Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.  (Đọc 44730 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline thanhluan

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« vào lúc: Tháng Tư 18, 2007, 05:50:24 AM »
may phan lai hoa minh van khong hieu ,ban nao giup minh duoc k?

Cộng đồng Hóa học H2VN

Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« vào lúc: Tháng Tư 18, 2007, 05:50:24 AM »

Offline khoitoan

  • Yêu Tin Học và Hóa Học
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 129
    • Tin tuc An Giang
Re: Co ban nao chi giup minh may cai lai hoa duoc k?
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Tư 18, 2007, 09:08:56 AM »
may phan lai hoa minh van khong hieu ,ban nao giup minh duoc k?
Do làm biếng type lại nên mình gửi lại bài viết được cóp từ nơi khác như sau:
LAI HÓA:
sự tổ hợp của một số obitan trong một nguyên tử thành những obitan mới có dạng khác các obitan ban đầu nhưng có khả năng xen phủ cao hơn và do đó có thể tạo liên kết bền hơn. Khái niệm này được nhà hoá học Hoa Kì Paolinh L.C (L. C. Pauling) đưa ra (1939). Có nhiều kiểu LH khác nhau. Các kiểu LH giữa các obitan s và p là:

1. Kiểu LH sp là sự tổ hợp của một obitan s và một obitan p tạo thành hai obitan lai hoá sp có cùng một trục đối xứng nên còn gọi là kiểu LH thẳng. Vd. kiểu LH giữa obitan 2s và một obitan 2p của nguyên tử C trong phân tử CO2, một phân tử đường thẳng.

2. Kiểu LH sp2 là sự tổ hợp của một obitan s và hai obitan p tạo thành ba obitan lai hoá sp2. Trục đối xứng của ba obitan lai hoá sp2 nằm trên mặt phẳng và tạo với nhau những góc 120o, nên kiểu LH sp2 còn gọi là LH tam giác. Vd. kiểu LH giữa obitan 2s và hai obitan 2p của nguyên tử C trong ion CO32- là kiểu sp2 và ion CO32- có hình tam giác đều.

3. Kiểu LH sp3 là sự tổ hợp của một obitan s và ba obitan p tạo thành bốn obitan lai hoá sp3. Trục đối xứng, của bốn obitan lai hoá sp3 tạo nên với nhau ở trong không gian những góc 109o28', nghĩa là các obitan đó hướng tới các đỉnh của một tứ diện đều, nên kiểu LH này còn gọi là LH tứ diện. Vd. kiểu LH giữa obitan 2s và ba obitan 2p của nguyên tử C trong phân tử CH4 là kiểu LH sp3 và phân tử CH4 có hình tứ diện đều.

Bạn có thể tham khảo nhiều hơn trong các sách giáo khoa nhé. Chào.
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 09, 2008, 06:43:13 PM gửi bởi Lackyluc »

Offline hongbangchu

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 104
Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Mười Một 19, 2007, 08:43:42 PM »
Định luật Avogadro
--------------------------------------------------------------------------------

1. Nội dung: ở cùng một điều kiện (nhiệt độ và áp suất) những thể tích bằng nhau của mọi chất khí đều chứa số phân tử khí bằng nhau.

2. Hệ quả:

a) Thể tích mol phân tử. ở cùng điều kiện (T, P), 1 mol của mọi chất khí đều chiếm thể tích bằng nhau.

Đặc biệt, ở điều kiện tiêu chuẩn (T = 273K, P = 1atm = 760 mmHg) 1 mol khí bất kỳ chiếm thể tích 22,4 l. Thể tích này được gọi là thể tích mol ở đktc.

Công thức liên hệ giữa số mol khí (n) và thể tích (Vo) ở đktc là.

 

Khi n = 1 mol   Vo = 22,4

Khối lượng mol: M = 22,4.D

D là khối lượng riêng của chất khí đo ở đktc, tính bằng g/l.

b) Tỷ khối của khí này so với khí khác:

Tỷ khối của khí này (hay hơi) A so với khí B (ký hiệu là dA/B) là tỷ số khối lượng của 1 thể tích khí A so với khối lượng của một thể tích tương đương khí B, khi đo ở cùng T và P.



mA, mB là khối lượng của cùng thể tích khí A và khí B.

Với n mol khí thì:



c) Tỷ lệ thể tích các chất khí trong phản ứng hoá học. Các chất khí tham gia phản ứng và tạo thành sau phản ứng theo tỷ lệ thể tích đúng bằng tỷ lệ giữa các hệ số phân tử của chúng trong phương trình phản ứng và cũng chính bằng tỷ lệ mol của chúng. Ví dụ:

N2 + 3H2 = 2NH3.

Tỷ lệ mol:  1  :  3  :  2.

Tỷ lệ thể tích  :  1V  :  3V  :  2V (ở cùng T, P)
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 20, 2007, 05:12:37 PM gửi bởi Để dành »

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Tư 17, 2008, 07:35:00 PM »
(Các phần trong mục này viết theo các sách Hóa học dành cho giáo viên, các bác nào có thì cứ theo thứ tự mà post lên để các em tiện theo dõi)

Hóa 10 ban nâng cao
Lịch sử phát triển của thuyết Nguyên tử - Phân tử:

   
     Thuyết Nguyên tử - Phân tử đã xuất hiện cách đây trên 2500 năm. Lúc bấy giờ Lơxip và Democrit người Hy Lạp đã quan niệm nguyên tử là hạt nhỏ nhất của chất, không thể chia được nữa. Nguyên tử của các chất khác nhau có kích thước hình dạng và sắp xếp khác nhau. Tuy nhiên tư tưởng cho rằng mọi chất đều được cấu tạo từ nguyên tử đã bị nhà thờ Thiên Chúa giáo đàn áp và ngăn cấm.
    Đến thế kỷ XVII, giả thuyết về sự tồn tại của nguyên tử được phục hồi. Trải qua nhiều thế kỷ nhờ công lao của nhiều nhà bác học, nhưng quan niệm về nguyên tử và phân tử được củng cố và phát triển. Chẳng hạn Danton, nhà bác học người Anh (1766 - 1844) cho rằng mọi chất được cấu tạo từ những hạt nhỏ nhất, không phân chia được nữa gọi là nguyên tử. Nguyên tử không tự sinh ra và cũng không tự biến mất. Đến năm 1860, mặc dù chưa có bằng chứng cụ thể về nguyên tử phân tử nhưng những luận điểm về nguyên tử phân tử đã được các nhà bác học chính thức công nhận. Sang thể kỷ XX, nhờ hàng loạt các công trình nghiên cứu của các nhà bác học như Rodofo (1871 - 1937), Ninson Bo (1885 - 1962) thành phần cấu tạo nguyên tử và bản chất liên kết giữa các nguyên tử được xác định rõ ràng.

   Sự khám phá ra hiện tượng phóng xạ rất quan trọng đối với sự phát triển của học thuyết cấu tạo nguyên tử. Nhà bác học Pháp Bec co ren  nhận thấy rằng các hợp chất uran là những nguồn bức xạ. Bức xạ này tác dụng lên kính ảnh, ion hóa không khí , có khả năng xuyên qua những vật trong suốt. Mary Quyri và Pie Quyri tiếp tục công trình nghiên cứu của Bec co ren và khám phá ra hai nguyên tố mới là Radi và Poloni cũng có khả năng bức xạ cao. Khả năng bức xạ cũng có ở Thori, Actini và nhiều nguyên tố khác. Tính chất này được gọi là sự phóng xạ. Việc nghiên cứu các bức xạ của rađi cho thấy bức xạ này có thành phần phức tạp. Trong điện trường của từ trường, chùm bức xạ của rađi phân tách thành ba chùm tia anpha, beta và gamma. Trong điện trường các tia anpha lệch khỏi phương chuyền thẳng về phía cực âm  chứng tỏ đó là dòng mang điện tích dương. Chúng bay ra khỏi nguyên tử với tốc độ khoảng 20 000 km/s. Khối lượng mỗi hạt này là 4 đvC còn giá trị điện tích thì lớn gấp đôi điện tích của electron. Như vậy những hạt anpha là những ion heli mang điện tích 2+. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng những tính chất của rađi thấy rằng rađi bị phân rã phóng xạ tạo thành hai nguyên tố mới là heli và rađon. Như vậy hiện tượng phóng xạ đã chứng minh rằng nguyên tử không phải là không phân chia được mà gồm những hạt đơn giản hơn.

   Lúc đó giả thuyết về nguyên tử phân tử trở thành lý thuyết về phân tử nguyên tử. Ngày nay lí thuyết về Phân tử - nguyên tử cớc sở khoa học vững chắc cả về phương diện lý thuyết và thực nghiệm. Lý thuyết này là chủ đạo trong học tập và nghiên cứu Hóa học.
« Sửa lần cuối: Tháng Tư 17, 2008, 08:04:16 PM gửi bởi thantang.pro9999 »
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Tư 17, 2008, 08:02:15 PM »
Ý nghĩa của định luật tuần hoàn và bảng tuần hoàn:
   Sự phát minh ra ĐLTH, cùng với sự phát minh ra BTH các NTHH đã mở ra một kỷ nguyên mới trong HH, hóa sinh, vật lí, kim loại học, địa hóa học, hóa học thiên văn cũng như hàng loạt các ngành khoa học khác.
   Dựa trên ĐLTH, các nguyên tố hóa học và các hợp chất của chúng được nghiên cứu một cách hệ thống, từ đó các quy luật về các đơn chất và hợp chất của các nguyên tố được phát hiện.
   ĐLTH cho phép tiên đoán sự tồn tại của các nguyên tố chưa tìm ra, cho phép mô tả tính chất của các nguyên tố đó và hợp chất của chúng. Chẳng hạn như nhiều năm trước khi tím ra gali, scandi, gemani dựa trên ĐLTH Đ.I. Menđeleep đã mô tả tính chất của chúng. Tính chất các nguyên tố tìm ra về sau đã khẳng định hoàn toàn những tiên đoán của nhà bác học vĩ đại này.
  ĐLTH có giá trị to lớn trong việc giải quyết vấn đề hóa trị và khối lượng nguyên tử của một số nguyên tố. Khối lượng nguyên tử của nhiều nguyên tố đã được Menđeleep chính xác hóa dựa trên bảng TH.
  ĐLTH có vai trò to lớn trong sự phát triển thuyết cấu tạo nguyên tử. Bản thân thuyết cấu tạo nguyên tử lại giúo đi sâu hơn vào bản chất vật lí ĐLTH. Những phát minh quan trọng nhất của các nhà vật lí trong lĩnh vực cấu tạo nguyên tử thường xuyên được kiểm tra theo quan điểm của ĐLTH. Vận dụng ĐLTH, các nhà vật lý đã tổng hợp nhiều nguyên tố siêu Uran. Các nguyên tố này bổ sung vào BTH và làm BTH ngày càng hoàn thiện hơn.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Tư 17, 2008, 08:16:44 PM »
Liên kết cộng hóa trị:
   Lý thuyết về liên kết ion do Côtxen đề xướng. Liên kết ion được hình thành giữa kim loại điển hình và phi kim điển hình. Lý thuyết này không thể giải thích được sự hình thành một số lớn phân tử được tạo nên bởi cùng một nguyên tử như H2, Cl2... hoặc của các nguyên tố gần giống nhau như CO2, SO2...
   Năm 1916, nhà hóa học Mỹ Liuyt đã đưa ra giả thuyết: Trong phân tử được tạo nên từ các nguyên tố phi kim, liên kết hóa học giữa hai nguyên tử được thực hiện bởi cặp electron dùng chung, do đó mỗi nguyên tử đều có cấu hình ngoài cùng bền vững của nguyên tử khí hiếm. Trong liên kết cộng hóa trị, cặp eletron dùng chung được phân bố chính giữa không gian hai hạt nhân tham gia liên kết. Do đó người ta nói liên kết cộng hóa trị có tính định hướng không gian.
   Electron của mỗi nguyên tử có khả năng tham gia liên kết là electron hóa trị. Số electron hóa trị là có hạn nên số nguyên tử liên kết với 1 nguyên tử bị hạn chế. Chẳng hạn trong hợp chất của clo với hidro chỉ có 1 nguyên tử H liên kết với 1 nguyên tử Cl tạo thành phân tử HCl mà không thể có nhiều hơn. Đó là tính chất bão hòa của liên kết cộng hóa trị.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Tư 18, 2008, 10:17:07 AM »
Thuyết lai hoá:
    Khái niệm lai hóa được Pauly đưa ra trong khuôn khổ thuyết liên kết hóa trị. Theo ông, khi tham gia vào liên kết các electron hóa trị của một nguyên tử không tham gia một cách riêng rẽ với nhau, mà những obital của chúng trộn lẫn với nhau tạo thành một tổ hợp tốt nhất để có thể tạo thành liên kết bền hơn. Hiện tượng tổ hợp các obital nguyên tử trong một nguyên tử gọi là hiện tượng lai hóa.
    Các obital tương đương với nhau được tổ hợp nên gọi là obital lai hóa. Những obital lai hóa của một nguyên tử có kích thước và hình dạng hoàn toàn giống nhau, chỉ khác nhau về hướng trong không gian. Đặc điểm hình học của các obital lai hóa là một đầu mở rộng, còn đầu kia bị thu hẹp.
    Số obital lai hóa bằng số obital tham gia lai hóa.
    Các obital tham gia lai hóa phải có năng lượng gần bằng nhau
    Để giải thích dạng hình học của phân tử người ta phải dùng đến khái niệm lai hóa.
Ví dụ: Xét phân tử BeCl2. Be có Z = 4: 1s2 2s2. Ở trạng thái kích thích, một obital đã ghép đôi trên obital 2s tách ra, chuyển sang obital 2p. Khi đó nguyên tử Be có 2 e độc thân, một trên obital 2s và 1 trên obital 2p. Vì 2 obital tham gia liên kết có dạng hình học và năng lượng khác nhau, người ta có thể nghĩ rằng hai liên kết Be - Cl khác nhau. Tuy nhiên trên thực tế hai liên kết này hoàn toàn đồng nhất, nằm trên cùng một đường thẳng hướng về hai phía khác nhau. Điều này chỉ có thể giải thích bằng hiện tượng lai hóa các obital nguyên tử. Trước khi tham gia liên kết, obital 2s và 2p của Be tổ hợp lại, tạo thành hai obital hoàn toàn tương đương nhau, nằm trên cùng một đường thẳng nhưng ngược chiều. Người ta gọi đó là obital lai hóa sp, lai hóa đường thẳng. Hai obital lai hóa sp này che phủ với hai obital 2p chứa e độc thân của 2 nguyên tử clo tạo thành liên kết bền vứng hơn so với các liên kết tạo bởi obital s và p không lai hoá. Bằng cách tương tự người ta giải thích được dạng tam giác đều của BF3 là do hiện tượng lai hóa sp2 của B hay dạng tứ diện đều của CH4 là do dạng lai hóa sp3 của C.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Tư 18, 2008, 09:14:37 PM »
Tinh thể:
   Tinh thể là trạng thái tồn tại vật chất mà ở đó có sự phân bố tuần hoàn theo những quy luật nhất định tạo thành mạng lưới không gian đều đặn giữa các đơn vị cấu trúc (nguyên tử, ion, phân tử). Thí dụ: Tinh thể muối ăn NaCl (đơn vị cấu trúc Na+, Cl-), tinh thể kim cương (đơn vị cấu trúc C), tinh thể CO2 (đơn vị cấu trúc CO2).
   Tinh thể là dạng cấu trúc lí tưởng của vật chất ở trạng thái rắn, là dạng có trật tự cao nhất của sự sắp xếp vật chất. Ở dạng tinh thể thế năng tương tác giữa các đơn vị cấu trúc lớn hơn hẳn động năng chuyển động nhiệt của các vi hạt đó. Các vi hạt hầu như chỉ dao động quanh vị trí cân bằng.
   Liên kết hóa học giữa các đơn vị cấu trúc trong mạng tinh thể là:
+ Liên kết ion giữa các ion (NaCl)
+ Liên kết cộng hóa trị giữa các nguyên tử (C trong kim cương).
+ Liên kết do tương tác yếu giữa các phân tử (CO2 trong tinh thể CO2)
   Chất vô định hình là dạng tồn tại vật chất ở trạng thái rắn. Khác với tinh thể, trong chất vô định hình các vi hạt không được sắp xếp theo một trật tự xác định. Chất vô định hình không có nhiệt độ nóng chẩy xác định. Chẳng hạn, thủy tinh là một chất vô định hình, nhiệt độ nóng chẩy của thủy tinh tăng liên tục khi nấu chẩy để thổi các dụng cụ.
   Thực tế không có ranh giới rõ rệt giữa các dạng tinh thể với các dạng vô định hình. Nếu được quan sát dưới kính hiển vi có độ phóng đại cao thì cấu trúc vi tinh thể cũng được tìm thấy trong thủy tinh.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Tư 18, 2008, 09:24:47 PM »
Liên kết kim loại:
   Đa số kim loại có kiểu mạng tinh thể kim loại. Tại những nút mạng là những nguyên tử kim loại và ion kim loại. Trong một thể tích nào đó có thể sếp nhiều nhất bao nhiêu quả cầu có bán kính bằng bán kính nguyên tử kim loại thì trong vùng thể tích đó của kim loại có thể xếp bấy nhiêu nguyên tử kim loại. Đó là nguyên tắc sắp xếp thống nhất của các nguyên tử kim loại trong mạng tinh thể và được gọi là cách sắp xếp xít sao nhất của các nguyên tử kim loại. Hai kiểu sắp xếp sít sao nhất là kiểu lập phương tâm diện và lục phương.
   Các kim loại có tính chất lí học chung như có ánh kim, dẻo, dẫn điện, dẫn nhiệt tốt... mà tinh thể của nguyên tố phi kim không có. Điều đó cho thấy trong mạng tinh thể kim loại gồm có các ion dương kim loại và eletron hóa trị chuyển động tự do trong toàn mạng tinh thể. Thuyết này đã giải thích khá thành công một cách định tính những tính chất chung của kim loại, nhưng nó gặp khó khăn khi giải thích chi tiết các tính chất. Khó khăn đó đã được giải quyết khi vận dụng cơ học lượng tử vào để giải thích bản chất liên kết kim loại.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Tư 18, 2008, 09:42:01 PM »
Phản ứng oxi hóa - khử:
   Một số chất oxi hóa quan trọng F2, O2, O3, Cl2, HClO, KClO3, H2SO4 đ,n, HNO3, MnO2, K2Cr2O7.
   Một số chất khử quan trọng: Kim loại, H2 (Đặc biệt là H), HI, Fe2+, H2S, NH3, C, CO, HCl...
Dựa vào đặc điểm chất oxi hóa và chất khử người ta phân loại phản ứng oxi hóa - khử:
+ Chất khử và chất oxi hóa nằm ở các phân tử khác nhau.
+ Phản ứng oxi hóa khử nội phân tử: Chất oxi hóa và chất khử khác nhau nhưng nằm trong cùng một phân tử.
+ Phản ứng tự oxi hóa, tự khử: Một nguyên tố vừa là chất oxi hóa vừa là chất khử.
Ở một số phản ứng oxi hóa - khử ngoài chất oxi hóa và chất khủ còn có chất không thay đổi số oxi hóa. Chất đó đóng vai trò môi trường.
Ví dụ: K2Cr2O7 + 3H2S + 4H2SO4 ---> K2SO4 + Cr2(SO4)3 + 3S + 7H2O
Trong phản ứng này H2SO4 đóng vai trò môi trường. Chất đóng vai trò môi trường có thể là axit, kiềm hay trung tính (H2O).
   Chất oxi hóa càng mạnh khi phản ứng sẽ làm cho số oxi hóa của chất khử tăng lên càng cao. Thí dụ: H2S là chất khử khi tác dụng với chất oxi hóa yếu sẽ biến thành S, nhưng khi tác dụng với chất oxi hóa mạnh sẽ biến thành H2SO4.
   Tương tự, chất khử càng mạnh khi phản ứng với chất oxi hóa làm cho số oxi hóa của chất oxi hóa giảm đi càng mạnh. Thí dụ: H2SO4 là chất oxi hóa, khi tác dụng với chất khử yếu sẽ biến thành SO2, nhưng khi tác dụng với chất khử mạnh sẽ biến thành H2S.
   Khả năng oxi hóa, khử của các chất oxi hóa, chất khử còn có thể phụ thuộc vào môi trường như KMnO4 trong axit biến thành Mn2+, trong kiềm biến thành K2MnO4, trung tính thì tạo MnO2.
   Một số phản ứng oxi hóa khử chỉ có thể xẩy ra dưới tác dụng của dòng điện. Quá trình đó gọi là sự điện phân.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Tư 19, 2008, 06:18:40 AM »
Halogen:
   Trong bảng "Một số đặc điểm của Halogen" (Bảng 5.1 SGK), nhìn chung các tính chất vật lý, hóa học biến đổi có quy luật, riêng sự biến đổi về năng lượng của liên kết X - X có sự bất thường ở phân tử Cl2 (Năng lượng liên kết vượt trội so với các Halogen trong nhóm). Điều này được giải thích như sau: Trong phân tử Cl2, Br2, I2 ngoài liên kết xicma còn có một phần liên kết pi tạo bởi cặp electron chưa tham gia liên kết ở obital p của nguyên tử này với obital d còn trống của nguyên tử kia theo kiểu cho nhận, flo không có obital d nên không có khả năng này. Clo thuộc chu kì 3 nên khả năng này là lớn nhất, từ clo đến iôt năng lượng liên kết giảm dần khi độ dài liên kết tăng.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Tư 19, 2008, 11:05:58 AM »
Clo và sự phá hủy tầng ozon:
+ Năm 1774, nhà hóa học Thụy Điển Sile lần đầu tiên tìm ra nguyên tố clo bằng cách cho HCl tác dụng lên khoáng vật piroluzit (MnO2). Tên gọi clo là lấy từ tiếng Hy Lạp "chloros" có nghĩa là vàng lục. Để khử trùng nước máy người ta thường cho thêm 4 - 5% clo vào nước.
+ Một trong những nguyên nhân làm suy giảm tầng ozon là do việc sử dụng chất freon, dẫn xuất halogen của CH4 và C2H6. Freon được dùng nhiều trong kĩ thuật lạnh (chất tải lạnh), dung môi cho mọt số mỹ phẩm dạng bình xịt...Dưới tác dụng của các tia tử ngoại, freon phân ly tạo ra gốc Cl. tự do, gốc này sẽ tham gia phản ứng dây truyền với hàng trăm hàng ngàn phân tử O3:
O3 ---> O + O2
Cl. + O3 ---> ClO. + O2
ClO. + O ---> Cl. + O2
Do tác hại phá hủy tầng ozon, ngày nay người ta dần thay thế hợp chất freon bằng các hợp chất khác.
+ Một nguyên nhân nữa phá hủy tầng ozon là do Cl2 hay HCl sinh ra từ quá trình tự nhiên (núi lửa), nhân tạo, dưới tác dụng của tia tử ngoại xẩy ra các phản ứng dây truyền:
Cl2 --hv--> 2Cl.
Cl. + O3 ---> ClO. + O2
ClO. --hv--> Cl. + O
ClO. + O ---> Cl. + O2.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Tư 19, 2008, 11:15:29 AM »
Nước Javen và axit Hipocloro:
   Tên gọi nước Javen là do lần đầu tiên được Bectole điều chế ở thành phố Javen gần Pari (Pháp). Trong công nghiệp, nước Javen được điều chế bằng cách điện phân dung dịch muối ăn 15 - 20% trong thùng điện phân không có màng ngăn với cực âm bằng titan và cực dương bằng than chì.
   Nước Javen có tính oxi hóa mạnh là do tính oxi hóa của axit hipocloro. Axit hipocloro là axit rất yếu, yếu hơn cả axit H2CO3, trong dung dịch nó bị chuyển hóa theo ba kiểu khác nhau:
HClO ---> HCl + O        (1)
2HClO ---> H2O + Cl2O    (2)
3HClO ---> 2HCl + HClO3  (3)
Dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời hay sự có mặt của chất khử, sự phân hủy HClO xẩy ra theo hướng 1. Phản ứng 2 xẩy ra khi có chất hút nước. Phản ứng 3 xẩy ra đặc biệt dễ khi đun nóng, điều này giải thích tại sao khi cho khí clo tác dụng với dung dịch kiềm đun nóng lại cho muối clorat.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Tư 19, 2008, 11:33:56 AM »
Brom:
   Tên gọi brom bắt nguồn từ chữ bromos, tiếng Hy Lạp có nghĩa là hôi, thối. Brom được tìm ra một cách ngẫu nhiên vào năm 1862 bởi Bala, trợ lí PTN của một trường trung cấp dược ở thành phố Mongpơliê nước Pháp. Trong quá trình điều chế các muối kết tinh luôn luôn còn lại lượng dung dịch không kết tinh được nữa đó gọi là nước cái. Bala cho nước clo vào nước cái, ông thấy dung dịch phân thành hai lớp, lớp trên có mầu nâu đỏ, lớp dưới khi cho dd tinh bột vào thì có mầu xanh nước biển. Thời ấy I2 đã được tìm ra và Bala hiểu ngay lớp dưới chứa I2. Ông nghiên cứu tính chất của lớp trên và thấy tính chất của nó tương tự clo và iot. Trong báo cáo gửi về viện hàn lâm khoa học Pari năm 1826 với đầu đề "Thông báo về một chất đặc biết chứa trong nước biển", Bala đề nghị đặt tên cho chất mới này là Murie, theo tiếng La tinh có nghĩa là nước mặn. Ủy ban thẩm định kết quả nghiên cứu của Bala do viện hàn lâm khoa học cử ra, trong đó có nhà Hóa học nổi tiếng Gay-Luyxac đã xác nhận kết quả nghiên cứu của Bala và đề nghị đặt tên nguyên tố mới là Brom.
   Tuy nhiên, trong nhiều năm trước đó, một công ty công nghiệp hóa chất ở Đức đã gửi cho nhà Hóa học Đức Li-bic một chai nước cái có mầu nâu như mầu của chai nước mà Bala đã tìm ra và đề nghị nhà bác học cho ý kiến. Nhưng nhà hóa học Đức này đã không phân tích nghiêm túc, cho rằng chất lỏng là hợp chất của clo và iot. Khi nghe tin Bala được công nhận quyền phát minh đối với brom, Li-bic phân tích chất lỏng trong bình thì đúng là brom. Ông bực tức nói:"Không phải Bala đã tìm ra brom mà brom đã tìm ra Bala". :P
« Sửa lần cuối: Tháng Tư 19, 2008, 11:41:25 AM gửi bởi thantang.pro9999 »
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Tư 19, 2008, 04:17:29 PM »
Iốt:
Tên goị iot có nghĩa là mầu tím.
Phản ứng của bột Al với I2 xẩy ra khi nung nóng hoặc được khơi mào bằng vài giọt nước. Trong một bát sứ có hỗn hợp bột Al và bột iot nghiền nhỏ, ta nhỏ vài giọt nước bằng pipet (không nhỏ nhiều). Thoạt tiên trên bề mặt hỗn hợp bốc lên một làn khói mầu tím rồi toàn hỗn hợp nóng đỏ dần lên.
Có thể giải thích hiện tượng này như sau: Khi nước tiếp xúc với iot xẩy ra phản ứng tạo thành axit iothidric và axit hipoiotơ:
I2 + H2O ---> HI + HIO
Axit iothidric là axit rất mạnh, tác dụng với màng mỏng nhôm oxit , phản ứng tạo thành nhôm iotua dễ tan trong nước:
Al2O3 + 6HI ---> 2AlI3 + 3H2O
Phản ứng này phá huỷ màng oxit trên bề mặt kim loại và bấy giờ nhôm phản ứng với oxi không khí và toả ra nhiệt lượng lớn.
4Al + 3O2 ---> 2Al2O3
Ở nhiệt độ cao, Al bắt đầu tác dụng với I2 tạo thành AlI3:
2Al + 3I2 ---> 2AlI3
Phản ứng này cũng toả nhiều nhiệt nhờ đó hỗn hợp được nung nóng, AlI3 bị hoá hơi và khi đó tác dụng với oxi không khí tạo thành hơi I2 mầu tím:
4AlI3 + 3O2 ---> 2Al2O3 + 6I2
Hơi I2 xuất hiện còn do sự thăng hoa một phần iot trong hỗn hợp ở nhiệt độ cao, giai đoạn cuối của phản ứng bột nhôm bị nung nóng cũng bốc cháy.
Phản ứng của I2 ở trạng thái rắn và H2 là phản ứng thu nhiệt, tuy nhiên nếu I2 ở thể hơi thì lại toả nhiệt, tuy nhiên nhiệt toả ra không đủ để I2 biến đổi trạng thái. Do đó cần chú ý dạng tồn tại của I2 khi viết PTPU.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...