Loading

Like H2VN trên Facebook

Thăm dò

Bari sunfat có tan trong axit không?

5 (71.4%)
Không
2 (28.6%)
Tôi không quan tâm
0 (0%)
Nhảm nhí quá
0 (0%)

Tổng số phiếu: 7

Bình chọn khóa lại: Tháng Tám 05, 2007, 10:12:06 AM

Tác giả Chủ đề: Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!  (Đọc 22962 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline hoakhtn

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 6
Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« vào lúc: Tháng Chín 02, 2006, 10:30:08 AM »
Cấu trúc và tính bền của những dạng nhôm hydroxit :
    Một nghiên cứu lý thuyết
Nhôm hydroxit là tiền chất (precursors) của metastable aluninas, chất được sử dụng rất nhiều trong công nghiệp xúc tác. Nó là điểm khởi đầu để hiểu các quá trình biến đổi và cấu trúc của các metastable aluninas chuyển tiếp. Sử dụng những tính toán từ nguyên lý mật độ thực nghiệm thứ nhất (first principle density functional) nhiều hình thái - polymorph với những mức độ hydrat khác nhau được đưa ra - are simulated: gibbsite, bayerit, diaspore, boehmite, và tohdite. Tối ưu hóa cấu trúc, bao gồm những thông số của ô mạng - cell parameters , vị trí của nguyên tử và khoảng trống giữa các nhóm - space groups được tính toán và so sánh với những dữ liệu tinh thể thực nghiệm. Trong một vài trường hợp, cấu trúc của một số hình thái được tìm ra có sự định hướng của liên kết hydrogen khác nhau. Nghiên cứu tính bền nhiệt động học dưới tác động của nhiệt độ chỉ ra những xu hướng chính: ở nhiệt độ càng cao thì các chất có mức độ hydrat càng thấp. Hơn nữa, giới hạn nhiệt độ bền của những dạng hình thái khác nhau được tính toán, dự đoán và so sánh với những dữ liệu thực nghiệm có sẵn ở những nhiệt độ chuyển tiếp.

1.   Giới thiệu

Những aluminas chuyển tiếp, như  -alumina, được sử dụng rất rộng rãi trong công nghệ tinh chế như là chất mang xúc tác. Mặc dù có rất nhiều những nghiên cứu đã được thực hiện trên những hệ này nhưng cấu trúc tinh thể chính xác của chúng vẫn còn nhiều điều cần phải làm sáng tỏ. Nhôm hydroxit là dạng tiền chất hydrat của những aluninas chuyển tiếp. Quá trình giải hydrat hóa chủ yếu được xác định bởi cấu trúc của tiền chất (Hình 1). Ví dụ như bắt đầu từ boehmite, quá trình giải hydrat dẫn tới dạng - alumina bền (corundum) thông qua rất nhiều dạng  aluminas chuyển tiếp như -, -, và -Al2O3. Bắt đầu từ bayerite hoặc gibbsite, ba dạng khác của aluminas chuyển tiếp, như  , , hay  được quan sát trên đường biến đổi của corundum. Tuy nhiên, khi diaspore được sử dụng như hydroxit tiền chất thì quá trình tương tự trực tiếp tạo thành pha corundum bền mà không đi qua chuỗi aluminas chuyển tiếp ---. Vì vậy, sự hình thành của những aluminas chuyển tiếp cũng như những tính chất của cấu trúc này tùy thuộc vào loại nhôm hydroxit dùng ban đầu. Điều này giải thích tại sao những nghiên cứu về lý thuyết về cấu trúc và năng lượng của những dạng nhôm hydroxit đối với chúng ta có vai trò như những bước căn bản cần thiết để khám phá xa hơn về cấu trúc của những aluminas chuyển tiếp. Nhôm hydroxit có công thức chung là (Al2O3. xH2O) trong đó x thể hiện mức độ hydrat hóa. Giá trị cực tiểu, x = 0, tương ứng với aluminas stoichiometry. Tùy theo giá trị của x, các dạng hydroxit khác nhau được phân biệt - distinguished. Về thực nghiệm, có ít nhất sáu dạng nhôm hydroxit khác nhau được phân biệt:
+ Nhôm trihydroxit Al(OH)3, với x = 3, là dạng gibbsite (-Al(OH)3), bayerite (-Al(OH)3), và nordstrandite.
+ Nhôm monohydroxit AlOOH, với x = 1, là dạng boehmite (-AlOOH) và diaspore(-AlOOH).
+ Một dạng bị giải hydrat nhiều hơn là tohdite (5Al2O3. H2O), tương ứng với
x = 0,2.
Gibbsite, bayerite, diaspore và boehmite là những chất rắn trong tự nhiên. Ví dụ như boehmite là thành phần chính của nhiều quặng bauxite. Tất cả các hình thái có thể được điều chế trong phòng thí nghiệm bằng nhiều phương pháp khác nhau. Tùy thuộc vào điều kiện nhiệt độ và pH, bốn dạng trong những cấu trúc này ( gibbsiet, bayerite, nordstrandite và boehmite) có thể điều chế bằng phương pháp kết tủa trong dung dịch những muối nhôm. Một hỗn hợp những sản phẩm khác thường được khôi phục - recovered với cấu trúc vô định hình - amorphous nhiều hay ít. Một cách khác để tổng hợp là dùng phương pháp Hydrothermal. Đây là phương pháp duy nhất có thể điều chế được tohdite. Trong trường hợp này, áp suất hơi nước và nhiệt độ là những yếu tố chủ chốt để kiểm soát tính chất của dạng hình thái tạo thành.
Những dạng hình thái khác nhau có nhiều đặc điểm về cấu trúc giống nhau: chúng gồm mạng oxygen well-defined, tạo thành những vết nứt nhỏ. Những nguyên tử nhôm nằm ở những vết nứt và chúng có số phối trí 8 (octahedrally coordinated), ngoại trừ trường hợp của tohdite, chất có 20% nguyên tử nhôm có số phối trí 4 (in a tetrahedral environment). Tính đối xứng - the symmetry của mạng lứơi oxygen chi phối đến loại sản phẩm được tạo thành sau quá trình giải hydrat hóa. Chẳng hạn như hexagonal ABAB xếp chồng lên nhau trong những lớp ở dạng diaspore sẽ tạo thành hexagonal -alumina, trong khi ABC xếp chồng lên nhau trong những lớp ở dạng boehmite dẫn đến dạng lập phương tâm thể -alumina. Cuối cùng, sự hiện diện của những liên kết hydrogen trong những chất này đóng vai trò cơ bản , khi chúng làm cho sự liên kết giữa các lớp trong cấu trúc của bohmite, gibbsite và bayerite thêm chặt chẽ.
   Nhôm hydroxit đã được nghiên cứu rất nhiều bởi nhiều phương pháp thực nghiệm khác nhau. Cụ thể như nhiễu xạ tia X (XRD) là phương pháp rất ổn định để tìm ra hình thù của ô mạng cơ sở (cell shape) và vị trí của những nguyên tử nhôm và oxygen. Tuy nhiên vị trí của những nguyên tử hydrogen, mà từ đó tìm được khoảng cách giữa các nhóm (space group), vẫn còn là điều cần phải tìm ra trong nhiều hình thái. Đã có nhiều thí nghiệm được tiến hành tuy còn nhiều hạn chế như XRD và nhiễu xạ neutron, phổ Raman, phổ IR hay phổ NMR trên những mẫu … (deuterated samples). Gần đây, nhiều khám phá đã được đưa ra về diaspore bởi Winkler, về boehmite và gibbsite bởi Wolverton và Hass, về bayerite và gibbsite bởi Gale, về boehmite và diaspore bởi Rosso và Rustad. Những nghiên cứu sau đó tập trung vào AlOOH stoichiometry và mô hình hóa lý thuyết nhiều dạng hình thái của AlOOH. Bề mặt và những tính chất hình thái của boehmite đã được tìm ra bởi Raybaud bằng kỹ thuật DFT, trong khi sự biến đổi của boehmite thành -alumina vẫn còn là vấn đề của những nghiên cứu lý thuyết. Những nghiên cứu sau đó đã đề xuất vai trò cốt lõi (key role) của tiền chất hydrat cho sự mô tả cấu trúc của alumina sau cùng tốt hơn.
   Trong nghiên cứu này, chúng tôi giới thiệu nghiên cứu lý thuyết thứ nhất được mở rộng cho tất cả các dạng hình thái hydroxit và so sánh cấu trúc của chúng với những đặc điểm về năng lượng. Chúng tôi mô tả trong phần 2 những khía cạnh kỹ thuật của những tính toán ab initio và xác định tính đối xứng. Trong phần 3, chúng tôi giới thiệu những kết quả đạt được trong cân bằng hình học cấu trúc của diaspore, boehmite, bayerite, gibbsite và tohdite. Một phần của sự chú ý tập trung vào ảnh hưởng của vị trí của những nguyên tử hydro trong năng lượng vào cấu trúc hình học. Một kiểu mẫu nhiệt động học đơn giản sẽ mang lại những khám phá mới để giải thích mối tương quan về tính bền giữa các dạng hình thái khác nhau, dưới tác động của nhiệt độ. Đối với cả những tính chất cấu trúc hay năng lượng, những kết quả thu được sẽ được so sánh với những dữ liệu có sẵn trong những tài liệu.
(trích Luận văn, còn tiếp tục)

Cộng đồng Hóa học H2VN

Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« vào lúc: Tháng Chín 02, 2006, 10:30:08 AM »

Offline khoitoan

  • Yêu Tin Học và Hóa Học
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 129
    • Tin tuc An Giang
Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Mười 19, 2006, 01:16:06 PM »
Các nhà khoa học tuyên bố đã phát hiện một [wiki]nguyên tố siêu nặng[/wiki] mới, mang tên 118, mặc dù nó chỉ tồn tại trong phần triệu giây sau nhiều tháng thí nghiệm.

Các nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore ở California, Mỹ, và Viện nghiên cứu hạt nhân của Nga ở Dubna phỏng đoán rằng nguyên tố mới là một khí quý nằm dưới nguyên tố radon trong bảng tuần hoàn.

Trong những cuộc thí nghiệm mới nhất, nhóm đã tấn công nguyên tố califoni với 1019 ion [wiki]canxi[/wiki] để tạo ra 2 nguyên tử của nguyên tố 118. Những nguyên tử này, hay [wiki]ununoctium[/wiki], chỉ tồn tại trong 0,9 triệu giây. Tiếp đến, nguyên tố này dần phân rã thành nguyên tố 116, rồi 114.

Cuối cùng, nguyên tố 118 đã trở thành nguyên tố mới thứ 5 được các nhà khoa học tìm thấy cho tới nay (113, 114, 115, 116 và giờ là 118).

Năm 2002, các nhà nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley ở California cũng tuyên bố rằng tìm thấy nguyên tố 118, nhưng sau này đã bị chứng minh là gian lận.

"Mọi thứ chúng tôi làm đều được kiểm tra kỹ lưỡng. Chúng tôi làm mọi cách để đảm bảo không có sai lầm trong xử lý dữ liệu và tránh gây ra một vụ gian lận quốc tế", Ken Moody, người đứng đầu nhóm nghiên cứu tại Livermore, cho biết.

Offline Hieuclass

  • Nhóm Tông Đồ đội trưởng
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 248
  • Không bao giờ thất vọng
Phát triển thành công các phân tử nối với nhau bằng liên kết cơ học.
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Mười 23, 2006, 01:47:20 PM »


Một nhóm các nhà khoa học Anh vừa phát triển được một nhóm phân tử mới có thể nối với nhau bằng mối liên kết cơ học chặt chẽ thay vì nối với nhau bằng mối liên kết hóa học.

Các nhà khoa học đã đặt tên cho các hợp chất có nhóm phân tử mới lạ này là “chuỗi alkan” - “suitanes” dựa trên việc chúng giống “phần bán thân” của một người với hai hoặc nhiều hơn hai “chi” (mối liên kết) và khoác trên mình một chiếc “quần yếm” liền của em bé. Số nhánh liên kết của hợp chất được biểu thị bằng cách thêm các con số vào tên của hợp chất - Ví dụ, một suit[2]ane cho ta biết hợp chất này có 2 nhánh, một suit[3]ane có 3 nhánh và suit[4]ane có 4 nhánh. Một suitane 5 nhánh trông giống như một con búp bê mặc mộc chiếc quần yếm liền gồm 5 bộ phận liên kết: 2 chân, 2 tay và 1 cái đầu.

 
Một số phân tử nước (Ảnh: watershot)
 
Dẫn đầu nhóm nghiên cứu là nhà khoa học James Fraser Stoddart (trường đại học California, Los Angeles) và giáo sư danh dự hóa học David Williams (Imperial College, Luân Đôn). Nhóm nghiên cứu đã tổng hợp thành công một đại diện tiêu biểu đơn giản nhất của loại hợp chất này: suit[2]ane.

Đầu tiên, họ sử dụng một phần mềm chuyên dụng tấn công vào phân tử để thử độ bền của nó. Phân tử bên trong – tức phần “cơ thể” – nhất thiết phải hơi cứng, có hình chữ nhật và chuỗi alkan phải gồm các phân tử linh động có thể lắp ráp chung quanh phần “cơ thể” từ một vài nhánh liên rẽ ban đầu. Giống như 1 bộ quần áo được may khéo léo, tất cả các hợp chất riêng biệt đó phải liên kết hoàn hảo với nhau về hình dáng, kích thước cũng như nhóm chức năng.

Khởi đầu, các nhà nghiên cứu tạo ra 1 khung phân tử cứng, thẳng: một trung tâm nhỏ nhắn (1 vòng thơm ở trung tâm) gắn với 2 “bờ vai” căng phồng (hệ thống chuỗi anthracene), mỗi “bờ vai” lần lượt nối với “cánh tay” phân tử.

Tiếp theo, phân tử được lắp ráp vào chuỗi alkan và chuỗi ankan cứ thế lần lượt được thêm vào và cuối cùng được “khâu vá” để có thể gắn kết với nhau: trong quá trình phân tử tự sắp xếp, 2 phân tử vòng benzen lớn (hay phân tử ete hình 5 cạnh) gắn vào phân tử như nối tay áo vào “cánh tay” vậy. Phần thân trên, cánh tay, và tay áo phân tử có các liên kết hóa học để hỗ trợ giữ chặt tay áo phân tử.

Bước kế tiếp, thêm vào 1 phân tử khác nhỏ hơn (vòng thơm). Mỗi phân tử này chứa 2 nhóm nguyên tử (nhóm amino), và được xếp đặt vị trí liên kết phù hợp toàn phân tử với nhau; mỗi phân tử này được thiết kế để tiến vào lực liên kết phân tử với nhau và liên kết với 1 điểm trên mỗi cánh tay áo phân tử.

Ở bước cuối cùng, thành lập mối liên kết hóa học ở 4 điểm tiếp xúc này; do đó vòng thơm nối 2 cánh tay phân tử với 1 phân tử đơn cấu tạo cồng kềnh, phân tử cồng kềnh này hoàn toàn gắn chặt với phần trên của phân tử đó mà không nối bằng liên kết hóa học.

Nhà khoa học Stoddart, người trưởng thành ở Scotland phát biểu: “Khám phá cách nối 1 phân tử với 1 phân tử khác là bước đầu để xây dựng nên những hệ thống nhân tạo như tế bào sống chẳng hạn. Và ý tưởng cho tên gọi hợp chất mới lạ này bắt nguồn khi tôi ngắm con trai của mình mặc một chiếc quần yếm liền có tên là onesie, một từ của Mỹ mà tôi chưa từng nghe trước đó.”

Onesie là chiếc quần yếm liền dành cho trẻ sơ sinh hoặc em bé.

Nghiên cứu đã được đăng trong tập san hóa học Angewandte Chemie Đức vào tháng này.


                                           Theo ScienceDaily, Sở KH & CN Đồng Nai
Hieuclass

Offline thefrigidkiller

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 41
  • NaClO
Re: Cấu trúc và tính bền của những dạng nhôm hydroxit
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Một 07, 2007, 03:56:22 PM »
bài viết của u là khá hay,chỉ duy có 1 điều: mình chẳng hiều pp DFT là gì cả.u có thể giải thích dùm mình ko? ;D<a href="http://" target="_blank" class="new_win">http://</a>
TIME LOST IS NEVER FOUND

Offline conghung

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 36
Re: Bổ sung nguyên tố mới cho bảng tuần hoàn
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Ba 20, 2007, 02:01:59 PM »
đến nay đã tìm tới nguyên tố thứ 112 rồi bạn à

Offline binlalong

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 2
Re: Cấu trúc và tính bền của những dạng nhôm hydroxit
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Tư 12, 2007, 12:36:26 PM »
Xin chào bạn hoakhtn.Mình thật sự quan tâm đến bài viết của bạn về tính bền của các hidroxxit nhôm.Bạn có thể up lên tóm lược tổng thể về bài viêt này của bạn được không.

Offline Michael Ho

  • Thất bại là mẹ của thành công.
  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 57
  • Hãy biết đối mặt với sự thật.
Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2007, 01:07:43 PM »
Các bạn có biết kim loại Li ti đứng đầu nhóm kim loại kiềm và nhẹ nhất có công dụng gì trong cuộc sống không?

 
Khi cho thêm Liti và hợp chất của Liti vào thuỷ tinh thì có thể làm tăng cường độ và tính bền của thuỷ tinh, tăng cường tính quang học, có điện trở suất cao, có thể chịu được sự ăn mòn của axit, kiềm, sự nở vì nhiệt cũng không gây nguy hiểm lớn, thường được sử dụng trong công nghiệp hoá học và các dụng cụ quang học.

 
Liti có thể làm giảm nhiệt độ nung kết, rút ngắn thời gian sản xuất. Nâng cao tính chịu mài mòn, ăn mòn, làm cho đồ sứ có bề mặt nhẵn, bóng, chế phẩm càng chắc bền, khi nhiệt độ có những biến hoá mãnh liệt cũng không bị biến dạng hoặc nứt vỡ. Đem lớp sứ chứa Liti lót lên trên bề mặt sắt thép, nhôm, magiê... thì sẽ hình thành một tầng lót vừa mỏng vừa nhẹ, bóng nhẵn lại chịu nhiệt, có thể dùng làm buồng đốt nhiên liệu cho máy phun khí, tầng bảo vệ ở vỏ ngoài của tên lửa, đạn đạo...

Trong các bệnh viện, các cơ sở công cộng, nhà máy, xí nghiệp, thậm chí ngay trong tàu  ngầm, dùng máy lạnh, sử dụng Bromua Liti để chống chế không khí có thể tạo nên môi trường dễ chịu, mát mẻ...

Trong các nghành sản xuất của công nghiệp cơ khí cũng có thể tìm thấy “dấu tích“ của Liti. Mọi người đều biết rằng các loại máy to, nhỏ đủ kiểu cũng đều cần dùng chất bôi trơn mà cho thêm hợp chất của Liti thì có thể cải thiện đáng kể hiệu năng bôi trơn, tiết kiệm lượng dùng dầu mỡ, giảm bớt mài mòn các linh kiện, kéo dài tuổi thọ của các máy móc. Các chất bôi trơn thông thường tương đối “khó tính”, nóng thì bay hơi, lạnh thì đông kết lại. Nhưng dùng vật liệu bôi trơn đặc chủng chế thành từ hợp chất của Liti thì lại chịu được tình trạng nóng, lạnh nói trên: ở nhiệt độ thấp - 500C cũng không bị đông kết, ở nhiệt độ cao khoảng 2000C, mà không bị biến thành khí. Trong vùng giá băng địa cực hay ở vùng nhiệt đới xích đạo nóng như thiêu như đốt, chúng đều hoạt động bình thường, hiện nay nó được sử dụng trở thành phổ biến trong các máy đo trang thiết bị cơ giới của nghành hàng không, động lực, luyện kim. Có người gọi đó là: “chất bôi trơn loại vĩnh cửu”.

Liti kết hợp với Hydrô thành Liti hidrua ở dạng bột màu trắng. Loại bột này gặp nước là phát sinh phản ứng hoá học mãnh liệt tạo ra lượng lớn Hydro. Sau khi phân giải, 2kg Liti Hydrua có thể tạo thành 5664lít khí Hydro. Quả thực, Liti Hydrua không thẹn với cái tên: “Nhà máy sản xuất Hydro”, lúc cần nó có thể phát huy tác dụng cứu sinh như dùng viên Litihydrua để sản suất Hydro đưa vào áo nổi , phao nổi....

Lợi dụng tính dễ kết hợp với các phi kim và các tạp chất như than, các chất silicat, nghành luyện kim dùng nó  để trừ khử các khí, lưu huỳnh, cacbon ...làm cho sản phẩm càng sít đặc, bền chắc. Chỉ cần cho thêm vào mấy phần vạn hay tới mấy phần mười vạn Liti là có thể nhận ra hiệu quả rõ rệt. Ví dụ như cho thêm Liti vào Đồng thì Đồng càng thêm sít đặc, nâng cao cường độ cơ giới, cũng tăng cường khả năng dẫn điện của nó ...

Liti cùng với Nhôm, Magiê, Bơili hợp tác tạo nên hợp kim vừa bền, vừa chịu va đập tốt dùng trong chế tạo đạn đạo, hoả tiễn, máy bay....

Hợp chất của Liti trong ngành công nghiệp dệt cũng phát huy vai trò làm cho sản phẩm xenlulozo có màu sắc tươi đẹp hơn...

Trong nông nghiệp, muối Liti được dùng làm một số loại phân bón có tác dụng làm tăng khả năng kháng bệnh của nhiều loại nông sản như: lúa, dứa, bông, cây ăn quả...

Từ năm 1817 khi nhà khoa học người Thuỵ Điển L.Apuetron lần đầu tiên nhận biết và tìm ra thì Liti chỉ là đối tượng trong phòng thí nghiệm, thì nay Liti đã phát huy tác dụng to lớn của mình trong sản xuất và đời sống hằng ngày của chúng ta. 

Khi sống chúng ta nên đặt ra những ước mơ để làm mục tiêu phấn đấu. Nếu thực hiện được thì càng tốt, còn nếu không chúng ta hãy tươi cười và bảo rằng "Dẫu sao thì mơ ước cũng chỉ là một ước mơ mà thôi".

Offline Tun Coi 08

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 68
Re: Liti trong sản xuất và đời sống.
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2007, 04:37:24 PM »
Cho mình hỏi bạn một chút:
Thứ nhất: bài viết trên là bạn rút ra từ những kiến thức hóa học của mình hay là bạn đọc dịch tài liệu ở đâu khác ??
Thứ hai: Để tạo thành LiH bạn nói từ phản ứng Li+ H2 rồi sau đó lại thu lấy H2 từ phản ứng giữa LiH với nước. Nghĩa là nguồn H2 thu được thực chất chỉ là nguồn H2 mà bạn lấy để điều chế ra LiH ? Vậy phải chăng Li có thể đựoc coi chất cất giữ hidro ?? để vận chuyển khí H2 từ nơi này đến nơi khác ?
Thứ 3: Trong môi trường tự nhiên thì nguồn cung cấp LiH có thể lấy từ đâu ra ??
Đề tài mình theo đuổi là điều chế H2 vì thế bài viết của bạn giúp mình rất nhiều. Thanks nhé !
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 14, 2007, 04:41:52 PM gửi bởi hoahoc_ru »

Offline ..::: Bùi Nhật An :::..

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 512
  • Simple is the Best
    • Mr.An's site!
Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Tám 02, 2007, 10:12:06 AM »
Một tính chất của BaSO4. Mọi người tham gia trả lời nhé. Sau đây là bài đầu tiên:  :D
Li
NHẸ NHẤT TRONG SỐ CÁC KIM LOẠI

  Năm 1967, liti  - nguyên tố đứng đầu tiên trong số các kim loại trong Hệ thống tuần hoàn của Đ.I. Menđeleep đã kỷ niệm 150 năm ngày nó được tìm ra. Lễ kỷ niệm này diễn ra lúc liti đang ở buổi sung sức: hoạt  động của nó trong kỹ thuật hiện đại thật là thú vị và nhiều mặt. Thế mà các nhà chuyên môn vẫn cho rằng, liti vẫn hoàn toàn chưa bộc lộ hết mọi khả năng của mình và họ tiên đoán cho nó một tiền đồ rộng lớn. Nhưng, mời  bạn, chúng ta hãy thực hiện một cuộc du lãm vào thế kỷ vừa qua, hãy ngó vào phòng thí nghiệm tĩnh mịch của nhà hóa học Thụy Điển tên là Iohan  Apgut  Acfvetxơn  (Johann  August  Arvedson).  Đây  là  nước Thụy điển năm 1817.
  ... Đó là  ngày mà nhà bác học tiến hành phân tích khoáng vật petalit tìm được ở mỏ Uto gần Stockholm. Ông đã kiểm tra đi kiểm tra lại những kết quả phân tích, nhưng cứ mỗi lần như vậy, ông đều chỉ nhận được tổng số các thành phần là 96%. Vậy thì mất vào đâu 4%? Sẽ ra sao nếu như...? Phải rồi, không còn nghi ngờ gì nữa: khoáng vật này có chứa một nguyên tố mới mà từ trước tới nay  chưa  có  ai  biết.  Acfvetxơn  làm  hết  thí  nghiệm  này  đến  thí nghiệm  khác  và  cuối  cùng  đã  đạt  được  mục  đích:  một  kim  loại kiềm  mới  đã  được  phát  hiện.  Bởi  vì,  khác  với  những  “người  họ hàng” gần gũi của mình - kali và natri mà lần đầu tiên được tìm thấy  trong  các  sản  phẩm  hữu  cơ,  nguyên  tố  mới  này  được phát hiện trong một khoáng vật, nên nhà bác học đã quyết định gọi nó là liti (theo tiếng Hy Lạp, “liteos” nghĩa là đá).
  Ít lâu sau, Acfvetxơn lại tìm thấy nguyên tố này trong các khoáng vật khác, còn nhà hóa học Thụy Điển nổi tiếng Berzelius thì lại phát hiện ra nó trong nước khoáng ở Cacxbat và ở Mariebat. Nhân đây cũng nói thêm rằng, ngày nay, các nguồn nước suối chữa bệnh ở Visi (nước Pháp) sở dĩ nổi tiếng khắp nơi về những tính chất chữa bệnh rất tốt chính là vì trong đó có các muối liti.
Năm 1818, nhà bác học người Anh là Humphry Davy lần đầu tiên đã tách được những hạt liti tinh khiết bằng cách điện phân hiđroxit của nó, rồi đến năm 1855, một cách độc lập với nhau, nhà hoa  học  Robert  Bunsen  người  Đức  và  nhà  vật  lý  học  Matissen người Anh đã điều chế được liti nguyên chất bằng cách điện phân liti clorua nóng chảy. Đó là một kim loại mềm, trắng như bạc, nhẹ hơn nước gần hai lần. Về mặt này thì liti không gặp một đối thủ nào trong số các kim loại: nhôm nặng hơn nó năm lần, sắt - 15 lần, chì - 20 lần, còn osimi - 40 lần! Ngay ở nhiệt độ trong phòng, liti cũng phản ứng mãnh liệt với oxi và nitơ của không khí. Bạn hãy thử để một mẩu liti trong bình  thủy  tinh  có  nút  mài  nhám.  Mẩu  kim  loại  này  sẽ  hút  hết không khí có trong bình: trong bình xuất hiện chân không và áp suất khí quyển “ấn” vào nút mạnh tới nỗi các bạn khó mà  kéo nó ra được. Vì vậy, bảo quản liti là một việc khá phức tạp. Nếu như natri  chẳng  hạn,  có  thể  bảo  quản  dễ  dàng  trong  dầu  hoả  hoặc xăng, thì đối với liti, không thể dùng cách ấy được, vì nó sẽ nổi lên và  bốc  cháy  ngay  tức  khắc.  Để  bảo  quản  các  thỏi  liti,  người  ta thường dìm chúng vào trong bể chứa vazơlin hoặc parafin, những chất này bao quanh kim loại và không cho nó bộc lộ tính “háu” phản ứng của mình.
  Liti còn kết hợp mạnh mẽ hơn với hiđro. Chỉ một lượng nhỏ kim loại này cũng có thể liên kết với một thể tích hiđrô rất lớn: trong  1  kilôgam  liti  hiđrua  có  2.800  lít  khí  hiđro!  Trong  những năm  Chiến  tranh  thế  giới  thứ  2,  các  viên  phi  công  Mỹ  đã  dùng những viên liti  hiđrua làm nguồn hiđrô mang theo bên mình. Họ sử dụng chúng khi gặp nạn ngoài biển: dưới tác dụng của nước, các viên này phân rã ngay lập tức, bơm đầy khí hiđro vào các phương tiện cấp cứu như thuyền cao su, áo phao, bóng-angten tín hiệu.
  Các hợp chất của liti có khả năng hút ẩm cực mạnh, điều đó khiến  cho  chúng  được  sử  dụng  rộng  rãi  để  làm  sạch  không  khí trong  tàu  ngầm,  trong  các  bình  thở  trên  máy  bay,  trong  các  hệ thống điều hòa không khí.
Bước vào thế kỷ XX, liti mới được bắt đầu sử dụng trong công nghiệp. Còn trong gần một trăm năm trước đó thì chủ yếu người ta dùng nó trong y học để làm thuốc chữa bệnh thống phong.
  Trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Đức rất cần thiết để sử dụng trong công nghiệp. Do nước này không có quặng thiếc nên các nhà bác học phải cấp tốc tìm kim loại khác để thay thế. Nhờ có liti nên vấn đề này đã được giải quyết một cách tốt đẹp: hợp kim của chì với liti là một vật liệu chống ma sát tuyệt với. Từ đó trở đi, các hợp kim liti luôn gắn liền với các ngành kỹ thuật. Đã có những hợp kim của liti với nhôm, với berili, với đồng, kẽm, bạc và với nhiều nguyên tố khác. Những triển vọng hết sức to lớn đã rộng mở cho các hợp kim của liti với magiê  - một kim loại nhẹ khác có tính chất kết cấu rất tốt: nếu liti chiếm ưu thế thì hợp chất đó sẽ nhẹ hơn nước. Nhưng rủi thay,  các hợp kim có thành phần như vậy lại không bền vững, rất dễ bị oxi hóa trong không khí. Từ lâu, các nhà bác học đã ao ước tạo nên một sự phối trí và một công nghệ bảo đảm được tính bền lâu cho các hợp kim liti  - magiê. Các nhà khoa học ở Viện luyện kim mang tên A. A. Baicôp thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô đã giải quyết được bài toán đó: bằng lò nồi chân không nung bằng điện trong môi trường khí trơ agon, họ đã điều chế được hợp kim của liti với magie mà không bị mờ xám trong không khí và nhẹ hơn nước.
  Nhiều tính chất quý báu của liti như khả năng phản ứng cao, nhiệt độ nóng chảy thấp (chỉ 180,5 độ c), mật độ các hợp chất hóa học của nó nhỏ, đã khiến cho nguyên  tố này được tham gia vào nhiều quá trình công nghệ trong luyện kim đen và luyện kim màu. Chẳng hạn nó đóng vai trò chất khử khí và khử oxi một cách xuất sắc  - nó xua đuổi các chất khí như nitơ, oxi ra khỏi các kim loại đang nóng chảy. Nhờ có liti mà cấu trúc của một số hợp kim trở nên mịn hạt, do đó mà những tính chất cơ học của chúng trở nên tốt hơn. Trong sản xuất nhôm, liti thực hiện rất tốt vai trò chất thúc đẩy quá trình. Pha thêm các hợp chất của liti vào chất điện phân sẽ nâng cao được năng suất của bể điện phân nhôm; khi đó, nhiệt độ cần thiết của bể sẽ giảm xuống và tốn phí điện năng sẽ giảm rõ rệt.
  Trước kia, chất điện phân của ăcquy kiềm chỉ gồm các dung dịch xút ăn da (NaOH). Nhưng nếu pha thêm vào chất điện phân này vài gam liti hiđroxit (LiOH) thì tuổi thọ của ăcquy sẽ tăng lên ba lần. Ngoài ra, khoảng nhiệt độ của ăcquy cũng được mở rộng thêm: nó không phóng điện ngay ca khi nhiệt độ lên tới 40 độ C và ở hai chục độ âm vẫn không bị đông đặc. Chất điện phân không có liti thì không chịu đựng được những thử thách như vậy. Nhật Bản đã chế tạo  được  loại  ăcquy  tí  hon  độc  đáo  dùng  cho  các  đồng  hồ điện tử đeo tay: bề dày của ăcquy chỉ bằng 34 micron, nghĩa là mảnh hơn sợi tóc, trong đó, cực dương là một màng liti cực mỏng, còn cực âm thì làm bằng titan đisunfit. Thiết bị điện tinh vi này chịu đựng được 2000 chu kỳ nạp va phóng điện, mỗi lần nạp điện cho phép đồng hồ làm việc từ 200 - 300 giờ.
  Các công trình sư của các hãng chế tạo ô tô cũng đặt nhiều hy vọng không nhỏ vào liti. Chẳng hạn, ở Mỹ người ta đã chế tạo pin bằng liti dùng cho  ô tô chạy bằng điện năng. Loại xe này có thể đạt tới tốc độ 100km/h và có thể chạy hàng trăm km mà không cần phải thay pin.

« Sửa lần cuối: Tháng Tám 03, 2007, 11:05:31 AM gửi bởi Nhật An »
History is made by those who break the rule!

Offline ..::: Bùi Nhật An :::..

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 512
  • Simple is the Best
    • Mr.An's site!
Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Tám 02, 2007, 10:13:08 AM »
  Một  số  hợp  chất  hữu  cơ  của  liti  (stearat,  panminat  v.  v... ) vẫn  giữ  nguyên  được  những  tính  chất  vật  lý  của  mình  trong khoảng nhiệt độ rộng. Điều đó cho phép sử dụng chúng làm nền cho các vật liệu bôi trơn trong kỹ thuật quân sự. Chất bôi trơn có chứa liti giúp cho các xe chạy trên mọi địa hình đang làm việc ở Nam cực thực hiện được các hành trình vào sâu trong lục địa này, nơi mà nhiệt độ băng giá có khi thấp đến -80 độ C. Chất bôi trơn chứa liti là trợ thủ đắc lực cho những người đua ô tô. Những người chủ của loại xe ô tô “jiguli” tin chắc ở điều đó nên không phải ngẫu nhiên mà họ gọi nó là chất bôi trơn “vĩnh cửu”: Khi mới bắt đầu sử dụng, chỉ cần dùng nó để bôi trơn một lần cho các chi tiết hay cọ xát của ô tô, thế là nhiều năm sau không cần phải lặp lại công việc ấy nữa.
  Trong chúng ta chắc ai cũng đã nghe nói đến những phép lạ mà  những  người  iôga  Ấn  Độ  thường  làm.  Trước  mặt  đám  công chúng  đầy  kinh  ngạc,  họ  nhai  chiếc  cốc  thủy  tinh  thành  những mảnh nhỏ chẳng khác gì ăn chiếc bánh bích -quy bình thường, rồi lại còn nuốt chúng với vẻ thích thú, như thể trong đời họ chưa hề được ăn một thức gì ngon hơn. Còn bạn đã từng nếm thử thủy tinh chưa? “Câu hỏi thật quá vô lý! Tất nhiên là chưa!”. Có lẽ bất cứ người nào khi đọc này đều nghĩ như vậy. Như thế là nhầm rồi đấy. Thật ra thì thủy tinh thông thường vẫn hòa tan trong nước. Tất nhiên là không phải ở mức độ chẳng hạn như đường, nhưng dù sao nó vẫn bị hòa tan. Những chiếc cân phân tích chính xác nhất cho biết rằng, cùng với cốc nước chè nóng, chúng ta còn uống khoảng một phần vạn gram thủy tinh. Nhưng nếu khi nấu thủy tinh, ta pha thêm một ít muối lantan, muối ziriconi và muối liti thì độ hoa tan của nó trong nước sẽ giảm hàng trăm lần. Thuỷ tinh sẽ rất bền vững ngay cả đối với axit sunfuric.
  Hoạt  động  của  liti  trong  ngành  sản  xuất  thủy  tinh  không phải chỉ bó hẹp trong việc hạ thấp độ hòa tan của thủy tinh. Thủy tinh chứa liti được đặc trưng bởi những tính chất quang học rất quý giá, tính chịu nhiệt tốt, suất điện trở cao, mất mát điện môi ít. Đặc biệt, liti còn tham gia vào thành phần của thủy tinh dùng làm đèn hình trong các máy thu hình. Nếu ta xử lý kính cửa sổ thông thường trong các muối liti nóng chảy thì trên bề mặt của nó sẽ hình thành một lớp bảo vệ: kính sẽ bền gấp đôi và chịu đựng tốt hơn đối với nhiệt độ cao. Pha thêm một lượng nhỏ nguyên tố này cũng giảm được rất nhiều nhiệt độ nấu của thủy tinh.
  Từ  xa  xưa,  giọt  sương  được  dùng  làm  biểu  tượng  cho  tính trong suốt. Nhưng ngay cả những thứ thủy tinh trong suốt như giọt sương cũng không đáp ứng được nhu cầu của kỹ thuật hiện đại.  Kỹ  thuật  hiện  đại  cần  có  những  vật  liệu  quang  học  không những để cho các tia sáng nhìn thấy được bằng mắt thường xuyên qua, mà còn phải để cho các tia không nhìn thấy, chẳng hạn như tia  tử  ngoại  cũng  xuyên  qua  được.  Với  kính  thiên  văn  thông thường, các nhà vật lý thiên văn không thể thu nhận được bức xạ của  những  thiên  hà  ở  rất  xa.  Trong  số  các  vật  liệu  mà  bộ  môn quang học biết đến thì liti clorua có độ trong suốt cao nhất đối với tia tử ngoại. Các thấu kính làm bằng các đơn tinh thể của chất này cho phép các nhà nghiên cứu xâm nhập sâu thêm rất nhiều vào những bí mật của Vũ trụ.
  Liti đóng vai trò không nhỏ trong việc sản xuất các loại men sứ, men sắt, các chất màu, đồ sứ và đồ sành có chất lượng cao. Trong công nghiệp dệt, một số hợp chất của nguyên tố này được dùng để tẩy trắng và cầm màu vải, còn một số chất khác thì dùng để nhuộm vải. Các muối của liti rất quen thuộc với các nhà chế tạo và sử dụng thuốc nổ: chúng làm cho vệt đạn vạch đường và pháo sáng có màu xanh lục - lam rực rỡ.
Trò ảo thuật sau đây dựa trên khả năng hỏa thuật của liti. Bạn hãy dùng que diêm để đốt một cục đường nhỏ, và sẽ chẳng có điều gì xảy ra cả: đường bắt đầu nóng chảy nhưng không cháy. Còn nếu trước đó mà bạn xát miếng đường vào tàn thuốc lá thì no sẽ bốc cháy dễ dàng với ngọn lửa màu xanh da trời rất đẹp. Sở dĩ như vậy là vì trong thuốc lá cũng như trong nhiều thực vật khác, hàm lượng liti tương đối lớn. Khi đốt cháy thuốc là, một phần các hợp chất của liti vẫn còn lại trong tro tàn. Chính vì thế mà ta làm được trò ảo thuật đơn giản này.
  Nhưng tất cả những gì vừa kể ở trên mới chỉ là những công việc thứ yếu, những “nghề phụ” của liti. Nó còn làm được những công việc quan trong hơn. Đây muốn nói đến ngành năng lượng học hạt nhân, ở đó, có thể chẳng bao lâu nữa liti sẽ bắt đầu đóng vai trò của một trong những “cây đàn vĩ cầm số một”. Các nhà bác học đã xác định được rằng, hạt nhân của đồng vị liti-6 có thể dễ bị nơtrôn phá vỡ. Khi hấp thụ nơtrôn, hạt nhân của liti trở nên kém bền  vững  và  bị  phân  rã,  kết  quả  là  hai  nguyên  tử  mới  sẽ  hình thành  đó  là  khí  trơ  nhẹ  heli  và  hiđrô  siêu  nặng  - triti  - cực kỳ hiếm. Ở nhiệt độ rất cao, các nguyên tử triti và đơteri (một đồng vị khác của hidro) sẽ kết hợp với nhau. Quá trình đó kèm theo sự giải phóng một lượng năng lượng khổng lồ mà thường được gọi là năng lượng nhiệt hạch.
 Các  phản  ứng  nhiệt  hạch  cực  kỳ  mãnh  liệt  sẽ  xảy  ra  khi dùng nơtron bắn phá liti đơteri - một hợp chất của đồng vị liti-6 với đơteri. Chất này được dùng làm nguyên liệu hạt nhân trong các lò phản ứng liti, là những lò mà so với những lò phản ứng urani thì có  nhiều  ưu  điểm  hơn:  liti  dễ  kiếm  va  rẻ  tiền  hơn  nhiều  so  với urani, còn khi phản ứng thì không tạo ra các sản phẩm phân hạch có tính phóng xạ và quá trình phản ứng dễ điều chỉnh hơn.
  Liti-6 có khả năng bắt giữ các nơtron chậm khá tốt, đó là cơ sở để sử dụng nó làm chất điều tiết cường độ các phản ứng diễn ra ngay cả trong các lò phản ứng urani. Nhờ tính chất này mà đồng vị liti-6 còn được sử dụng trong các lá chắn chống bức xạ và trong các bộ pin nguyên tử có thời hạn sử dụng lâu dài. Trong tương lai không xa, liti - 6 rất có thể sẽ trở thành chất hấp thụ nơtron chậm trong các khí cụ bay dùng năng lượng nguyên tử.
Cũng như một số kim loại kiềm khác, liti được sử dụng làm chất tải nhiệt trong các thiết bị hạt nhân. Ở đây có thể dùng một đồng  vị  dễ  kiếm  hơn  của  nó,  đó  là  liti-7  (trong  liti  thiên  nhiên, đồng vị này chiếm khoảng 93%). Khác với “người em” nhẹ hơn của mình, đồng vị này không thể dùng làm nguyên liệu  để sản xuất triti, vì vậy mà nó không được quan tâm tới trong kỹ thuật nhiệt hạch. Nhưng với vai trò là chất tải nhiệt thì nó lại tỏ ra rất đắc lực. Nhiệt dung và độ dẫn nhiệt cao, nhiệt độ của trạng thái nóng chảy nằm  trong một khoảng rộng, độ nhớt không đáng kể và mật độ nhỏ - đó là những điều giúp nó hoàn thành tốt nhiệm vụ này.
  Trong thời gian gần đây, kĩ thuật tên lửa bắt đầu dành cho liti những địa vị quan trọng. Muốn vượt qua lực hút của trái đất để vượt lên khoảng không gian ngoài vũ trụ cần phải chi phí rất nhiều năng lượng. Chiếc tên lửa từng đưa con tàu trở nhà du hành vũ trụ đầu tiên trên thế giới Iuri Gagarin lên quỹ đạo có sáu động cơ với công suất tổng cộng là 20 triệu mã lực! Đó là công suất của hai chục nhà máy thủy điện cỡ như Nhà máy thủy điện Đniep. Tất nhiên, việc lựa chọn nhiên liệu cho tên lửa là một vấn đề cực kỳ quan trọng. Cho đến nay, dầu hỏa (đúng là dầu hỏa già cả và tốt bụng) được oxi hóa bởi oxi lỏng vẫn được coi là nhiên liệu hữu hiệu nhất. Khi đốt nhiên liệu này, năng lượng phát ra lớn gấp hơn 1,5 lần so với khi cho nổ cũng một lượng như vậy loại thuốc nổ Nitroglixerin là loại thuốc nổ mạnh nhất. Việc sử dụng nhiên liệu kim loại có thể có những triển vọng tuyệt vời. Lần đầu tiên cách đây hơn nửa thế kỷ, các nhà bác học Xô -viết nổi tiếng là F. A. Txanđer và Iu. V. Conđrachiuk đã khởi xướng lý thuyết và phương pháp sử dụng kim loại làm nhiên liệu cho động cơ tên lửa. Liti là một trong số những kim loại thích hợp nhất cho mục đích này (chỉ có berili mới có thể “huênh hoang” về suất tỏa nhiệt lớn). Ở Mỹ người ta đã công bố những phát minh về nhiên liệu rắn dùng cho tên lửa trong đó chứa từ 51 đến 68% liti kim loại. Một điều đáng chú ý là trong quá trình làm việc của các động cơ tên lửa, liti lại phải chống chọi lại với... liti. Là một thành phần của nhiên liệu, nó cho phép sản sinh ra nhiệt độ rất cao, còn các vật liệu gốm chứa liti (chẳng hạn như stupalit) có tính chịu nhiệt cao thì được dùng làm lớp phủ ống phun và buồng đốt để bảo vệ chúng khỏi bị nhiên liệu liti phá hủy.
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 03, 2007, 11:06:10 AM gửi bởi Nhật An »
History is made by those who break the rule!

Offline ..::: Bùi Nhật An :::..

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 512
  • Simple is the Best
    • Mr.An's site!
Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Tám 02, 2007, 10:13:37 AM »
Trong thời đại chúng ta, kĩ thuật đã làm ra nhiều vật liệu tổng  hợp  đa  dạng  -  các  polime.  Chúng  được  sử  dụng  một  cách thành công để thay thế thép, đồng thau, thủy tinh. Tuy nhiên, các nhà công nghệ đôi lúc cũng gặp những khó khăn lớn khi mà việc chế tạo một số những sản phẩm đòi hỏi họ phải liên kết các polime với nhau hoặc với các vật liệu khác. Chẳng hạn, polime teflon chứa flo  - một  chất  phủ chống ăn mòn rất tuyệt diệu  - trong một thời gian dài vẫn không được sử dụng trong thực tiễn chỉ vì nó không chịu bám vào kim loại. Các nhà bác học Xô Viết đã hoàn chỉnh được  một  công  nghệ  hàn  hạt  nhân  rất  độc  đáo  để  hàn gắn các polime với các vật liệu khác. Các bề mặt cần hàn được bôi một lớp mỏng các hợp chất của liti hoặc bo; các hợp chất này được dùng làm lớp “keo hạt nhân” đặc biệt. Khi dùng nơtron chiếu vào lớp keo này thì sẽ sinh ra các phản ứng hạt nhân kèm theo sự giải phóng một  năng  lượng  lớn,  nhờ  vậy  mà  sau  một  khoảng  thời  gian  cực ngắn (chưa đến một phần tỷ giây), trong các vật liệu sẽ xuất hiện các vi đoạn có nhiệt độ hàng trăm, thậm chí hàng ngàn độ. Nhưng cũng sau những khoảnh khắc này, các phân tử ở các lớp tiếp giáp đã kịp dịch chuyển và đôi khi còn kịp tạo ra những mối liên kết hóa học mới với nhau - quá trình hàn hạt nhân diễn ra như vậy.
Thông thường, các nguyên tố nằm ở góc trên cùng bên trái của bảng Menđeleep đều phổ biến rộng rãi trong thiên nhiên. Tuy vậy, khác với đa số các “bạn láng giềng” của mình  - natri, kali, magie, canxi, nhôm, là những nguyên tố có nhiều trên hành tinh của  chúng  ta,  liti  lại  tương  đối  hiếm.  Trong  thiên  nhiên  chỉ  có khoảng ba chục khoáng vật chứa nguyên tố quý báu này. Hợp chất thiên nhiên chủ yếu của liti là spođumen. Các tinh thể của khoáng vật này có hình dạng tựa như những thanh tà vẹt đường sắt hoặc thân  cây,  đôi  khi  đạt  đến  kích  thước  khổng  lồ:  tại  bang  Nam Dakota (nước Mỹ) đã tìm thấy một tinh thể dài hơn 15 m và nặng hàng chục tấn. Tại các mỏ ở Mỹ đã phát hiện ra các biến thể của spođumen có màu xanh ngọc bích và màu tím phớt hồng rất đẹp. Đó là các khoáng vật hiđenit và cunxit rất quý. Đá pecmatit dạng granit có thể giữ một vai trò to lớn trong việc dùng làm nguyên liệu để sản xuất liti. Người ta dự tính rằng, trong 1 kilômét khối granit có tới hơn một trăm ngàn tấn liti. Đó là  một  lượng  lớn  hơn  rất  nhiều  so  với  lượng  liti  khai  thác  được hàng năm ở tất cả các nước cộng lại. Trong các kho tàng granit, bên  cạnh  liti  còn  có  niobi,  tantali,  ziricon,  thori,  urani,  neođim, xezi, xeri, prazeođim và nhiều nguyên tố hiếm khác. Nhưng làm thế nào để bắt được đá granit phải chia sẻ của cải của nó với con người? Các nhà bác học đã ra sức tìm tòi và nhất định sẽ sáng tạo ra những phương pháp tựa như câu thần chú “Vừng ơi! Hãy mở ra!”, cho phép con người mở cửa các kho báu granit.
Để kết thúc câu chuyện về liti, chúng tôi xin kể một chuyện vui, trong đó nguyên tố này đã đóng vai trò rất quan trọng. Năm 1891,  anh  sinh  viên  vừa  tốt  nghiệp  trường  Đại  học  tổng  hợp Havard ở Mỹ tên là Rôbec Ut (Robert Wood) (sau này trở thành nhà vật lý học nổi tiếng) đã đến Bantimo để nghiên cứu hóa học tại trường đại học tổng hợp địa phương. Khi đến ở trong khu nhà trọ  của  sinh  viên,  Ut  nghe  đồn  rằng,  bà  chủ  hình  như  vẫn  làm món  thịt  rán  buổi  sáng...  bằng  những  miếng  thịt  góp  nhặt  từ những đĩa thừa lại từ bữa trưa ngày hôm trước. Nhưng làm thế nào để chứng minh điều đó?
Vốn là người rất thích tìm lời giải độc đáo đồng thời lại đơn giản cho mọi bài toán, lần này, Ut cũng không làm trái với những nguyên tắc của mình. Một hôm, trong bữa ăn chưa người ta dọn ra món bíttết, anh bèn để thừa lại trên đĩa vài miếng thịt khá to sau khi rắc lên đó một ít muối liti clorua  - một chất hoàn toàn không độc, bề ngoài và mùi vị rất giống muối ăn bình thường. Ngày hôm sau, những viên thịt rán trong bữa ăn sáng của sinh viên đã được đem  “thiêu”  trước  khe  hở  của  kính  soi  quang  phổ.  Vạch  đỏ  của quang phố vốn đặc trưng cho liti đã cho một kết luận dứt khoát: bà chủ nhà trọ quá keo kiệt đã bị vạch mặt. Còn  Ut thì mãi nhiều năm  sau  vẫn  thấy  thích  thú  mỗi  khi  hồi  tưởng  lại  cuộc  thực nghiệm tìm vết của mình.
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 03, 2007, 11:06:39 AM gửi bởi Nhật An »
History is made by those who break the rule!

Offline ..::: Bùi Nhật An :::..

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 512
  • Simple is the Best
    • Mr.An's site!
Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Tám 02, 2007, 10:17:24 AM »
Hĩ, trời đất ơi là trời!!!  :o Nó bị lỗi font rồi!!  >:( Các bạn chịu khó coppy ra word rồi chỉnh font thành VnNCentury2 dùm mình hen, để mình về chỉnh font lại sau. Hix
History is made by those who break the rule!

Offline chemistry06

  • love you and love me
  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 75
  • i love you forever
Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Tám 02, 2007, 11:42:56 AM »
ác...ác!!!zậy sao coi đâY!!đọc đc hết chắc khùng luôn wá!!! :o

Offline minhgiang

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 41
  • Never give up-live to love
Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Tám 02, 2007, 01:30:36 PM »

Liti-6 coá khaã nùng bùæt giûä caác nútron chêåm khaá töët, àoá laâ cú
súã àïí sûã duång noá laâm chêët àiïìu tiïët cûúâng àöå caác phaãn ûáng diïîn ra ngay caã trong caác loâ phaãn ûáng urani. Nhúâ tñnh chêët naây maâ àöìng
võ liti-6 coân àûúåc sûã duång trong caác laá chùæn chöëng bûác xaå vaâ trong
caác böå pin nguyïn tûã coá thúâi haån sûã duång lêu daâi. Trong tûúng lai khöng xa, liti - 6 rêët coá thïí seä trúã thaânh chêët hêëp thuå nútron chêåm trong caác khñ cuå bay duâng nùng lûúång nguyïn tûã.

Cuäng nhû möåt söë kim loaåi kiïìm khaác, liti àûúåc sûã duång laâm chêët taãi nhiïåt trong caác thiïët bõ haåt nhên. ÚÃ àêy coá thïí duâng möåt àöìng  võ  dïî  kiïëm  hún  cuãa  noá,  àoá  laâ  liti-7  (trong  liti  thiïn  nhiïn, àöìng võ naây chiïëm khoaãng 93%). Khaác vúái “ngûúâi em” nheå hún cuãa mònh, àöìng võ naây khöng thïí duâng laâm nguyïn liïåu  àïí saãn xuêët triti, vò vêåy maâ noá khöng àûúåc quan têm túái trong kyä thuêåt nhiïåt haåch. Nhûng vúái vai troâ laâ chêët taãi nhiïåt thò noá laåi toã ra rêët àùæc lûåc. Nhiïåt dung vaâ àöå dêîn nhiïåt cao, nhiïåt àöå cuãa traång thaái noáng chaãy nùçm  trong möåt khoaãng röång, àöå nhúát khöng àaáng kïí vaâ mêåt
àöå nhoã - àoá laâ nhûäng àiïìu giuáp noá hoaân thaânh töët nhiïåm vuå naây.

Trong thúâi gian gêìn àêy, kô thuêåt tïn lûãa bùæt àêìu daânh cho
liti nhûäng àõa võ quan troång. Muöën vûúåt qua lûåc huát cuãa traái àêët
àïí vûúåt lïn khoaãng khöng gian ngoaâi vuä truå cêìn phaãi chi phñ rêët nhiïìu nùng lûúång. Chiïëc tïn lûãa tûâng àûa con taâu trúã nhaâ du haânh
vuä truå àêìu tiïn trïn thïë giúái Iuri Gagarin lïn quyä àaåo coá saáu àöång
cú vúái cöng suêët töíng cöång laâ 20 triïåu maä lûåc! Àoá laâ cöng suêët cuãa hai chuåc nhaâ maáy thuãy àiïån cúä nhû Nhaâ maáy thuãy àiïån Àniep.

Têët nhiïn, viïåc lûåa choån nhiïn liïåu cho tïn lûãa laâ möåt vêën àïì cûåc kyâ quan troång. Cho àïën nay, dêìu hoãa (àuáng laâ dêìu hoãa giaâ caã
vaâ töët buång) àûúåc oxi hoáa búãi oxi loãng vêîn àûúåc coi laâ nhiïn liïåu hûäu hiïåu nhêët. Khi àöët nhiïn liïåu naây, nùng lûúång phaát ra lúán gêëp
hún 1,5 lêìn so vúái khi cho nöí cuäng möåt lûúång nhû vêåy loaåi thuöëc nöí
Nitroglixerin laâ loaåi thuöëc nöí maånh nhêët.

Viïåc sûã duång nhiïn liïåu kim loaåi coá thïí coá nhûäng triïín voång tuyïåt vúâi. Lêìn àêìu tiïn caách àêy hún nûãa thïë kyã, caác nhaâ baác hoåc
Xö -viïët nöíi tiïëng laâ F. A. Txanàer vaâ Iu. V. Conàrachiuk àaä khúãi xûúáng lyá thuyïët vaâ phûúng phaáp sûã duång kim loaåi laâm nhiïn liïåu cho àöång cú tïn lûãa. Liti laâ möåt trong söë nhûäng kim loaåi thñch húåp nhêët cho muåc àñch naây (chó coá berili múái coá thïí “huïnh hoang” vïì suêët toãa nhiïåt lúán). ÚÃ Myä ngûúâi ta àaä cöng böë nhûäng phaát minh vïì nhiïn liïåu rùæn duâng cho tïn lûãa trong àoá chûáa tûâ 51 àïën 68% liti kim loaåi.
Möåt àiïìu àaáng chuá yá laâ trong quaá trònh laâm viïåc cuãa caác àöång
cú tïn lûãa, liti laåi phaãi chöëng choåi laåi vúái... liti. Laâ möåt thaânh phêìn cuãa nhiïn liïåu, noá cho pheáp saãn sinh ra nhiïåt àöå rêët cao, coân caác vêåt liïåu göëm chûáa liti (chùèng haån nhû stupalit) coá tñnh chõu nhiïåt cao thò àûúåc duâng laâm lúáp phuã öëng phun vaâ buöìng àöët àïí baão vïå
chuáng khoãi bõ nhiïn liïåu liti phaá huãy.

Trong thúâi àaåi chuáng ta, kô thuêåt àaä laâm ra nhiïìu vêåt liïåu töíng  húåp  àa  daång  -  caác  polime.  Chuáng  àûúåc  sûã  duång  möåt  caách thaânh cöng àïí thay thïë theáp, àöìng thau, thuãy tinh. Tuy nhiïn, caác nhaâ cöng nghïå àöi luác cuäng gùåp nhûäng khoá khùn lúán khi maâ viïåc chïë taåo möåt söë nhûäng saãn phêím àoâi hoãi hoå phaãi liïn kïët caác polime
vúái nhau hoùåc vúái caác vêåt liïåu khaác. Chùèng haån, polime teflon chûáa
flo  - möåt  chêët  phuã chöëng ùn moân rêët tuyïåt diïåu  - trong möåt thúâi gian daâi vêîn khöng àûúåc sûã duång trong thûåc tiïîn chó vò noá khöng chõu baám vaâo kim loaåi. Caác nhaâ baác hoåc Xö Viïët àaä hoaân chónh àûúåc  möåt  cöng  nghïå  haân  haåt  nhên  rêët  àöåc  àaáo  àïí  haân gùæn caác polime vúái caác vêåt liïåu khaác. Caác bïì mùåt cêìn haân àûúåc böi möåt lúáp moãng caác húåp chêët cuãa liti hoùåc bo; caác húåp chêët naây àûúåc duâng laâm lúáp “keo haåt nhên” àùåc biïåt. Khi duâng nútron chiïëu vaâo lúáp keo naây thò seä sinh ra caác phaãn ûáng haåt nhên keâm theo sûå giaãi phoáng möåt  nùng  lûúång  lúán,  nhúâ  vêåy  maâ  sau  möåt  khoaãng  thúâi  gian  cûåc ngùæn (chûa àïën möåt phêìn tyã giêy), trong caác vêåt liïåu seä xuêët hiïån caác vi àoaån coá nhiïåt àöå haâng trùm, thêåm chñ haâng ngaân àöå. Nhûng hûäu hiïåu nhêët. Khi àöët nhiïn liïåu naây, nùng lûúång phaát ra lúán gêëp
hún 1,5 lêìn so vúái khi cho nöí cuäng möåt lûúång nhû vêåy loaåi thuöëc nöí
Nitroglixerin laâ loaåi thuöëc nöí maånh nhêët.

Viïåc sûã duång nhiïn liïåu kim loaåi coá thïí coá nhûäng triïín voång tuyïåt vúâi. Lêìn àêìu tiïn caách àêy hún nûãa thïë kyã, caác nhaâ baác hoåc
Xö -viïët nöíi tiïëng laâ F. A. Txanàer vaâ Iu. V. Conàrachiuk àaä khúãi xûúáng lyá thuyïët vaâ phûúng phaáp sûã duång kim loaåi laâm nhiïn liïåu cho àöång cú tïn lûãa. Liti laâ möåt trong söë nhûäng kim loaåi thñch húåp nhêët cho muåc àñch naây (chó coá berili múái coá thïí “huïnh hoang” vïì suêët toãa nhiïåt lúán). ÚÃ Myä ngûúâi ta àaä cöng böë nhûäng phaát minh vïì nhiïn liïåu rùæn duâng cho tïn lûãa trong àoá chûáa tûâ 51 àïën 68% liti kim loaåi.
Möåt àiïìu àaáng chuá yá laâ trong quaá trònh laâm viïåc cuãa caác àöång
cú tïn lûãa, liti laåi phaãi chöëng choåi laåi vúái... liti. Laâ möåt thaânh phêìn cuãa nhiïn liïåu, noá cho pheáp saãn sinh ra nhiïåt àöå rêët cao, coân caác vêåt liïåu göëm chûáa liti (chùèng haån nhû stupalit) coá tñnh chõu nhiïåt cao thò àûúåc duâng laâm lúáp phuã öëng phun vaâ buöìng àöët àïí baão vïå
chuáng khoãi bõ nhiïn liïåu liti phaá huãy.

Trong thúâi àaåi chuáng ta, kô thuêåt àaä laâm ra nhiïìu vêåt liïåu töíng  húåp  àa  daång  -  caác  polime.  Chuáng  àûúåc  sûã  duång  möåt  caách thaânh cöng àïí thay thïë theáp, àöìng thau, thuãy tinh. Tuy nhiïn, caác nhaâ cöng nghïå àöi luác cuäng gùåp nhûäng khoá khùn lúán khi maâ viïåc chïë taåo möåt söë nhûäng saãn phêím àoâi hoãi hoå phaãi liïn kïët caác polime
vúái nhau hoùåc vúái caác vêåt liïåu khaác. Chùèng haån, polime teflon chûáa
flo  - möåt  chêët  phuã chöëng ùn moân rêët tuyïåt diïåu  - trong möåt thúâi gian daâi vêîn khöng àûúåc sûã duång trong thûåc tiïîn chó vò noá khöng chõu baám vaâo kim loaåi. Caác nhaâ baác hoåc Xö Viïët àaä hoaân chónh àûúåc  möåt  cöng  nghïå  haân  haåt  nhên  rêët  àöåc  àaáo  àïí  haân gùæn caác polime vúái caác vêåt liïåu khaác. Caác bïì mùåt cêìn haân àûúåc böi möåt lúáp moãng caác húåp chêët cuãa liti hoùåc bo; caác húåp chêët naây àûúåc duâng laâm lúáp “keo haåt nhên” àùåc biïåt. Khi duâng nútron chiïëu vaâo lúáp keo naây thò seä sinh ra caác phaãn ûáng haåt nhên keâm theo sûå giaãi phoáng möåt  nùng  lûúång  lúán,  nhúâ  vêåy  maâ  sau  möåt  khoaãng  thúâi  gian  cûåc ngùæn (chûa àïën möåt phêìn tyã giêy), trong caác vêåt liïåu seä xuêët hiïån caác vi àoaån coá nhiïåt àöå haâng trùm, thêåm chñ haâng ngaân àöå. Nhûng cuäng sau nhûäng khoaãnh khùæc naây, caác phên tûã úã caác lúáp tiïëp giaáp
àaä kõp dõch chuyïín vaâ àöi khi coân kõp taåo ra nhûäng möëi liïn kïët hoáa hoåc múái vúái nhau - quaá trònh haân haåt nhên diïîn ra nhû vêåy.

Thöng thûúâng, caác nguyïn töë nùçm úã goác trïn cuâng bïn traái cuãa baãng Menàeleep àïìu phöí biïën röång raäi trong thiïn nhiïn. Tuy vêåy, khaác vúái àa söë caác “baån laáng giïìng” cuãa mònh  - natri, kali, magie, canxi, nhöm, laâ nhûäng nguyïn töë coá nhiïìu trïn haânh tinh cuãa  chuáng  ta,  liti  laåi  tûúng  àöëi  hiïëm.  Trong  thiïn  nhiïn  chó  coá khoaãng ba chuåc khoaáng vêåt chûáa nguyïn töë quyá baáu naây. Húåp chêët thiïn nhiïn chuã yïëu cuãa liti laâ spoàumen. Caác tinh thïí cuãa khoaáng vêåt naây coá hònh daång tûåa nhû nhûäng thanh taâ veåt àûúâng sùæt hoùåc thên  cêy,  àöi  khi  àaåt  àïën  kñch  thûúác  khöíng  löì:  taåi  bang  Nam Dakota (nûúác Myä) àaä tòm thêëy möåt tinh thïí daâi hún 15 m vaâ nùång haâng chuåc têën. Taåi caác moã úã Myä àaä phaát hiïån ra caác biïën thïí cuãa spoàumen coá maâu xanh ngoåc bñch vaâ maâu tñm phúát höìng rêët àeåp.
Àoá laâ caác khoaáng vêåt hiàenit vaâ cunxit rêët quyá.

Àaá pecmatit daång granit coá thïí giûä möåt vai troâ to lúán trong viïåc duâng laâm nguyïn liïåu àïí saãn xuêët liti. Ngûúâi ta dûå tñnh rùçng, trong 1 kilömeát khöëi granit coá túái hún möåt trùm ngaân têën liti. Àoá
laâ  möåt  lûúång  lúán  hún  rêët  nhiïìu  so  vúái  lûúång  liti  khai  thaác  àûúåc haâng nùm úã têët caã caác nûúác cöång laåi. Trong caác kho taâng granit, bïn  caånh  liti  coân  coá  niobi,  tantali,  ziricon,  thori,  urani,  neoàim, xezi, xeri, prazeoàim vaâ nhiïìu nguyïn töë hiïëm khaác. Nhûng laâm thïë naâo àïí bùæt àûúåc àaá granit phaãi chia seã cuãa caãi cuãa noá vúái con ngûúâi? Caác nhaâ baác hoåc àaä ra sûác tòm toâi vaâ nhêët àõnh seä saáng taåo
ra nhûäng phûúng phaáp tûåa nhû cêu thêìn chuá “Vûâng úi! Haäy múã ra!”, cho pheáp con ngûúâi múã cûãa caác kho baáu granit.

Àïí kïët thuác cêu chuyïån vïì liti, chuáng töi xin kïí möåt chuyïån vui, trong àoá nguyïn töë naây àaä àoáng vai troâ rêët quan troång. Nùm
1891,  anh  sinh  viïn  vûâa  töët  nghiïåp  trûúâng  Àaåi  hoåc  töíng  húåp Havard úã Myä tïn laâ Röbec Ut (Robert Wood) (sau naây trúã thaânh nhaâ vêåt lyá hoåc nöíi tiïëng) àaä àïën Bantimo àïí nghiïn cûáu hoáa hoåc
taåi trûúâng àaåi hoåc töíng húåp àõa phûúng. Khi àïën úã trong khu nhaâ
troå  cuãa  sinh  viïn,  Ut  nghe  àöìn  rùçng,  baâ  chuã  hònh  nhû  vêîn  laâm moán  thõt  raán  buöíi  saáng...  bùçng  nhûäng  miïëng  thõt  goáp  nhùåt  tûâ nhûäng àôa thûâa laåi tûâ bûäa trûa ngaây höm trûúác. Nhûng laâm thïë
naâo àïí chûáng minh àiïìu àoá?

Vöën laâ ngûúâi rêët thñch tòm lúâi giaãi àöåc àaáo àöìng thúâi laåi àún giaãn cho moåi baâi toaán, lêìn naây, Ut cuäng khöng laâm traái vúái nhûäng nguyïn tùæc cuãa mònh. Möåt höm, trong bûäa ùn chûa ngûúâi ta doån ra moán bñttïët, anh beân àïí thûâa laåi trïn àôa vaâi miïëng thõt khaá to sau khi rùæc lïn àoá möåt ñt muöëi liti clorua  - möåt chêët hoaân toaân khöng àöåc, bïì ngoaâi vaâ muâi võ rêët giöëng muöëi ùn bònh thûúâng. Ngaây höm sau, nhûäng viïn thõt raán trong bûäa ùn saáng cuãa sinh viïn àaä àûúåc “thiïu”  trûúác  khe  húã  cuãa  kñnh  soi  quang  phöí.  Vaåch  àoã  cuãa quang phöë vöën àùåc trûng cho liti àaä cho möåt kïët luêån dûát khoaát: baâ chuã nhaâ troå quaá keo kiïåt àaä bõ thò maäi nùm  sau  vêîn  thêëy thuá  möîi  khi  nhiïìu thñch. 

font chữ lộn hết cả lên thế này hả bạn?chắc bạn dùng lộn font chữ à?:D
:D Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy.Ta có thêm ngày nữa để yêu thương:X

Offline ..::: Bùi Nhật An :::..

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 512
  • Simple is the Best
    • Mr.An's site!
Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Tám 03, 2007, 10:59:20 AM »
Hihi, mình đã chỉnh font lại xong rồi này, các bạn vào ủm hộ mình nhá. Chiều nay mình sẽ post bài về Magiê!  ;D
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 03, 2007, 11:09:20 AM gửi bởi Nhật An »
History is made by those who break the rule!