nhiều hạt nhỏ thành mảng lớn.
    Quá trình lắng đọng làm giảm hàm lượng dầu có trong nước, làm nước tăng DO nhanh hơn. Nhưng nó sẽ làm hại hệ sinh thái đáy. Hơn nữa, sau lắng đọng, dầu vẫn có thể lại nổi lên mặt nước do tác động của cá yếu tố đáy, gây ra ô nhiễm lâu dài cho vùng nước.
7. Quá trình oxy hoá
    Nói chung, các hydrocacbon trong dầu khá bền vững với oxy. Nhưng trong thực tế dầu mỏ tồn tại trong nước hoặc không khí vẫn bị oxi hoá một phần rất nhỏ (khoảng 1% khối lượng). Các quá trình này xảy ra do oxy, ánh sáng mặt trời và quá trình xúc tác sinh học tạo thành các hydrôpeoxit rồi thành các sản phẩm khác. Sản phẩm quá trình rất đa dạng như: axit, andehit, xeton, peroxit, superoxit…
8. Quá trình phân huỷ sinh học
    Có nhiều chủng thủy vi sinh vật khác nhau có khả năng tiêu thụ một đoạn nào đó. Mỗi loại vi sinh chỉ có khả năng phân hủy một nhóm hydrocacbon cụ thể nào đó. Tuy nhiên, trong nước sông có rất nhiều chủng vi khuẩn. Do đó, rất ít loại hydrocacbon có thể chống lại sự phân huỷ này. Các vi sinh vật có thể phân huỷ 0,03 - 0,5 g dầu/ngày đêm trên mỗi mét vuông. Khi dầu rơi xuống nước, chủng vi sinh vật hoạt động mạnh. Quá trình khuếch tán xảy ra tốt thì quá trình ăn dầu cũng  xảy ra mạnh. Điều kiện các vi sinh ăn dầu có thể phát triển được là phải có oxy. Do đó, ở trên mặt nước dầu dễ bị phân huỷ vi sinh, còn khi chìm xuốn đáy thì khó bị phân hủy theo kiểu này.
Khả năng phân hủy sinh học phụ thuộc vào các yếu tố:
-    Thành phần của dầu: thành phần dầu ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của vi sinh. Các vi sinh ăn dầu hoạt động mạnh nhất là những vi sinh tiêu thụ được phân đoạn có nhiệt độ sôi từ 40 - 200o C.
-   Diện tích dầu trải trên mặt nước: diện tích càng rộng khả năng dầu bị phân hủy vi sinh càng mạnh.
-    Nhiệt độ môi trường: nhiệt độ càng cao quá trình phân hủy càng nhanh.
Tiêu đề: Lọc nc trong!
Gửi bởi: Voi Còi trong Tháng Sáu 16, 2008, 09:14:21 PM
      Nc giếng ở các miền quê thường có màu vàng vàng kim loại. Làm thế nào để lọc cho nc trg hơn, hiệu quả cao mà ko cần tốn nhiều ngliệu?? Giúp tôi với! ???
Tiêu đề: Re: Lọc nc trong!
Gửi bởi: __Ran__ trong Tháng Sáu 16, 2008, 09:32:07 PM
      Nc giếng ở các miền quê thường có màu vàng vàng kim loại. Làm thế nào để lọc cho nc trg hơn, hiệu quả cao mà ko cần tốn nhiều ngliệu?? Giúp tôi với! ???
Cái anỳ quê tớ có nè, tớ thấ ymột số nhà người ta dùng chum vại gì đó, cho cát, xỏi than vào tưng lớp rồi cho nc vao , th udc nứoc it bị vang hơn , nhưng ko bị ết vàng hoàn toàn
Tiêu đề: Re: Lọc nc trong!
Gửi bởi: Forza Milan trong Tháng Sáu 17, 2008, 09:14:40 AM
Chắc là do nước có ion fe2+ chuyển sang thành fe3+ nên có màu vàng. Lúc mới khai thác lên thì trong nhưng sau đó đổi thành màu vàng do xuất hiện các cặn sắt hoá trị 3.
Sơ đồ xử lý (chủ yếu làm sắt oxy hóa nhanh hơn)

(http://i285.photobucket.com/albums/ll67/tifosiforever/congnghe22.gif)

 :)
Tiêu đề: Re: Độc chất kim loại trong quá trình khai thac và sản xuất KIM LOẠI
Gửi bởi: QuangThienLy trong Tháng Tám 16, 2008, 09:07:25 PM
đó là từ lóng dể chỉ thực vật có khả năng hấp thụ kim loại với nồng độ cao ví dụ như sà lách xoon đó và một số loài khác nữa có khả nang hấp thụ chì rất cao đó mấy bạn.
Tiêu đề: ách để xác định , phân tích thành phần hóa học của đất
Gửi bởi: SuperPengin trong Tháng Tám 31, 2008, 07:40:31 PM
Có nhiều loại đất khác nhau đất bazan , đất xám ... mỗi loại đất có tính chất khác nhau và phù hợp từng loại cây trồng khác nhau . nếu có thể biết được thành phần các chất trong đất thì ta có thề thay đổi cơ chế của đất , cải tạo đất bạc màu , đất nhiễm mặn..........

Em rất muốn biết cách để xác định , phân tích thành phần hóa học vô cơ cũng như hữu cơ của các loại đất.

Mong các bạn giúp đỡ
Tiêu đề: Hấp thụ hay xả ra môi trường hơi phenol và formandehit?
Gửi bởi: hopipo1210 trong Tháng Mười 23, 2008, 02:57:33 PM
Các bạn cho mình hỏi trong môi trường sản xuất công nghiệp khi nấu nhựa phenol và formandehit thì nó sẽ bay ra các loại hơi. H có biện pháp nào hấp thụ hay chỉ dùng hệ thống hút gió đẩy ra ngoài môi trường, làm thế liệu có ảnh hưởng đến môi trường hay không? Cảm ơn nhiều nhé.
Tiêu đề: Phân tích cyanua
Gửi bởi: candy trong Tháng Mười 28, 2008, 09:38:46 AM
Có bạn nào biết cách phân tích cyanua trong nước, nước thải và chất thải rắn ko? Giúp mình với! CÁm ơn rất nhiều
Tiêu đề: Re: Phân tích cyanua
Gửi bởi: silver trong Tháng Mười 29, 2008, 05:30:58 PM
Bạn có thể tham khảo tại đây: http://www.nea.gov.vn/TCVNMT/ToanVan/TCVN_6181_1996.htm
Tiêu đề: Re: Phân tích cyanua
Gửi bởi: candy trong Tháng Mười Một 24, 2008, 07:34:47 PM
Bạn ui, mình đã tải được TCVN 6181 về nhưng phần tính toán công thức lại bị mất hết :'(. Bạn giúp mình bổ dung chúng đc ko, phần xác định xyanua theo so màu và chuẩn độ dùng hiệu ứng Tyndall
Tiêu đề: chất tẩy cặn bám trên gạch men
Gửi bởi: nguyen_thanh90 trong Tháng Hai 03, 2009, 10:15:18 AM
gạch men trong nhà tắm saumột thời gian bị đóng bẩn do nước bị nhiễm vôi,lâu ngày đóngváng trên gạch,phải dùng vật cứng (kim loại) mới cào đi được,còn các loại thuốc tẩy rửa bán trên thị trường thì vô ích
các bạn Hóa ra tay coi có cách nào trị nó không?
Tiêu đề: chất tẩy cặn bám trên gạch men
Gửi bởi: Voi Còi trong Tháng Hai 03, 2009, 11:22:55 AM
gạch men trong nhà tắm saumột thời gian bị đóng bẩn do nước bị nhiễm vôi,lâu ngày đóngváng trên gạch,phải dùng vật cứng (kim loại) mới cào đi được,còn các loại thuốc tẩy rửa bán trên thị trường thì vô ích
các bạn Hóa ra tay coi có cách nào trị nó không?
 
   Cặn của nước có tính kiềm cho nên dùng chất tẩy rửa có tính axít là cách tốt nhất. Axít phosphoric hiệu dụng và an toàn đối với hầu hết các bề mặt. Các cửa hàng thường bán loại nước tẩy rửa có chứa 4 đến 6% axit
    Lớp váng xà phòng bám bồn và tường nhà tắm:
    ;) Ngăn ngừa lớp váng xà phòng hình thành bao giờ cũng dễ hơn là lau chùi nó bằng cách gạt khô nước vấy trên tường và cửa phòng tắm hoặc lau khô chúng sau mỗi khi tắm xong. Đối với tường dán gạch men hay cửa kính mờ nên dùng dầu chanh quét mỏng định kỳ để chống lớp váng đóng. Đối với bồn tắn bằng sứ nên dùng xi xe đánh lớp mỏng lên thành bồn (chớ bao giờ đánh xi đáy bồn).

Khi đã có lớp váng bám thì hãy dùng hoạt chất tẩy dầu mỡ và chà kỹ cho đến bóng. Mua loại dung dịch tẩy rửa váng xà phòng kiềm hoặc cũng có thể dùng bột rửa chén dành cho máy tự động rồi pha tan trong một xô nước ấm dủ dùng.Tẩm ướt các nơi bị bám váng và chờ khoảng 15 phút cho dung dịch ngấm. Nên tẩy rửa ngay sau khi Bạn tắm xong vì tường và bồn còn ướt. Sau khi để dung dịch ngấm, dùng bàn chà hoặc bùi nhùi ny lông trắng cọ sạch các tường và bồn. Đôi khi Bạn phải thực hiện nhiều lần mới tẩy nổi các lớp váng. Sau cùng rửa sạch các nơi đã xử lý bằng nước sạch.
 
    :P Nền nhà gạch men                   

Không cần đánh sáp. Chỉ cần quét sạch và lau khăn thường xuyên là đủ để nền nhà sạch bóng. Dùng khăn lau nhà bằng nước sạch hoặc có thể thêm vào chút nước rửa chén. Nhớ thay xô nước khi thấy đóng bợn. Dùng quá nhiều nước rửa chén hoặc nước bẩn sẽ làm cho nền nhà bị mờ và rít ráy. Dùng bùi nhùi để chà sẽ làm nền nhà bị trầy xướt. Nhân viên chuyên nghiệp của chúng tôi chỉ lau chùi nền nhà với đôi tay, lau sạch và để khô từng phạm vi một
    Ngoài ra có thể tham khảo thêm:
    :o Tẩy vết ố sàn gạch (sàn ngoài/phòng tắm):
- Với vết ố sàn gạch, thường thì do đọng nước lâu ngày, hoặc sàn phòng tắm bị nước đóng phèn, khoáng sắt. Chúng ta có thể đổ tro bếp lên, đổ chút nước vào chà nhẹ cho đều ra, để 5 phút, rồi dùng bàn chải chà rửa mạnh tay. Xong rồi chà rửa lại bình thường. Vết ố nhẹ thì pha thêm chút muối vào nước tẩy sàn, thấm đều lên mặt sàn, để chừng 15 phút rồi lau sạch lại là ổn.

- Với những vết cặn bám kẽ ron, sàn, hay bề mặt men sứ thì có thể dùng chút vôi ăn trầu và nước oxi già để chà rửa


   
Tiêu đề: Re: chất tẩy cặn bám trên gạch men
Gửi bởi: nguyen_thanh90 trong Tháng Hai 03, 2009, 05:50:26 PM
cám ơn bạn đã trả lời, bạn ơi ,có cách nào thông ống cống không ,bằng hoá chất càng tốt,có loạinao2 có sẵn trên thị trường khống
Tiêu đề: chất tẩy cặn bám trên gạch men
Gửi bởi: Voi Còi trong Tháng Hai 04, 2009, 09:46:55 PM
    Nếu ống nước thải nhà bạn có chảy qua một hố ga thì bạn thử làm như sau:

Lấy một ống nước nối với một vòi nước hoặc máy bơm càng toot, một đầu kia của ống thì cắm sâu vào trong ống nước thải từ phía hố ga. Sau đó dùng một miếng giẻ bịt chặt để nước không thoát ra được. Mở vòi nước để cho nước chảy ngược trở lại phía bồn rửa. Nếu lúc đầu ống bị tắc quá thì bạn dùng dây thép uốn cong để thông.

Ngoài ra lúc nước chảy yếu (dấu hiệu của cống sắp bị tắc bạn có thể buộc một túm len nhỏ và một ít dây thép cuộn tròn lại rồi thả vào cống cho nó chảy qua bên kia. Rồi buộc một ít dây thép loại nhỏ vào dây len này (nhớ gập đôi, gập 3 dây len lại cho chắc chắn) rồi vừa mở vòi nước vừa kéo qua kéo lại sợi len cho túm dây thép làm nhiệm vụ của cái bàn chải sắt cọ rửa những mảng két ở trong ống nước.
Tiêu đề: Re: Hấp thụ hay xả ra môi trường hơi phenol và formandehit?
Gửi bởi: silver trong Tháng Hai 04, 2009, 10:11:29 PM
phenol và formandehit đều là những chất độc , nếu dẫn ra môi trường thì nguy hiểm quá .Theo mình thì có thể dẫn khí đó qua dung dịch Ca(OH)2 , formandehit có phản ứng trùng hợp thành gluco còn phenol thì  sẽ phản ứng tạo canxi phenolat thân thiện với môi trường
Tiêu đề: Re: Độc chất kim loại trong quá trình khai thac và sản xuất KIM LOẠI
Gửi bởi: silver trong Tháng Hai 04, 2009, 10:15:45 PM
đó là từ lóng dể chỉ thực vật có khả năng hấp thụ kim loại với nồng độ cao ví dụ như sà lách xoon đó và một số loài khác nữa có khả nang hấp thụ chì rất cao đó mấy bạn.
cái này đúng đấy , thực vật có khả năng hấp thụ một số các ion kim loại nặng , nhưng điều này không phải đã tốt đâu.Như bạn biết đấy , một số loại rau cũng có khả năng này , do đó mà khi ăn chúng ta có thể sẽ tích lũy ion kim loại nặng vào trong người rồi sẽ phát bệnh ra ấy chứ, nên điều này cũng ko phải là có lợi
Tiêu đề: Re: ách để xác định , phân tích thành phần hóa học của đất
Gửi bởi: silver trong Tháng Hai 04, 2009, 10:19:40 PM
Mặc dù hơi muộn , nhưng bạn có thể tham khảo trang này
http://www.docstoc.com/docs/953397/cac-chi-tieu-phan-tich-dat
Tiêu đề: Re: chất tẩy cặn bám trên gạch men
Gửi bởi: nguyen_thanh90 trong Tháng Hai 05, 2009, 06:48:46 AM
ngoài thị trường có bán men vi sinh dùng vào hầm cầu,không biết loại men này có tác dụng
thông ống cống không nhỉ
Tiêu đề: Re: chất tẩy cặn bám trên gạch men
Gửi bởi: silver trong Tháng Hai 19, 2009, 07:07:40 PM
cái men vi sinh nó   giúp phân hủy các chất hữu cơ  , đa số là chất tạo mùi hôi, như vậy nó cũng góp 1 phần không nhỏ vào việc thông ống cống
Tiêu đề: Re: Hóa học và đời sống
Gửi bởi: kan_gou_lai trong Tháng Năm 30, 2009, 02:38:30 PM
NHƯNG NỒNG ĐỘ NO2 VỪA ĐỦ LẠI LÀ NGUỒN BỔ SUNG ĐẠM CHO ĐẤT

Nhưng NO2 quá cao, cây không hấp thụ được hết (dạng uro NH4+), chuyển thành NO3-, ngấm xuống đất, chuyển vào nước => ô nhiễm nặng cho môi trường :D
Tiêu đề: cong nghê san xuat giay va bot giay
Gửi bởi: vannho_ptt_255 trong Tháng Chín 05, 2009, 08:52:18 PM
Làm ơn cho mình hỏi có ai biết tài liệu về công nghệ sản xuất giấy và bột giấy không cho mình biết nhé!!Mình đang rất cần.Cảm ơn các bạn nhiều ^ - ^ :)
Tiêu đề: Re: Hóa học và đời sống
Gửi bởi: sonquan1421988 trong Tháng Chín 06, 2009, 12:22:04 AM
Làm ơn cho mình hỏi có ai biết tài liệu về công nghệ sản xuất giấy và bột giấy không cho mình biết nhé!!Mình đang rất cần.Cảm ơn các bạn nhiều ^ - ^ :)
Bạn qua topic Hóa Hữu Cơ-Hóa dầu xem nha! Còn về tài liệu bạn có thể ra nhà Sách Bách Khoa để mua!
Tiêu đề: Re: Hóa học và đời sống
Gửi bởi: phamvietty trong Tháng Chín 18, 2009, 12:39:36 PM
Công nghệ sản xuất giấy àh? Bạn thử vào đây xem sao! http://www.ecsme.com.vn/default.aspx?tabid=282&CateID=212&MainMenuID=3
Tiêu đề: xu ly khi CO2
Gửi bởi: huynhvu_2526 trong Tháng Chín 29, 2009, 12:39:35 PM
chào các bạn!
mình đang gặp khó khăn về đồ án môn học.
mình làm về đề tài thiết kế hệ thống xử lý CO2 trong khí thải bằng hấp thụ kiểu tháp đệm. nhưng mình tìm ko ra tài liệu nói về vấn đề trên nên minh ko sao làm đc đồ án.
mình mong các bạn giúp đỡ mình với.
thanks các bạn
Tiêu đề: Re: xu ly khi CO2
Gửi bởi: tuanmoitruong trong Tháng Mười 28, 2009, 12:01:25 PM
chào các bạn!
mình đang gặp khó khăn về đồ án môn học.
mình làm về đề tài thiết kế hệ thống xử lý CO2 trong khí thải bằng hấp thụ kiểu tháp đệm. nhưng mình tìm ko ra tài liệu nói về vấn đề trên nên minh ko sao làm đc đồ án.
mình mong các bạn giúp đỡ mình với.
thanks các bạn
chào bạn!
bạn chọn đề tài này là có hơi quá sức không? bởi vì CO2 không thể sử dụng bằng hấp thụ kiểu tháp đệm được.
Đây là một đề tài lớn mang tầm Quốc tế. Nó bao gồm nhiều công đoạn công nghệ rất phức tạp và chi phí cực kỳ lớn. hiện giờ các nước có nền công nghệ tiên tiến cũng đang tiến hành nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là Canda và Úc. bạn có thể tìm trên google hy vọng là có. chúc bạn thành công!
Tiêu đề: kỹ thuật phân tích đất nông nghiệp
Gửi bởi: giahan_giavan trong Tháng Năm 18, 2010, 05:02:04 PM
 >:(hic.........không hiểu nguyên tắc xác định dung tích hấp phụ của đất!!
"cho đất tác dụng với dung dịch BaCl2 1N để đầy các ion trao đổi bị hấp phụ ra khỏi bề mặt keo đất, sauÕ đó cho đất đã hấp phụ ion Ba2+ tác dụng với lượng dư dung dịch H2SO4 0.05N và chuẩn độ lượng dư H2SO4 bằng dung dịch NaOH 0.05N"
Mọi người ai biết thì giúp mình với!!
Tiêu đề: Re: kỹ thuật phân tích đất nông nghiệp
Gửi bởi: silver trong Tháng Bảy 25, 2010, 03:09:43 PM
Việc tính toán thể tích BaCl2 chắc là dễ với bạn nhỉ.dung tích hấp thụ của đất chính là thể tích BaCl2 đã được hấp phụ
Đầu tiên ta tính lương H2SO4 dư rồi suy ra lương H2SO4 phản ứng
Tính lượng Ba2+
Ở đây dung tích hấp phụ của đất được quy về dung tích hấp phụ ion Ba2+
Tiêu đề: Re: xử lí nước thải bằng than hoạt tính
Gửi bởi: hoxuannhi trong Tháng Sáu 24, 2011, 09:49:49 AM
Chào bạn, mình là Nhi bên công ty Hoàng Thiên, chuyên sx & cung cấp than hoạt tính.
Than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) thì được ứng dụng trong:
- Lọc nước
- Xử lí khí thải
- Khử màu, khử mùi
Trong xử lí nước thải thì ứng dụng trong hấp phụ màu và chất độc.xuan_nhi124@yahoo.com.vn
Tiêu đề: Than hoạt tính K-Sky
Gửi bởi: hoxuannhi trong Tháng Sáu 24, 2011, 09:54:38 AM
Công ty TNHH Hóa Chất Môi Trường Hoàng Thiên.
Công ty chúng tôi chuyên cung sản xuất & cung cấp than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) lọc nước, lọc khí, khử mùi.
Anh/ chị có nhu cầu xin liên hệ với chúng tôi.
Mọi thông tin liên hệ: Ms Nhi 0989.488.253 or 08.626.09.234
VP: 26, đường số 2, P. Tân Phú, Q.7, Tp.HCM
Tel: 08.626.09.234/08.626.09.235
Fax: 08.626.09.232
yahoo: xuan_nhi124@yahoo.com.vn
Email: nhi.ho@k-sky.com.vn
Tiêu đề: Re: Lọc nc trong!
Gửi bởi: hoxuannhi trong Tháng Sáu 24, 2011, 10:05:21 AM
Chào bạn.
Bạn có thể lắp đặt hệ thống khử phèn. Đầu tư 1 lần, hiệu quả lâu dài. Hệ thống dùng sau 1 năm thay vật liệu lọc 1 lần.
Tiêu đề: Cách phân biệt than hoạt tính với than đốt
Gửi bởi: hoxuannhi trong Tháng Năm 09, 2012, 11:35:18 AM
Khi các bạn có nhu cầu về thanhoattinh (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com), sau khi tìm hiểu làm cho các bạn phân vân, “tại sao lại có nhiều giá cả thế?”. Và các bạn không biết chọn  mua loại nào. Hiểu được lo lắng của các bạn ở đây tôi đưa ra 2 cách để các bạn kiểm tra chất lượng than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com).
Các bạn vẫn thường lầm lẫn than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) với than đốt, than antraxit. Vì chúng có bề ngoài rất là giống nhau nhưng thật ra cấu trúc bên trong của chúng khác nhau hoàn toàn, đó là 1 đặc tính cấu trúc riêng của than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) chúng ta có thể mình thấy rõ dưới kính hiểm vi. Cấu trúc bên trong của hạt than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) trông giống như là tổ ong. Chính điều này mà than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) có thể hấp phụ được những cặn bẩn, những phân tử khí độc, khí gây mùi,…
(http://2.bp.blogspot.com/-wBlBq6HP7mw/T6niT2jT_9I/AAAAAAAAAIg/tp1_ueGcWE4/s1600/cau+truc+tht.jpeg)

*Cấu trúc của than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) có hình dạng như tổ ong*

* Ta có thể kiểm chứng cấu trúc của than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) như sau. Chúng ta lấy 1 cốc nước trắng, lấy 1 ít than cho vào trong cốc nước, nếu như thấy hiện tượng bọt khí sủi lên rất rất nhiều è đó là than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) tốt ( tại sao có hiện tượng này: vì nước đang lấp đầy các lỗ rỗng bên trong). Hiện tượng sủi bọt càng nhiều, càng lâu è chứng tỏ đó là than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) càng tốt.
* Trong quá trình sản xuất: là hạt than đã được đi qua 1 dây truyền hoạt hóa bằng hơi nước ở 1 nhiệt độ rất cao 900-1100 0C. Vì vậy mà hạt than đã được tôi luyện trở nên rắn chắc và chịu được nhiệt độ rất cao. Kiểm chứng điều này: chúng ta có thể đem hạt than đi đốt, nếu như hạt than không bị cháy thành tro è đó là than hoạt tính (http://thanhoattinhk-sky.blogspot.com) ( đối với than đốt thì sẽ bị cháy thành tro)
                                                                                                                                                                                                 Hồ Xuân Nhi
Tiêu đề: Cách phân biệt than hoạt tính với than đốt
Gửi bởi: hoxuannhi trong Tháng Sáu 19, 2012, 02:45:06 PM
Cách phân biệt than hoạt tính với than đốt

Khi các bạn có nhu cầu về than hoạt tính, sau khi tìm hiểu làm cho các bạn phân vân, “tại sao lại có nhiều giá cả thế?”. Và các bạn không biết chọn  mua loại nào. Hiểu được lo lắng của các bạn ở đây tôi đưa ra 2 cách để các bạn kiểm tra chất lượng than hoạt tính.
Các bạn vẫn thường lầm lẫn than hoạt tính với than đốt, than antraxit. Vì chúng có bề ngoài rất là giống nhau nhưng thật ra cấu trúc bên trong của chúng khác nhau hoàn toàn, đó là 1 đặc tính cấu trúc riêng của than hoạt tính chúng ta có thể mình thấy rõ dưới kính hiểm vi. Cấu trúc bên trong của hạt than hoạt tính trông giống như là tổ ong. Chính điều này mà than hoạt tính có thể hấp phụ được những cặn bẩn, những phân tử khí độc, khí gây mùi,…

*Cấu trúc của than hoạt tính có hình dạng như tổ ong*

* Ta có thể kiểm chứng cấu trúc của than hoạt tính như sau. Chúng ta lấy 1 cốc nước trắng, lấy 1 ít than cho vào trong cốc nước, nếu như thấy hiện tượng bọt khí sủi lên rất rất nhiều đó là than hoạt tính tốt ( tại sao có hiện tượng này: vì nước đang lấp đầy các lỗ rỗng bên trong). Hiện tượng sủi bọt càng nhiều, càng lâu chứng tỏ đó là than hoạt tính càng tốt.
* Trong quá trình sản xuất: là hạt than đã được đi qua 1 dây truyền hoạt hóa bằng hơi nước ở 1 nhiệt độ rất cao 900-1100 0C. Vì vậy mà hạt than đã được tôi luyện trở nên rắn chắc và chịu được nhiệt độ rất cao. Kiểm chứng điều này: chúng ta có thể đem hạt than đi đốt, nếu như hạt than không bị cháy thành tro đó là than hoạt tính ( đối với than đốt thì sẽ bị cháy thành tro)
                                                                               Hồ Xuân Nhi
Tiêu đề: Re: xử lí nước thải bằng than hoạt tính
Gửi bởi: hoxuannhi trong Tháng Sáu 19, 2012, 02:46:56 PM
Cách phân biệt than hoạt tính với than đốt

Khi các bạn có nhu cầu về than hoạt tính, sau khi tìm hiểu làm cho các bạn phân vân, “tại sao lại có nhiều giá cả thế?”. Và các bạn không biết chọn  mua loại nào. Hiểu được lo lắng của các bạn ở đây tôi đưa ra 2 cách để các bạn kiểm tra chất lượng than hoạt tính.
Các bạn vẫn thường lầm lẫn than hoạt tính với than đốt, than antraxit. Vì chúng có bề ngoài rất là giống nhau nhưng thật ra cấu trúc bên trong của chúng khác nhau hoàn toàn, đó là 1 đặc tính cấu trúc riêng của than hoạt tính chúng ta có thể mình thấy rõ dưới kính hiểm vi. Cấu trúc bên trong của hạt than hoạt tính trông giống như là tổ ong. Chính điều này mà than hoạt tính có thể hấp phụ được những cặn bẩn, những phân tử khí độc, khí gây mùi,…

*Cấu trúc của than hoạt tính có hình dạng như tổ ong*

* Ta có thể kiểm chứng cấu trúc của than hoạt tính như sau. Chúng ta lấy 1 cốc nước trắng, lấy 1 ít than cho vào trong cốc nước, nếu như thấy hiện tượng bọt khí sủi lên rất rất nhiều đó là than hoạt tính tốt ( tại sao có hiện tượng này: vì nước đang lấp đầy các lỗ rỗng bên trong). Hiện tượng sủi bọt càng nhiều, càng lâu chứng tỏ đó là than hoạt tính càng tốt.
* Trong quá trình sản xuất: là hạt than đã được đi qua 1 dây truyền hoạt hóa bằng hơi nước ở 1 nhiệt độ rất cao 900-1100 0C. Vì vậy mà hạt than đã được tôi luyện trở nên rắn chắc và chịu được nhiệt độ rất cao. Kiểm chứng điều này: chúng ta có thể đem hạt than đi đốt, nếu như hạt than không bị cháy thành tro đó là than hoạt tính ( đối với than đốt thì sẽ bị cháy thành tro)
                                                                               Hồ Xuân Nhi
Tiêu đề: Re: Lọc nc trong!
Gửi bởi: hoxuannhi trong Tháng Sáu 19, 2012, 02:47:42 PM
Cách phân biệt than hoạt tính với than đốt

Khi các bạn có nhu cầu về than hoạt tính, sau khi tìm hiểu làm cho các bạn phân vân, “tại sao lại có nhiều giá cả thế?”. Và các bạn không biết chọn  mua loại nào. Hiểu được lo lắng của các bạn ở đây tôi đưa ra 2 cách để các bạn kiểm tra chất lượng than hoạt tính.
Các bạn vẫn thường lầm lẫn than hoạt tính với than đốt, than antraxit. Vì chúng có bề ngoài rất là giống nhau nhưng thật ra cấu trúc bên trong của chúng khác nhau hoàn toàn, đó là 1 đặc tính cấu trúc riêng của than hoạt tính chúng ta có thể mình thấy rõ dưới kính hiểm vi. Cấu trúc bên trong của hạt than hoạt tính trông giống như là tổ ong. Chính điều này mà than hoạt tính có thể hấp phụ được những cặn bẩn, những phân tử khí độc, khí gây mùi,…

*Cấu trúc của than hoạt tính có hình dạng như tổ ong*

* Ta có thể kiểm chứng cấu trúc của than hoạt tính như sau. Chúng ta lấy 1 cốc nước trắng, lấy 1 ít than cho vào trong cốc nước, nếu như thấy hiện tượng bọt khí sủi lên rất rất nhiều đó là than hoạt tính tốt ( tại sao có hiện tượng này: vì nước đang lấp đầy các lỗ rỗng bên trong). Hiện tượng sủi bọt càng nhiều, càng lâu chứng tỏ đó là than hoạt tính càng tốt.
* Trong quá trình sản xuất: là hạt than đã được đi qua 1 dây truyền hoạt hóa bằng hơi nước ở 1 nhiệt độ rất cao 900-1100 0C. Vì vậy mà hạt than đã được tôi luyện trở nên rắn chắc và chịu được nhiệt độ rất cao. Kiểm chứng điều này: chúng ta có thể đem hạt than đi đốt, nếu như hạt than không bị cháy thành tro đó là than hoạt tính ( đối với than đốt thì sẽ bị cháy thành tro)
                                                                               Hồ Xuân Nhi
www.thanhoattinhkhumui.com
Tiêu đề: Re: Hóa học và môi trường
Gửi bởi: dangvietcuong98 trong Tháng Mười Hai 23, 2012, 08:25:01 AM
Ai có tài liệu về các muối độc có trong phòng thí nghiệm và tác hại của chúng với sinh vật  không ạ?
Tiêu đề: Re: Hóa học và môi trường
Gửi bởi: anhtuan_h2vn trong Tháng Mười Hai 24, 2012, 06:20:25 AM
Đa phần muối nào chả độc, độc là do tác dụng của các ion thường là ion kim loại nặng làm biết tính protein trong tế bào. Trong quyển hoá vô cơ của trường Dược Hà Nội mình học năm 1 có phần các nguyên tố có nói về tác hại của các ion với cơ thể đấy!