Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.  (Đọc 44268 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Tư 22, 2008, 07:55:27 PM »
Vấn đề cần thống nhất trong chương Oxi - Lưu huỳnh:
   Trong SGK có đưa ra quy luật về sự biến đổi tính chất của các nguyên tố nhóm Oxi, giải thích quy luật này là đơn giản. Việc giải thích quy luật về độ bền của các hợp chất với hidro và tính axit của các hidroxit không đặt ra với học sinh, tuy nhiên các thầy cô cũng cần có cách giải quyết thống nhất khi học sinh đề nghị được giải thích.
   Độ bền của các hợp chất với hidro (H2R) của các nguyên tố nhóm oxi phụ thuộc độ bền của liên kết R - H. Từ O đến Te, bán kính nguyên tử R tăng, độ âm điện giảm, khoảng cách từ tâm nguyên tử R đến tâm nguyên tử H tăng, độ bền liên kết R - H giảm.
   Phân tử hidroxit R(OH)n có hai khả năng phân ly: Sự phân li theo kiểu đứt liên kết R - O, kết quả tách ra ion OH-, hidroxit sẽ thể hiện tính bazo, sự phân li theo kiểu đứt liên kết O - H, kết quả tách ion H+, hidroxit thể hiện tính axit. Mỗi kiểu phân li phụ thuộc độ bền liên kết R - O và liên kết H - O. Bán kính của ion Rn+ tăng từ S đến Te (khi điện tích của nó không thay đổi) dẫn đến khoảng cách giữa tâm ion Rn+ với tâm ion O2- tăng, lực hút tĩnh điện tương hỗ của các ion này giảm, khả năng phân li theo kiểu tạo ion OH- tăng, vì vậy tính axit của hidroxit giảm. Tuy nhiên cách giải thích trên còn chưa tính đến khả năng tương tác của các ion RO-, H+, Rn+ và OH- với phân tử dung môi H2O, vì vậy việc so sánh tính axit của các hidroxit trong cùng một nhóm A của bảng tuần hoàn phải đảm bảo hai yếu tố: Cùng trong 1 dung môi và cùng số oxi hóa của R.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Cộng đồng Hóa học H2VN

Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Tư 22, 2008, 07:55:27 PM »

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Tư 22, 2008, 08:30:25 PM »
Ozon:
   Tên ozon theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là khí có mùi, do ozon có mùi đặc biệt. Trong khí quyển gần mặt đất ozon có hàm lượng rất thấp, nhưng ở độ cao cách mặt đất từ 10 - 50 km trong tầng bình lưu ozon lại tập chung thành lớp. Khoảng 90% ozon nằm trong độ cao 19 - 23 km. Do có tính oxi hóa mạnh nên ozon có hoạt tính sinh lí cao, vì vậy nếu trong không khí hàm lượng ozon vượt quá nồng độ giới hạn sinh thái cho phép sẽ trở thành tác nhân gây ô nhiễm. Đối với cơ thể người, nồng độ ozon giới hạn sinh thái là 6 microgam/lit, đối với thực vật là 15 microgam/lit. Người mắc bệnh lao được điều dưỡng ở khu vực rừng thông  với nồng độ ozon khoảng 3 microgam/lit. Tầng ozon là lá chắn bảo vệ sinh quyển, các bức xạ tử ngoại vũ trụ có bước sóng từ 0,200 - 0,280 micromet gọi là UV-C, từ 0,280 - 0,320 gọi là UV-B, từ 320 - 400 gọi là UV-A. Trong số các tia tử ngoại đó thì UV-B là nguy hiểm nhất đối với động vật, thực vật và con người. Tia UV-C bị hấp thụ bởi các thành phần khác trong khí quyển, tia UV-A xuyên qua được tầng ozon, tia UV-B được hấp thụ bởi tầng ozon theo một cân bằng động:
O3 + hv ---> O2 + O
O2 + hv ---> O + O
O + O2 ---> O3
Các tác nhân làm phá vỡ cân bằng trên sẽ gây ra hiện tượng lỗ thủng tầng ozon (Xem bài bên trên), gây ảnh hưởng đến con người và động thực vật.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline tho_bong_xu_muong

  • keep movin' forward
  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 98
  • breaking free
Re: định luật Avogađrô
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Sáu 02, 2008, 04:11:19 PM »
Tiện đây đố mọi người biết cách xác định số N bằng pp điện phân đó! ;D

dễ nhất Hà Nội đêy'! ;D
i'm coming back for more...

Offline MagicianValky

  • 418565860
  • Cựu thành viên BQT
  • Gold Member H2VN
  • ****
  • Bài viết: 370
  • Dark Magician Girl ^^
    • http://www.h2vn.com
Re: định luật Avogađrô
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Sáu 07, 2008, 08:29:41 PM »
Tiện đây đố mọi người biết cách xác định số N bằng pp điện phân đó! ;D

dễ nhất Hà Nội đêy'! ;D

Khó wa' . Mình làm thử nhé  ;D
Ta đp 1 dd AgNO3 đã b' nồng độ và thể tích. Giả sử 1l dd 0,2 M chẳng hạn.
Sau đó ta dùng dòng điện 1,34A để điện phân.
 Sau 1 thời gian đp hoàn toàn dd thì ta b' đc sẽ có 0,2 mol Ag thoát ra. Thời gian điện phân hoàn toàn ta đo đc là "t". Theo pt Faraday ta có
nAg = I x t / ( 1( số e trao đổi ở đây là 1) x F ( Hằng số Faraday )
mà ta đã b' nAg; I ( cường độ dòng điện ) ; t ( thời gian điện phân )
=> ta tính đc F . Vì F là điện tích của 1 mol e
=> F = 1,602 x 10^-19 x N ( số Avogadro )
=> Ta tính đc . ;)
Ko có gì là ko thể trừ những cái ko thể thật  :D :D :D :D :D

Offline nhoc con

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Bảy 22, 2008, 08:18:57 PM »
Tên gọi"nước Javen" là do lần dầu tiên được Béc-tô-lê(C.Berthollet)điều chế ở thành phố Gia-ven gần Pari(pháp).Trong công nghiệp,nước javen được điều chế bằng cách điện phân dung dịch muối ăn(15-20%) trong thùng điện phân không có màng ngăn với cực âm(anốt) bằng than chì.Một số nhà máy hóa chất ở nước ta có sản xuất nước javen như nhà máy hóa chất Việt Trì,nhà máy hóa chất nằm trong khu vực công nghiệp giấy Bãi bằng(Phú thọ).Nước javen có tính oxxi hóa mạnh của axit hipoclorơ.Ãit hipoclorơ là axit rất yếu,yếu hơn cả axit caacbonic.Trong dung dịch axit hipoclorơ bị chuyển hóa theo 3 kiểu khá nhau:
 HClO->HCl + O
 2HClO->H2O+ Cl2O
 3HClO->2HCl +HClO3
Dưới tác dụng ánh sáng mặt trời hay có mặt chất khử,sự phân hủy HClO xảy ra theo phản ứng (1).phản ứng 2 xảy ra đặc biệt dễ khi đun nóng,điều này cho phép chúng ta giải thích vì sao khi clo phản ứng với dung dịch kiềm đun nóng cho sản phẩm muối clorat

Offline chó săn

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 37
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Bảy 23, 2008, 09:43:51 PM »
phenoltalein thực ra là chất gì vậy ? hình như nó cũng là một chất hóa học và khi chuyển sang màu hồng trong môi trường bazơ ức là phản ứng hóa học, vậy cho mình hỏi, nó có công thức hóa học là gì và phản ứng với bazo xảy ra thế nào ?
Học để tự mình hoàn chỉnh bản thân

Offline 2K2+

  • Hướng dương xanh
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 551
  • Van Hốp
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Bảy 23, 2008, 10:53:44 PM »
phenoltalein thực ra là chất gì vậy ? hình như nó cũng là một chất hóa học và khi chuyển sang màu hồng trong môi trường bazơ ức là phản ứng hóa học, vậy cho mình hỏi, nó có công thức hóa học là gì và phản ứng với bazo xảy ra thế nào ?
"+ Chất chỉ thị màu ( kí hiệu HIn ) là một acid hữu cơ yếu được dùng với một lượng nhỏ trong các phản ứng chuẩn độ hoặc dùng để nhận biết các dung dịch có tính acid hay baz.
                    HIn (aq)      <--->  H+     +       In-        (aq : trong nước )
   Trong chương trình học ở phổ thông ta hay dùng chất chỉ thị màu là Phenolphtalein chuyển hồng khi gặp môi trường baz tức có nồng độ OH- lớn hơn. Như ta đã nói trên các chất chỉ thị màu đều là các acid nên có khả năng phóng thích ion H+, nếu trong dung dịch có nhiều H+ thì chẳng khác nào lửa đổ thêm dầu do đó cân bằng dịch chuyển sang trái tức các proton HIn có mặt nhiều hơn ( HIn tức phenol có màu trong suốt  cho nên trong môi trường acid, phenolphtalein co màu trong suốt luôn
   - Ngược lại ở môi trường có nhiều ion OH- cân bằng sẽ chuyển dịch sang phải tức Ion In- sẽ xuất hiện nhiều hơn và mang đến cho dung dịch màu sắc của nó ( In- ở đây là phenol... có màu hồng ) do đó lập tức một màu hồng hiện lên hay chính là lời thông báo anh này chính là một baz.

+ Mình xin nói thêm về một loại chất chỉ thị màu khác thường được sữ dụng ở phòng thí nghiệm đại học đó là bromocrezol
   Nguyên bản thì nó mang màu xanh tức ở môi trường acid nó sẽ cho màu xanh ngược lại khi gặp môi trường baz tức H+ kết hợp với OH- làm cho cân bằng chuyển dịch sang phải tạo In- (ở đây In- có màu vàng)   dung dịch lúc này sẽ có màu vàng !"
Copy từ: http://www.a4pro.net/thread_view.php?forum_id=23&thread_id=980&page=4


Một số thuốc thử thông dụng

Thuốc thử Benedict :

Dùng để kiểm tra sự có mặt của đường khử trong dung dịch mẫu. Thuốc thử Benedict không có mặt trên thị trường hóa chất tại Việt Nam. Pha chế thuốc thử trong phòng thí nghiệm chỉ là một giải pháp tức thời vì chúng được tạo trong một môi trường không mấy tinh khiết và sản phẩm tạo ra không có tính ổn định cao, nếu có điều kiện các bạn nên mua thuốc thử ở một số công ty Hóa Chất, hoặc đặt hàng từ nước ngoài. Nhân đây tôi có sưu tập và biên soạn lại các phương pháp pha chế một số thuốc thử thông dụng trong phòng thí nghiệm mong rằng bài viết này sẽ trở nên hữu ích cho công việc của các bạn.

Thuốc thử Barfoed:

Thuốc thử này trông giống thuốc thử Benedict nhưng hơi khác một chút . Dung dịch được chuẩn bị bằng cách hòa tan 70g Đồng acetat monohydrat với 9ml axít acetic băng trong nước sau đó đưa vào bình định mức 1lít rồi thêm nước cho đến vạch định mức, dung dịch có thể sử dụng trong thời hạn một năm.

Khi 1ml dung dịch thuốc thử này được đun nóng với 5 giọt chất mẫu, kết quả dương tính đối với monosacarit là sự hình thành kết tủa đỏ gạch tồn tại trong vòng 5 phút. Còn disacarit nhìn chung không thấy phản ứng xảy ra sau 10 phút đun nóng với thuốc thử. Kết tủa sẽ không đóng váng như khi thử với thuốc thử Benedict.

Thuốc thử Benedict:

Chúng tôi thường dùng thuốc thử bán trên thị trường vì nó có tính ổn định cao hơn dung dịch pha chế trong phòng thí nghiệm. Hiện nay ở Việt Nam chưa thấy xuất hiện thuốc thử này, thường nếu muốn mua bạn phải nhập khẩu. Dung dịch pha chế trong phòng thí nghiệm được phân ra hai loại, một là dung dịch thô dùng cho phân tích định tính, hai là dùng cho phân tích định lượng:

Với dung dịch thô tiến hành như sau: trước hết hòa tan 100g Na2CO3 và 173g Natri Citrat dihydrat trong 850ml nước, khuấy đều và cho từ từ dung dịch của 17.3 g Đồng sulfat trong 100ml nước. Sau đó thêm hỗn hợp vào bình định mức 1lít và thêm nước đến vạch chỉ định, thuốc thử có thể sử dụng lâu dài.
Trong 600ml nước nóng hòa tan các chất sau:
- 200g Natri citrat (C6H5Na3O7)

- 75g Natri cabonat

- 125g Kali thiocynat

Trong 100ml nước hòa tan

- 18g CuSO4.5H2O

Khi các dung dịch đã nguội trộn chúng với nhau và khuấy đều sau đó thêm 5ml dung dịch Kali

Ferocyanit rồi thêm nước vào cho đủ 1lít.



Khi 1ml dung dịch thuốc thử được đun nóng với 5 giọt chất mẫu trong một cốc nước, dấu hiệu tích cực khi kiểm tra sự có mặt của đường khử là hình thành kết tủa trong 5 phút. Khoảng biến màu từ xanh lá cho đến vàng rồi chuyển qua màu cam sau đó là màu đỏ gạch tùy thuộc vào hàm lượng đường khử có trong chất mẫu; với một mẫu chứa 1% glucose thì màu của kết tủa thường là đỏ gạch.





Thuốc thử Bial:

Hòa tan 3 g orcinol (C7H8O2) trong 500 mL axít HCl đậm đặc, thêm 2,5 ml dung dịch feric clorua hexahydrat 10% và hòa tan hỗn hợp thành 1lít với nước và lúc này HCl xấp xỉ 6M. Thuốc thử chỉ bền trong vòng vài tuần, nhưng tôi chưa thử để lâu hơn, bạn hãy thử xem sao. Thuốc thử Bial được pha chế theo cách cổ điển được chuẩn bị trong 1lít HCl đậm đặc không pha loãng với nước. Dung dịch này phản ứng nhanh hơn (30-60 giây) nhưng kém bền so với thuốc thử pha chế bằng phương pháp nêu trên và hơi của HCl đậm đặc là cả một vấn đề nan giải. Và bạn cũng có thể dùng HCl 4M vẫn phản ứng tốt nhưng chậm và cho màu yếu hơn.

Khi 1ml dd thuôc thử được đun nóng với 5 giọt chất mẫu trong một cốc nước thì dấu hiệu tích cực với pentose(phân tử đường chứa 5 cacbon) là sử đổi màu dung dịch từ xanh lá sang xanh da trời trong chốc lát.



Biuret Reagent:

Thêm 300ml dung dịch NaOH 10% về thể tích vào 500ml dung dịch chứa 0.3% đồng sulfat pentahydrat và 1.2% Kali Tartrat (C4H4K2O6) khuấy đều rồi pha loãng thành 1lít dung dịch. Sau đó để dung dịch ở chỗ tối ngay để tránh thuốc thử bị biến tính.

Thuốc thử có thể dùng trong phân tích định tính và định lượng. Trong một phản ứng tiêu biểu một phần thể tích của mẫu được trộn với 2 phần thể tích của thuốc thử; tỉ số tối giản phụ thuộc vào nồng độ tối đa của protein mà bạn muốn phát hiện. Sự xuất hiện của protein sẽ cho ra màu tìm với bước sóng hấp thụ khoảng 550-555nm, chúng tôi thường đọc được ở 540nm.

Bradford''''''''s Reagent: Hòa tan 100mg Coomassie Blue G-250 (C41H44N3NaO6S2) trong 50 mL etanol 95%, Thêm 100ml dung dịch axít photphoric 85%, và pha loãng đến 1lít. Thuốc thử cần được lọc ít nhất một lần, nếu thấy chưa hài lòng bạn có thể lọc 2 đến 3 lần khi thấy kết tủa xuất hiện trong duc dịch. Thuốc thử Bradford có bán trên thị trường với cấu trúc tương đối bền. Tôi nghe một số người nói rằng công thức của Sigma dùng 40ml metanol 4% và 120ml photphoric axít 10%. Tôi đã thử nhưng không thấy gì tốt hơn phương pháp cổ điển cả. Người ta nói dung dịch này kém bền nhưng tôi đã dùng cả năm nay không thấy vấn đề gì.

Để định lượng protein hãy trộn 0.25ml mẫu với 2.5 ml thuốc thử Bradford. Sau 5 phút đo phổ hấp thụ ở 595nm. Một điểm bất lợi của thuốc thử này là nó cho ra một khoảng trắng dài làm ảnh hưởng đến kết quả đọc phổ bởi vì một số thuốc thử dính chặt với cuvét. Một điểm bất lợi khác nữa là thuốc thử này rất nhạy với dung dịch tẩy rửa nếu như dụng cụ thủy tinh không được rửa lại sạch thì có nghĩa là bạn đang nghiên cứu về khả năng hòa tan của màng protien trong chất tẩy rửa.

DNSA Reagent:

Thuốc thử này dùng để phát hiện nhóm khử cuối mạch của hydrocarbon và tôi thấy nó rất hữu dụng trong nhiều thí nghiệm. Thành phần của nó là 1% của 3,5-dinitrosalicylic Axít (DNSA), 30% Natri Kali Tartrat và 0.4M NaOH. Thuốc thử này rất bền và sau vài năm cất trữ có một vài vẫn đen xuất hiện trong dung dịch, mặc dù cũ nhưng vẫn sử dụng tốt.

Trong một phản ứng tiêu biểu, cùng một thể tích của mẫu và thuốc thử được đun nóng trong cốc nước sôi khoảng 10 phút. Sau đó để nguội và đó pha loãng với 10 phần thể tích nước đo phổ hấp thụ thu được bước sóng 540nm. Tôi thường dùng khoảng 0.4 ml mẫu và DNSA và sau khi đun nóng hòa tan với 4ml nước, thu được một hỗn hợp vừa đủ để chạy phổ hấp thụ. Khi không có nhóm khử nào xuất hiện thì màu thu được là màu vàng và khoảng hấp thụ từ 0.03-0.05, dấu hiệu tích cực là màu đỏ tạo thành với khoảng hấp thụ trên 1.0.



Thuốc thử Lowry:

Thuốc thử 1: trộn lẫn một phần thể tích thuốc thử B (0.5% đồng sulfat pentahydrat, 1% Kali tartrat) với 50 phần thể tích của thuốc thử A (2% Natri carbonat, 0.4% NaOH). Cả hai thuốc thử A và B bền trong một thời gian tương đối dài nhưng tôi thấy thuốc thử B xuất hiện kết tủa có nghĩa là nó nhắc tôi cho thêm một ít NaOH.

Thuốc thử 2: Hòa tan thuốc thử Folin-Ciocalteu phenol thương mại với một lượng nước bằng về thể tích , thuốc thử sẽ bền trong vài tuần.

Để định lượng protein trộn 0.25ml dung dịch chứa protein với 2.5 ml thuốc thử Lowry. Sau 10 phút thêm 0.25ml thuốc thử Lowry 2 và lắc đều. Sau 30 phút đo phổ hấp thụ ở 750nm.(Nếu bạn dùng Spectronic 20 với một ống photo thông thường thì 750nm là quá dài, nhưng ở 600nm cho kết quả hấp thụ thấp hơn nhưng vẫn còn chấp nhận được.)



Thuốc thử Seliwanoff:

Hòa tan 1g resorcinol (C7H8O2) trong 300ml HCl đậm đặc sau đó pha loãng thành 1lít (lúc này HCl xấp xỉ 4M). Thuốc thử này có thể cất được hơn một năm.

Khi 1ml thuốc thử được đun nóng với 5 giọt chất mẫu trong một cốc nước đang sôi, một dấu hiệu tích cực đối với monosacarit có chứa nhóm ceton là sự chuyển màu của dung dịch từ vàng cam sang đỏ trong vòng 5 phút. Trong một số tài liệu khác thì nói rằng màu quả mơ là kết quả âm tính. Màu sắc của thí nghiệm kết quả phụ thuộc vào nồng độ của chất mẫu, và một vài loại đường như glucose thì không biến màu thậm chí sau mười phút trong thuốc thử.

Ngoài ra còn rất nhiều loại thuốc thử thường dùng trong thực tế để phúc vụ cho nhiều mục dich như : đánh giá pH , nhận biết sự có mắt của chất , nghiên cứu..... Trong số đó có các loại như phenoltalein , quỳ tím , metyl da cam , metyl vàng ,.........
Copy từ: http://www.vietsweet.com/diendan/archive/index.php/t-9024.html


Offline Kr_Chemboy

  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 822
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Bảy 27, 2008, 11:06:56 AM »
Cho e hỏi có các loại quì nào, e được bít bazơ làm quì đỏ hóa xanh, acid làm quì xanh hóa đỏ>>quì tím có phải trung gian 2 loại quì này không???và có pứ gì hông?

Offline khanh

  • HClO4
  • Cựu thành viên BQT
  • Gold Member H2VN
  • ****
  • Bài viết: 807
    • www.h2vn.com
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Bảy 28, 2008, 11:23:06 AM »
Cho e hỏi có các loại quì nào, e được bít bazơ làm quì đỏ hóa xanh, acid làm quì xanh hóa đỏ>>quì tím có phải trung gian 2 loại quì này không???và có pứ gì hông?
More information about litmus:
http://en.wikipedia.org/wiki/Litmus_test_%28chemistry%29
Ngày đó, ngày đó sẽ không xa xôi. Và chính ta sẽ là người chiến thắng

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Tám 14, 2008, 08:47:57 PM »
Em mới vào lớp 10 nên còn chưa hiểu hết về hóa 10 mấy anh chị ai biết có sách nào giảng giải về chương nguyên tử của hóa 10 hay web nào có giải thích về chương nguyên tử của hóa 10 thì giúp em với nha em cám ơn mấy anh chị rất nhìu.
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline Lý Thế Dân

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 50
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Tám 20, 2008, 04:47:41 PM »
Phương pháp MO (Obitan phân tử)
   Nói cung nếu khảo sát liên kết giữa các nguyên tử thì anh thích phương pháp này hơn vì nó gần với vật lý hơn.
  
Áp dụng lý thuyết về hàm sóng của Schodingrơ vào nguyên tử, người ta suy ra trnạg thái năng lượng của các obitan khi chúng tổ hợp với nhau (mà lai hóa là một trường hợp riêng). Ở đây chỉ xét sự tổ hợp của hai obitan có cùng mức năng lượng(VD: s với s, p với p...). Khi hai obitan này tổ hợp sẽ tạo ra hai obitan mới. Ví dụ hai s-s tổ hợp cho hai obitan σs và σs*. Trong đó σscó mức năng lượng thấp hơn mức năng lượng của obitan s (σ)và σs* có mức năng lượng cao hơn (định luật bảo toàn năng lượng) và được gọi là obitan phản liên kết, có dấu * ở trên. Cái kia được gọi là obitan liên kết.
  
   Xét trên cùng một lớp, trên hai nguyên tử của cùng một nguyên tố: hai obitan s tổn hợp thành σs và σs*. Hai obitan p dạng σ (gọi là pz)tổ hợp cho σz và σ*z.Riêng với hai obitan p dạng π gắn với nhau nên người ta viết px=py. Bốn obitan tổ hợp cho hai πxy và hai πx*=πy*.Ta có thứ tự về mức năng lượng của chúng như sau
σss*<σzxyx*=πy*<σ*z.

   Các electron sẽ dần chiếm các obitan này từ mức thấp đến cao và mỗi obitan chứa 2 e . Ví dụ phân tử oxi có 16 electron và 12 e lớp ngoài cùng sẽ xếp như sau:
σs:2e
σs*:2e
σz:2e
πxy:4e
πx*=πy*:2e

Độ bội liên kết tính bằng công thức:N=(n-n*)/2 với n là số e liên kết (trong các obitan liên kết) và n* là số e phản liên kết. Theo công thức này đọ bội của liên kết trong phân tử oxi là 2.
Mặt khác 2 e trong πx*=πy* là hai e độ thân nên phân tử oxi có tính thuận từ như tài liệu GK chuyên hóa 10 t2 đề cập
« Sửa lần cuối: Tháng Hai 19, 2009, 10:46:57 PM gửi bởi Để dành »
Tang taizong

Offline Bé Mít

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 3
phân vân sách nào đúng?
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Hai 05, 2009, 08:56:25 PM »
Trong sách bài tập hóa học 11. trang 27 có câu hỏi để đề phòng bị nhiễm độc CO người ta sử dụng mặt nạ phòng độc chứa hóa chất là đáp án than hoạt tính.
Trong khi đó sách HÓA HỌC VÔ CƠ của tác giả Hoàng Nhâm nhà xuất bản giáo dục trang 114 viết : trong mặt nạ phòng độc CO  người ta ko dùng than hoạt tính là dùng hỗn hợp MnO2 và CuO. :o

Offline Tung-hnue

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 25
  • =*Hoá Hai *Vô Đối*=
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Hai 19, 2009, 05:32:05 PM »
Tôi đi bác ơi, ai bảo xác đinh F là dễ. Cái hằng số đấy chỉ lệch có 1 tẹo khối lượng tủa, tầm 0,01g thui là đã bị lệch đến mấy chục ngàn roài. Chiều nay tui vừa mới làm TN cái đấy nè. Khiếp đảm, về mất hơn 1h xử lý số liệu mà vẫn chưa ưng ý :((
Although we had no money
I was rich as I could be
In my coat of many colors
My momma made for me
:X

Offline bebo193

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 9
tốc độ phản ứng hóa học
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Ba 26, 2009, 09:25:16 PM »
cho em hỏi nguyên nhân nhiệt độ ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng hóc học

Offline hazumi

  • Global Moderator
  • Yêu... Hóa học
  • *****
  • Bài viết: 107
  • Hóa học trong tôi
Re: Thông tin bổ sung cho các bài học SGK.
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Ba 26, 2009, 09:37:48 PM »
cho em hỏi nguyên nhân nhiệt độ ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng hóc học
Vì khi tăng nhiệt độ, các phân tử chuyển động nhanh hơn,vì thế sự va chạm sẽ xãy ra nhiều hơn, làm tốc độ pư tăng