Loading

Like H2VN trên Facebook

Thăm dò

Bari sunfat có tan trong axit không?

5 (71.4%)
Không
2 (28.6%)
Tôi không quan tâm
0 (0%)
Nhảm nhí quá
0 (0%)

Tổng số phiếu: 7

Bình chọn khóa lại: Tháng Tám 05, 2007, 10:12:06 AM

Tác giả Chủ đề: Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!  (Đọc 22474 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline ..::: Bùi Nhật An :::..

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 512
  • Simple is the Best
    • Mr.An's site!
Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Tám 04, 2007, 10:26:14 AM »
Mọi người tham gia nhiều với, chiều nay khóa bình chọn rồi!!!

Sau đây là câu chuyện về Be:

Be
KIM LOẠI CỦA KỶ NGUYÊN VŨ TRỤ

“Berili  -  một  trong  những  nguyên  tố  tuyệt  diệu  nhất,  một nguyên tố có ý nghĩa to lớn cả trên lý thuyết lẫn trong thực tiễn.
...Việc  làm  chủ  bầu  trời,  những  chuyến  bay  dũng  cảm  của máy bay và khinh khí cầu sẽ không thực hiện được nếu không có các kim loại nhẹ; và chúng ta sẽ thấy trước rằng, cả berili cũng sẽ đến giúp nhôm và magie là các kim loại hiện đại của ngành hàng không. Và khi đó máy bay của chúng ta sẽ bay với tốc độ hàng ngàn kilômet trong một giờ.      Một tương lai sáng lạn đang chờ đón berili !
Hỡi các nhà địa hóa học,  hãy tìm ra những mỏ mới. Hỡi các nhà hóa học, hãy tìm cách tách thứ kim loại này ra khỏi người bạn đồng hành của nó là nhôm. Hỡi các nhà công nghệ học, hãy làm ra những hợp kim nhẹ nhất, không chìm trong nước, cứng như thép, đàn hồi như cao su, bền như platin và vĩnh cửu như ngọc quý...
Có  thể,  những  lời  đó  hiện  thời  xem  ra  giống  như  chuyện hoang đường. Nhưng trước mắt chúng ta, biết bao chuyện hoang đường từng biến thành chuyện có thật đã hòa nhập vào tập quán hàng ngày rồi đó sao, và chúng ta quên rằng, mới 20 năm về trước, chiếc  radio  và  phim  lồng  tiếng  đã  chẳng  ngân  vang  như  câu chuyện hoang đường tưởng tượng đó ư?”
Cách đây gần nửa thế kỷ, nhà bác học Xô Viết vĩ đại, viện sĩ A. E. Ferxman đã viết như vậy. Lúc bấy giờ ông đã biết đánh giá đúng đắn ý nghĩa của berili. Đúng, berili là kim loại của tương lai. Và đến lúc ấy, trong Hệ thống tuần hoàn sẽ có những nguyên tố mà lịch sử của chúng tương tự như lịch sử của berili, cũng lùi về quá khứ xa xôi.
...Hơn  hai  ngàn  năm  về  trước,  trên  sa  mạc  Nubi,  nơi  có những  mỏ  ngọc  bích  nổi  tiếng  của  nữ  hoàng  Cleopatre,  những người  nô  lệ  đã  khai  thác  được  những  tinh  thể  đá  màu  xanh  kỳ diệu. Từng đoàn lữ hành lạc đà đã mang ngọc bích đến bờ biển Đỏ, rồi từ đó, ngọc bích đi vào cung điện của vua chúa các nước châu Âu,  Cận  Đông  và  Viễn  Đông  -  các  hoàng  đế  Vizanti,  các  quốc vương Ba Tư, các thiên tử Trung Hoa, các vương hầu Ấn Độ. Với ánh hào quang lộng lẫy, với mầu sắc trong ngần, với vẻ đẹp huyền ảo khi thì xanh lục đậm, gầm như xanh thẫm, khi thì xanh lung linh chói ngời - trải qua nhiều thời đại, ngọc bích đã làm cho con người phải mê say. Nhà sử học cổ La Mã Plini Bố đã viết: “So với ngọc bích thì không vật nào có thể xanh hơn được...”. Theo truyền thuyết, hoàng đế Lã Mã Neron - một con người tàn bạo và hiếu thắng,  thường hay xem những trận đấu đẫm máu của bọn “người chọi” qua một tinh thể ngọc bích mài nhẵn. Khi ở La Mã bùng lên một đám cháy, Neron đã ngắm nghía những ngọn lửa nhảy múa bập bùng qua viên ngọc bích “quang học” ấy, trong đó mầu da cam của ngọn lửa rờn rợn hòa lẫn màu xanh lục của viên ngọc  (Có  lẽ  phải  đính  chính  một  điều  quan  trọng  trong  truyền thuyết cổ này: theo các nguồn tin trên báo chí thì chiếc ống nhòm của Neron hiện được giữ tại Vatican gần đây đã qua sự giám định của  một  chuyên  gia  về  khoáng  vật  học,  thì  hóa  ra  tinh  thể  ấy không phải là ngọc bích mà là crizolit). “Nó xanh lục, trong ngần, vui, mắt và dịu dàng như cỏ xuân...”. A. I. Kup-rin đã viết như vậy về ngọc bích.
Cùng với việc tìm ra châu Mỹ, một trang sử mới đã được ghi thêm vào lịch sử của loại đá xanh này. Trong các ngôi mộ và đền miếu ở Mexico, Peru, Columbia, người Tây Ban Nha đã tìm thấy vô số ngọc bích lớn, màu lục thẫm. Chỉ mấy năm sau đó, họ đã vơ vét hết những của cải huyền bí này. Họ cũng đi tìm những địa điểm  mà  người  xưa  đã  khai  thác  thứ  ngọc  kỳ  diệu  này  nhưng không tìm thấy. Mãi đến giữa thế kỷ XVI, những kẻ chinh phục  châu  Mỹ  mới  làm  chủ  được  bí  mật  của  người  Inca  và  mới  xâm nhập được vào các kho báu chứa đầy ngọc bích xứ Columbia.
Với  vẻ  đẹp  hiếm  có,  ngọc  bích  Columbia  đã  ngự  trị  trong nghề  kim  hoàn  đến  thế  kỷ  XIX.  Năm  1831,  một  người  thợ nấu nhựa thông ở Uran tên là Macxim Cogiepnicôp khi nhặt củi khô trong rừng, gần con suối Tôcôva, đã tìm thấy viên ngọc bích đầu tiên ở nước Nga. Những viên ngọc bích lớn màu lục sáng của xứ Uran  đã  nhanh  chóng  được  những  người thợ kim hoàn trên thế giới thừa nhận.
Trong  thời  gian  làm  “quyền  chỉ  huy”  xưởng  mài  mặt  đá  ở Ecaterinbua,  Iacop  Cocôvin  -  một  con  người  liêm  khiết,  rất  am hiểu về đá và cũng là nghệ nhân làm đồ đá quý, đã lãnh đạo việc khai thác những mỏ ngọc bích ở Uran. Năm 1834, một viên ngọc bích rất lớn, nặng hơn hai kilôgam, tìm được tại một trong các mỏ ở đấy đã đến tay ông. Lúc bấy giờ ông đâu có biết viên đá đẹp đẽ từng đi vào lịch sử khoáng vật học với tên gọi “ngọc bích Cocôvin” ấy sẽ đóng vai trò định mệnh trong số phận của ông.
Người “chỉ huy” đã tự tay mài những viên đá quý nhất. Lần này, ông cũng định chính tay mình mài các mặt viên ngọc khổng lồ.  Nhưng  ý định  của ông không thực hiện được: theo một lời tố giác bịa đặt từ Pêtecbua (Staint Peterburg), một ban điều tra bất ngờ ập đến, ra lệnh lụa soát nhà Cocôvin và đã “tìm thấy” viên ngọc bích mà ông không định dấu đi. Người ta đã áp giải Cocôvin về thủ đô cùng với viên ngọc. Bá tước Perôpxki vốn lừng danh là người sành sỏi và ưa thích đá quý đã tiến hành thẩm vấn vụ này. Ông đã đưa vụ án đến kết thúc mà mình vẫn hằng mong đợi: bá tước đã nhốt chàng  Cocôvin vô tội vào tù (trong tù, vì không chịu đựng được những lời vu khống bất lương nên ngay sau đó, người thợ ngọc đã tự sát), còn viên ngọc bích thì vượt qua kho bạc nhà nước để đến bổ sung cho bộ sưu tập của bá tước. Nhưng viên ngọc cũng không ở đây được bao lâu: vì đánh bạc bị thua to nên viên đại thần danh tiếng này đã đành lòng từ giã nó, và viên ngọc bích lại đến cư ngụ ở nhà viên cố vấn cơ mật của triều đình là công tước Cochubây - người chủ của bộ sưu tập đá quý lớn nhất nước Nga. Sau khi vị công tước này chết, con trai ông đã chuyên chở nhiều ngọc quý trong đó có cả “viên ngọc Cocôvin” sang Viên để bán hết. Theo thỉnh cầu của viện hàn lâm Nga, triều đình Nga hoàng đã bo ra một món tiền lớn để mua lại bộ sưu tập. Viên ngọc bích lớn nhất thế giới đã trở về Tổ quốc (Nga) và hiện nay đang được trưng bày trong viện bảo tàng khoáng vật học thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô ở Maxcơva.
Ngọc   bích là một trong những khoáng   vật của berili. Aquamarin màu xanh nước biển và Vorobievit màu hồng anh đào, heliođo màu rượu vang và berin màu lục phớt vàng, fanakit trong suốt và eucla xanh lam dịu dàng, crizoberin xanh lục trong trẻo và một biến thể lạ thường của nó là Alecxanđrit  - ban ngày thì màu lục đậm, còn khi chiếu đèn vào thì màu đỏ tươi (nhà văn N. X. Lexcôp đã mô tả một cách hình ảnh: “Buổi sáng xanh tươi và buổi chiều đẫm máu”) - đó chỉ là một số, nhưng đó là những đại biểu danh tiếng nhất của dòng họ ngọc quý chứa berili.
Vỏ trái đất tuyệt nhiên không nghèo berili, mặc dầu berili luôn luôn mang tiếng là một nguyên tố hiếm. Điều đó được giải thích bởi một lẽ là nhiều khi không dễ tìm thấy khoáng vật chứa berili. Và ở đây, chó - người bạn lâu đời của con người, có thể giúp chúng ta. Trong những năm gần đây, trên sách báo thường xuất hiện những tin tức về việc tìm kiếm được khoáng sản nhờ các “nhà địa chất bốn chân”. Chúng ta đã biết nhiều sự kiện và huyền thoại về việc chó dựa theo mùi để tìm kiếm một vật hoặc một người nào đó. Nhưng còn năng lực địa chất của chúng thì như thế nào? Các “nhà sành quặng xù lông” ấy có thể tìm được những khoáng vật gì?
Tiến  sĩ  sinh  học  G.  A.  Vaxiliep  -  người  khởi  xướng  một phương hướng mới trong việc thăm dò các kho tàng thiên nhiên nằm sâu dưới đất, kể rằng: “Bộ sưu tập của Viện bảo tàng khoáng vật học thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô đã giúp chúng ta giải đáp được câu hỏi đó. Thí nghiệm với berili kim loại đã tỏ ra rất có hiệu quả: sau khi ngửi kim loại này, chó Jinđa đã chọn ra được ngọc bích, aquamarin, vorobievit, fanakit, bertranđit trong số rất  nhiều  khoáng  vật,  nghĩa  là  nó  đã  chọn  được  tất  cả  những khoáng vật, và chỉ những khoáng vật chứa berili. Sau đó chúng tôi để lẫn tất cả các khoáng vật  chứa berili với các mẫu khoáng vật khác, rồi yêu cầu nó tìm lại. Khi đó, con Jinđa đã đi khắp nhà bảo tàng, rồi nằm úp ngực vào chiếc tủ kính mà trong đó có viên ngọc bích lớn nhất và sủa”.
Các đại biểu của giới thực vật cũng sẵn sàng đóng góp công sức của mình vào việc tìm kiếm berili. Cây thông bình thường có thể đóng vai trò này vì nó có khuynh hướng tuyển chọn berili từ đất và tích lũy lại trong vỏ cây. Nếu cây thông mọc ở gần nơi có các khoáng vật chứa berili thì hàm lượng nguyên tố này trong vỏ cây sẽ cao gấp hàng trăm lần so với trong đất và gấp hàng chục lần so với trong vỏ cây khác, chẳng hạn như cây bạch dương hay cây tùng rụng lá. Như các bạn đã  biết,  những  người  thợ  kim  hoàn  tỏ  ra  rất “kính nể” đối với nhiều loại đá quý chứa berili, còn các nhà công nghệ chuyên sản xuất berili kim loại thì lại tinh tường hơn đối với những  thứ  quyến  rũ  mình:  trong  số  tất  cả  các  khoáng vật chứa berili, họ chỉ coi trọng berin mà thôi, vì chỉ có khoáng vật này mới có giá trị công nghiệp. Trong thiên nhiên thường gặp những tinh thể berin khổng lồ: khối lượng của chúng lên đến hàng chục tấn, còn chiều dài  lên đến vài mét. Gần đây, trên đảo Mađagaxca đã tìm thấy một đơn tinh thể berin nặng 380 tấn, chiều dài là 18 mét, chiều rộng là 3,5 mét.
Tại Viện bảo tàng mỏ ở Lêningrat có một hiện vật rất thú vị - đó  là  một  tinh  thể  Berin  dài  một  mét  rưỡi.  Trong  mùa  đông  bị phong tỏa năm 1942, đạn pháo của địch đã xuyên thủng mái nhà và nổ ở phòng chính. Các mảnh đạn đã làm cho tinh thể bị thiệt hại nghiêm trọng làm cho nó tưởng như không còn được trưng bày trong  bảo  tàng  nữa.  Nhưng  nhờ  bàn  tay  khéo  léo  của  các  nghệ nhân phục chế, tinh thể này đã được khôi phục lại hình dạng ban đầu. Hiện giờ chỉ còn lại hai mảnh đạn han gỉ, được khảm vào tấm bảng  thuyết  minh  làm  bằng  thủy tinh hữu cơ giới thiệu về hiện vật này làm cho mọi người biết đến cuộc phẫu thuật mà nó đã trải qua.
[/b]
History is made by those who break the rule!

Cộng đồng Hóa học H2VN

Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Tám 04, 2007, 10:26:14 AM »

Offline ..::: Bùi Nhật An :::..

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 512
  • Simple is the Best
    • Mr.An's site!
Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Tám 04, 2007, 10:29:30 AM »
Chẳng có gì đáng ngạc nhiên là ngay từ xa xưa không phải chỉ những người ưu thích của quý, mà cả các nhà khoa học cũng rất chú ý đến các viên đá quý chứa berili. Hồi thế kỷ XVIII, khi mà khoa học còn chưa biết đến nguyên tố  mà  bây  giờ  được  đặt  ở  ô  số  4  trong  Hệ  thống  tuần  hoàn,  thì nhiều nhà bác học đã cố gắng phân tích berin, nhưng không một ai có thể tìm thấy thứ kim loại chứa trong đó. Hình như nó ẩn náu sau  lưng  nhôm  và  các  hợp  chất  của  nhôm  -  tính  chất  của  hai nguyên tố này này giống nhau đến mức độ kỳ lạ. Tuy vậy vẫn có những sự khác biệt. Lui Nicôla Voclanh (Louis Nicolas Vanquelin) - nhà hóa học Pháp, là người đầu tiên nhận thấy sự khác biệt ấy. Ngày 26 tháng Mưa năm thứ sáu của lịch Cộng Hòa (tức là ngày 15 tháng 2 năm 1798), tại phiên họp của Viện hàn lâm khoa học Pháp, Voclanh đã thông báo một tin làm chấn động dư luận, rằng, trong berin và ngọc bích có chứa một thứ “đất” mới có tính chất khác hẳn với đất phèn hoặc nhôm oxit.
Các muối của nguyên tố mới này có dư vị hơi ngọt, vì thế mà Voclanh đã đề nghị gọi nó là glixini (theo tiếng Hy Lạp, “glykos” nghĩa là ngọt), nhưng nhiều nhà bác học khác lại coi tên gọi ấy là chưa thật đạt, bởi vì muối của một số nguyên tố khác, chẳng hạn như của ytri, cũng có vị ngọt. Theo đề nghị của các nhà hóa học nổi tiếng là Claprôt (người Đức) và Ekebơ (người Thụy Điển)  - cả hai ông  đều  nghiên  cứu  berin  -  nguyên  tố  hóa  học  này  được  gọi  là berili, còn tên glixini thì chỉ tồn tại một thời gian dài trong sách báo hóa học của Pháp mà thôi.
Sự giống nhau giữa berili và nhôm đã gây nên nhiều điều rắc rối cho Đ. I. Menđelêep  - người sáng lập nên Hệ thống tuần hoàn của  các  nguyên  tố.  Nguyên  do  là  vào  giữa  thế  kỷ  XIX,  vì  có sự giống nhau này nên berili được coi là một kim loại có hóa trị ba với khối lượng nguyên tử bằng 13,5 vì thế mà nó phải chiếm vị trí giữa cacbon và nitơ trong Hệ thống tuần hoàn. Điều đó dẫn đến sự lộn xộn rõ rệt trong quy luật thay đổi tính chất của các nguyên tố và đã  khiến  người  ta  nghi  ngờ  tính  đúng  đắn  của  định  luật  tuần hoàn. Vững tin ở sự đúng đắn của mình, Menđelêep cho rằng, khối lượng nguyên tử của berili đã được xác đinh không  đúng, nguyên tố này không có hóa trị ba, mà phải có hóa trị hai, và có những tính chất của magie oxit. Trên cơ sở đó, ông đã đặt berili vào nhóm thứ  hai  sau  khi  sửa  lại  khối  lượng  nguyên  tử  của  nó  thành  9. Chẳng  bao  lâu  sau,  các  nhà  hóa  học  Thụy  Điển  là  Nixơn  và Petecxơn mà trước đây vẫn một mực tin rằng berili có hóa trị ba, đã buộc phải xác nhận điều đó. Các cuộc nghiên cứu kỹ lưỡng của hai ông đã cho thấy khối lượng của nguyên tử này bằng 9,1. Như vậy, nhờ berili  - kẻ khuấy động sự yên tĩnh trong Hệ thống tuần hoàn, mà một trong những định luật quan trọng nhất của hóa học đã giành được chiến thắng.
Số phận của nguyên tố này có nhiều điểm giống số phận các nguyên tố kim loại anh em với nó. Năm 1828, nhà hóa học Đức là Vuêle (Wholer) và nhà hóa học Pháp là Buxi (Bussy), một cách độc lập với nhau, đã tách được berili ở dạng tự do và mãi đến bảy mươi năm sau nhà bác học Pháp là Lơbô (Paul Lebeau) mới có thể điều chế được berili kim loại nguyên chất bằng cách điện phân các muối nóng chảy của nó. Cũng dễ hiểu rằng, hồi đầu thế kỷ XX, các sách tra cứu về hóa học đã khăng khăng buộc tội berili la “kẻ ăn bám”, là “chẳng có công dụng thực tế”. Song sự phát triển như vũ bão của khoa học và kỹ thuật đặc trưng cho thế kỷ XX đã buộc các nhà hóa học và các nhà chuyên môn khác phải xem xét lại “bản án” quá bất công này. Việc nghiên cứu berili nguyên chất đã chứng tỏ rằng, nó có nhiều tính chất quý báu và thú vị. Là một trong những kim loại nhẹ nhất, berili đồng thời lại có độ bền cao, cao hơn cả các loại thép kết cấu chứ chưa cần so với các bạn “đồng nghiệp” của nó trong nhóm kim loại nhẹ. Chẳng hạn, nếu một sợi dây nhôm có tiết diện một milimet vuông chỉ đủ sức chịu  đựng  hơn  10  kilogam  (bằng  một  xô  nước),  thì  một  sợi  dây berili có cùng tiết diện như thê sẽ chịu được một khối lượng gấp sáu lần, tức là bằng khối lượng thân thể một người lớn. Ngoài ra, berili  còn  nóng  chảy  ở  nhiệt  độ  cao  hơn  nhiều  so  với  nhôm  và magie. Sự kết hợp các tính chất một cách tốt đẹp như vậy đã làm cho berili ngày nay trở thành một trong những vật liệu chủ yếu của ngành hàng không. Các chi tiết của máy bay làm bằng kim loại này nhẹ hơn hẳn so với các chi tiết bằng nhôm. Tính dẫn nhiệt tuyệt vời, nhiệt dung và tính bền nhiệt cao đã cho phép sử dụng berili và các hợp chất của nó làm vật liệu giữ nhiệt  trong  ký  thuật  vũ  trụ.  Chẳng  hạn,  các  bộ  phận  giữ  nhiệt trong buồng lái của con tàu vũ trụ “Mercury” đều làm bằng berili.
Vì các chi tiết làm bằng berili bảo đảm cho các kích thước có độ chính xác và tính ổn định cao nên chúng được sử dụng trong các khí cụ con quay hồi chuyển; các khí cụ này nằm trong hệ thống định hướng và bình ổn của các tên lửa,  các con tàu vũ trụ và vệ tinh nhân tạo của Trái đất. Còn một tính chất nữa của berili khiến nó rất có triển vọng trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ: khi đốt cháy, nó tỏa ra nhiệt lượng rất lớn. Về mặt này thì không một kim loại nào khác cạnh tranh được với nó. Không phải ngẫu nhiên mà các công trình sư về kỹ thuật vũ trụ lại coi berili là một thành phần có thể tạo nên thứ nhiên liệu tên lửa có năng lượng cao dùng cho các chuyến bay lên mặt trăng và đến các thiên thể xa hơn nữa. Người ta cũng đề nghị dùng berili để chế tạo các bình chứa nhiên liệu của các hệ thống tên lửa: khi nhiên liệu cháy hết, có thể sử dụng ngay "bao bì" bằng berili làm nhiên liệu.
Các hợp kim của đồng với berili gọi là đồng đỏ berili được sử dụng rộng rãi trong ngành hàng không. Nhiều chi tiết phải đòi hỏi phải có độ bền lớn, có sức chống mỏi và chống ăn mòn cao, giữ được tính đàn hồi trong khoảng nhiệt độ rộng, có độ dẫn điện và độ dẫn nhiệt  tốt  đã  được  chế  tạo  từ  các  hợp  kim  đó.  Người  ta  ước  tính rằng, trong một máy bay hiện đại hạng nặng có hơn một ngàn chi tiết được chế tạo bằng các hợp kim này. Nhờ có tính chất đàn hồi nên đồng đỏ berili là loại vật liệu tuyệt vời để làm lo xo. Trong thực tế, lò xo làm bằng hợp kim này không bị mỏi: chúng có thể chịu đựng được hàng tỷ chu kỳ tải trọng lớn!
Nhân  đây  xin  kể  một  tình  tiết  thú  vị  trong  lịch  sử  chiến tranh thế giới hai có liên quan đến lò xo. Lúc bấy giờ, nền công nghiệp của Hitle bị cắt rời khỏi nguồn berili chủ yếu. Trên thực tế, nước Mỹ nắm toàn bộ sản lượng thế giới về thứ kim loại chiến lược quý báu này. Thế là người Đức phải tìm mưu mẹo. Họ quyết định sử dụng nước Thụy Sĩ trung lập để mua lậu đồng đỏ berili: các hãng của Mỹ đã nhận được đơn đặt hàng từ những người “thợ đồng hồ” Thụy Sĩ xin mua hợp kim này với lượng đủ dùng để làm lò xo đồng hồ cho toàn thế giới trong khoảng năm trăm năm về sau. Sự thực thì mánh khóe này đã bị bại lộ nên đơn đặt hàng ấy không được thực hiện. Nhưng dần dần, lò xo bằng đồng đỏ berili vẫn có mặt trong các loại súng liên thanh cực nhanh mới nhất đặt trên máy bay để trang bị cho quân đội phát xít.
Tính mỏi là một trong những “bệnh nghề nghiệp” của nhiều kim loại và hợp kim. Vì không chịu được tải trong thay đổi hướng liên tục nên các kim loại và hợp kim này dần dần bị phá hủy. Song nếu thêm vào thép một lượng berili, dù rất nhỏ, cũng có tác dụng như một cánh tay hứng đỡ sự mệt mỏi. Nếu như các nhíp ô tô làm bằng thép cacbon thông thường sẽ bị gẫy sau 800 - 850 ngàn lần xô đẩy,  thì  sau  khi  pha  thêm  “vitamin  Be”  vào  thép,  nhíp  sẽ  chịu đựng được hàng chục triệu lần xô đẩy mà không tỏ ra có dấu hiệu mỏi mệt.
Khác  với  thép,  đồng  đỏ berili  không  phát  ra  tia  lửa khi va đập vào đá hoặc kim loại, vì thế mà nó được sử dụng rộng rãi để chế tạo các dụng cụ dùng ở những nơi dễ gây nổ như trong các hầm mỏ, các nhà máy sản xuất thuốc nổ, các trạm xăng dầu.
Berili  có  ảnh  hưởng  rõ  rệt  đến  các  tính  chất  của  magie. Chẳng hạn, chỉ cần pha thêm vài chục phần triệu berili cũng đủ giữ cho các hợp kim magie không bị bốc cháy khi nấu chảy và khi đúc (tức là ở khoảng 700 độ C). Khi đó độ ăn mòn của các hợp kim này trong không khí cũng như trong nước sẽ giảm hẳn.
Chắc hẳn một triển vọng to lớn sẽ thuộc về các hợp kim của berili với liti. Sự liên minh của hai kim loại nhẹ nhất này có thể sẽ dẫn đến sự ra đời các hợp kim kết cấu tuyệt vời, vừa bền như thép lại vừa nhẹ như gỗ.
Dựa vào các tính chất hóa học của mình mà berili có thể đảm nhiệm rất tốt vai trò chất khử oxi cho thép, giúp thép chống lại sự xâm nhập của oxi. Đáng tiếc rằng, berili vẫn còn quá đắt nên các nhà luyện kim chưa thể sử dụng nó với khối lượng lớn. Tuy nhiên, họ đã tìm ra được một lĩnh vực sử dụng berili quan trọng khác mà trong đó không tiêu tốn nhiều kim loại này. Đó là dùng nó để bão hòa bề mặt các chi tiết bằng thép - gọi là sự berili hóa, nhằm nâng cao độ cứng, độ bền và khả năng chống mài mòn của chúng.  Các nhà kỹ thuật rơngen rất ưu chuộng kim loại này vì nó để cho tia rơngen đi qua dễ dàng, hơn hẳn các kim loại khác. Hiện nay, trên toàn thế giới, người ta đều dùng berili làm “cửa sổ” cho các ống rơngen. Khả năng cho tia rơngen đi qua của các “cửa sổ” này cao gấp gần hai chục lần so với các “cửa sổ” bằng nhôm mà trước đây vẫn được sử dụng vào mục đích này.
Berili  đã  đóng  vai  trò  nổi  bật  trong  sự  phát  triển  của  học thuyết về cấu tạo nguyên tử và hạt nhân nguyên tử. Ngay từ hồi đầu những năm ba mươi, khi bắn phá hạt nhân berili bằng hạt anfa, các nhà vật lý học người Đức là Bothe và Becker đã khám phá ra cái gọi là “bức xạ berili”, tuy rất yếu nhưng lại có sức đâm xuyên rất mạnh: xuyên qua lớp chì dày vài centimet. Năm 1932, nhà bác học người Anh là Chadwick đã xác định được bản chất của bức xạ này. Hóa ra, đó là một dòng các hạt trung hòa về điện với khối lượng mỗi hạt xấp xỉ bằng khối lượng của proton. Những hạt mới này đã được gọi là nơtron. Vì  không  mang  điện  nên  các  nơtron  dễ  xâm  nhập  vào  hạt nhân nguyên tử của các nguyên tố khác. Tính chất này làm cho nơtron  trở  thành  viên  đạn  hữu  hiệu  nhất  để  bắn  phá  hạt  nhân nguyên tử. Hiên nay, “đại bác nơtron” được sử dụng rộng rãi để thực hiện các phản ứng hạt nhân.
Việc nghiên cứu cấu trúc nguyên tử của berili đã cho thấy đặc trưng của nó là tiết diện bắt giữ nơtron thì nhỏ mà trị số phân tán  nơtron  thì  lớn.  Vì  vậy,  berili  phát  tán  nơtron,  làm  thay  đổi hướng chuyển động và kìm hãm tốc độ của chúng cho đến trị số thích hợp để các phản ứng dây chuyển xảy ra một cách có hiệu quả hơn. Trong số tất cả các vật liệu rắn thì berili được coi là chất kìm hãm nơtron tốt nhất. Nó tỏ ra tuyệt vời khi đóng vai trò chất phản xạ nơtron, đưa các nơtron trở về vùng hoạt động của các lò phản ứng, ngăn giữ chúng lại, không để cho chúng bị tản mát. Berili còn có tính chống bức xạ rất cao, kể cả ở nhiệt độ rất lớn. Tất cả những tính  chất  tuyệt  diệu  này  đã  làm  cho  berili  trở  thành  một  trong những nguyên tố cần thiết nhất của kỹ thuật nguyên tử.
Khả năng truyền âm của berili rõ ràng là một điều mà khoa học rất đáng quan tâm. Trong không khí, tốc độ của âm thanh là 330  mét  trong  một  giây,  còn  trong  nước  là  1500  mét  trong  một giây. Còn trong berili thì âm thanh phá vỡ tất cả các kỷ lục đó và đạt đến tốc độ 12.600 mét trong một giây (gấp 2 -3 lần so với trong các vật liệu kim loại khác). Những người chế tạo nhạc cụ đã chú ý đến đặc điểm này.
History is made by those who break the rule!

Offline ..::: Bùi Nhật An :::..

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 512
  • Simple is the Best
    • Mr.An's site!
Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Tám 04, 2007, 10:30:48 AM »
Cả berili oxit cũng có nhiều tính chất quý báu. Tính chịu lửa tốt (nhiệt độ nóng chảy trên 2500 độ C), độ bền hóa học lớn và độ dẫn nhiệt cao cho phép sử dụng vật liệu này làm lớp lót các lò cảm ứng, làm nồi để nấu chảy các kim loại và hợp kim. Chẳng hạn, để nấu chảy berili trong chân không, người ta chỉ dùng nồi làm bằng berili oxit, vì chất này hoàn toàn không tương tác với berili. Oxit này là vật liệu chủ yếu để bọc các bộ phận tỏa nhiệt của lò phản ứng nguyên tử. Tính chất cách nhiệt của berili oxit cũng có thể được sử dụng trong việc nghiên cứu các tầng đất sâu của hành tinh chúng ta. Có một dự án lấy mẫu đất đá từ lớp vỏ manti của trái đất ở độ sâu 32 km nhờ cái gọi là “kim nguyên tử”  - một lò phản ứng hạt nhân tí hon đặt trong một vỏ bọc cách nhiệt làm bằng berili oxit và có mũi nhọn bằng hợp kim vonfram nặng. Berili oxit đã có “thâm niên công tác” cao trong công nghiệp thủy tinh. Pha thêm nó sẽ làm tăng độ cứng, tăng chiết suất và độ bền hóa học của thủy tinh. Việc pha thêm berili oxit và các hợp chất khác của berili cho phép làm được những loại thủy tinh đặc biệt có độ trong suốt cao đối với tất cả các tia quang phổ - từ tia tử ngoại đến tia hồng ngoại. Berili oxit còn được dùng làm nguyên liệu ban đầu để làm ra ngọc  bích  nhân  tạo  và  các  loại  ngọc  chứa  berili  khác  khi  chúng được nuôi cấy trong điều kiện áp suất và nhiệt độ cao. Hiện nay, quá trình này đã được thực hiện không phải chỉ trong các phòng thí nghiệm khoa học, mà còn cả trong những điều kiện sản xuất.
... Những lời tiên đoán của A. E. Fexman - nhà bác học lỗi lạc có nhiều ước mơ, đã trở thành sự thật. Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, berili sẽ đáp ứng được những hy vọng mà người ta đang đặt vào nó. Từ một nguyên tố hiếm ít người biết đến, ngày nay nó đã trở thành một trong những kim loại quan trọng nhất của thế kỷ.

 ;D
History is made by those who break the rule!

Offline đăng chung

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 86
Re: Mỗi ngày một câu chuyện!!!
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Tám 15, 2007, 11:31:22 AM »
KHÍ HIẾM
phân nhóm chính nhóm 8 của hệ thống tuần hoàn gồm các khí hiếm - heli,neon,agon,kripton,xenon và radon. các nguyên tố này đc đặc trưng bằng hoạt tính hóa học rất thấp và đó là cơ sở của tên gọi khí hiếm hoặc khí trơ. chúng chỉ tạo thành hợp chất với các nguyên tố khác hoặc các chất khác một cách khó khăn; các hợp chất hóa học của heli,neon và agon ko điều chế đc. các nguyên tử khí trơ ko kết hợp thành phân tử, nói cách khác, phân tử của chúng có 1 nguyên tử.
khí trơ kết thúc mỗi chu kì của hệ các nguyên tố. trừ heli, tất cả chúng đều có 8e lớp e bên ngoài của nguyên tử, tạo thành hệ rất bền. vỏ e của heli gồm 2 e cũng bền. do đó các nguyên tử khí trơ đặc trưng bằng các giá trị năng lượng ion hóa cao và, theo thường lệ, đặc trưng bằng các giá trị âm của năng lượng ái lực với e. nhiệt độ hóa lỏng và hóa rắn của khí hiếm càng thấp khi khối lượng nguyên tử hoặc số thứ tự của chúng càng nhỏ:nhiệt độ hóa lỏng thấp nhất của heli, cao nhất của radon
cho đến cuối thế kỉ XIX, người ta giả thiết rằng ko khí chỉ gồm có oxi và nito. nhưng năm 1894, nhà vật lí học người Anh J.Rayleigh đã xác định rằng khối lượng riêng của nito điều chế từ ko khí (1.2572 g/l) lớn hơn một ít so với khối lượng riêng của nito điều chế từ hợp chất của nó (1.2505 g/l). giáo sư hóa học W.Ramsay đã giả thiết rằng sự khác nhau về khối lượng riêng là do sự có mặt của một tạp chất khí nặng hơn nào đó trong nito khí quyển. liên kết nito với magie nóng chảy(Ramsay) hoặc cho nó kết hợp với oxi bằng tác dụng của sự phóng điện (Rayleigh), cả 2 nhà bác học đều tách ra đc một lượng nhỏ khí trơ về phương diện hóa học từ nito khí quyển.nguyên tố chưa biết thời bấy giờ đã đc tìm ra gọi là agon. sau agon người ta đã tách ra đc heli,neon,kripton và xenon, chúng đều có trong ko khí một lượng nhỏ ko đáng kể. nguyên tố cuối cùng của phân nhóm radon - đã đc tim ra khi nghiên cứu sự chuyển hóa phóng xạ.
cần lưu ý rằng sự tồn tại của khí hiếm đẫ đc nhà bác học người Nga N.A.Marozov (1854-1946) tiên đoán từ năm 1883, nghĩa là 11 năm trước khi tìm ra agon. năm 1882 ông đã bị chính phủ Nga hoàng cầm tù ở pháo đài Slitxenbuoc vì đã tham gia phong trào cách mạng. ông đã xác định đúng vị trí của khí hiếm trong hệ thống tuần hoàn, ông đã nêu ra các giả thiết về cấu tạo phức tạp của nguyên tử, về khả năng tổng hợp các nguyên tố và sử dụng năng lượng nội nguyên tử. ông đã đc giải phóng khỏi nhà tù năm 1905 và nhưng tiên đoán tuyệt vời của ông chỉ đc mọi người biết đến năm 1907, sau khi xuất bản cuốn sách của ông "hệ thống tuần hoàn về cấu tạo chất" đc viết trong thời gian bị giam một mình trong tù. năm 1926, ông đc bầu làm viện sĩ danh dự của viện hàn lâm khoa học liên xô.
mệt quá, phần sau lúc khác post tiếp

Offline tinhlaidi_kung

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 8
    • My blog
Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Chín 02, 2007, 10:03:47 AM »
Hi hi hi... chào tất cả mọi người. Em - tinhlaidi_kung, sau 1 thời gian vắng bóng nay đã trở lại  ;D ;D ;D Đợt trước em vào diễn đàm là lúc thi cử trầy trật. Bây giờ thì em đã đỗ và sắp khai giảng :D Quay lại h2vn, em có mang theo 1 bài này mời mọi người giải đáp.


Đề bài có 4 bình đựng dd thể tích 100ml, độ chia nhỏ nhất 50ml, đánh thứ tự A-B-C-D:
-Bình A chứa 100ml dd NaOH nồng độ 9M
-Bình B chứa 100ml dd NaOH nồng độ 4M
-Bình C chứa 100ml dd NaOH nồng độ 2M
-Bình D trống ko
Hãy tìm cách đổ, trộn lẫn các dd với nhau để được 3 dd có Cm bằng nhau. Và chứng minh cách làm đó !(chấp nhận sai số nhỏ ko đáng kể)

Tổng quát có n bình đựng dd thể tích V ml, độ chia nhỏ nhất V/(n-1) ml, đánh thứ tự A1-A2-A3-A4-...An: (dd chất gì cũng thế)
-Bình A1 chứa V ml dd nồng độ a M
-Bình A2 chứa V ml dd nồng độ b M
-Bình A3 chứa V ml dd nồng độ c M
....
-Bình An trống ko
Hãy tìm cách đổ, trộn lẫn các dd với nhau để được n-1 dd có Cm bằng nhau. Và chứng minh cách làm đó !(chấp nhận sai số nhỏ ko đáng kể)


Em post bài ở box này để tất cả mọi người ko phân biệt trình độ có thể đọc được. Ai giải được báo cho em về YM [email protected] Em sẽ treo bài này 1 thời gian. Đi thu thập đầy đủ các lời giải em sẽ post lên  :)
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Ngọc Quang --- Một mình tự do hạnh phúc

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
Re: Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Chín 05, 2007, 11:47:58 AM »
1.Bạn có thể làm thế này:

Thao tác:           Bình A          Bình B          Bình C           Bình D
Lúc đầu           100 ml-9 M      100 ml-4 M       100 ml-2 M          0
1/2A+1/2C->D       50 ml-9M       100 ml-4 M        50 ml-2 M       100 ml-5,5 M
1/2B->C            50 ml-9 M       50 ml-4 M       100 ml-3 M       100 ml-5,5 M
1/2C->A           100 ml-6 M       50 ml-4 M        50 ml-3 M       100 ml-5,5 M
1/2A->B            50 ml-6 M      100 ml-5 M        50 ml-3 M       100 ml-5,5 M
C->A              100 ml-4,5 M      xong                0           100 ml-5,5 M
1/2A+1/2D->C       50 ml-4,5 M                     100 ml-5 M        50 ml-5,5 M
D->A              100 ml-5 M                         xong
                    xong

OK!
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline lavoadie

  • Vinh quang sẽ dành cho kẻ bộ hành cố bước !
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 186
  • ko có gì là ko thể !
Re: Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Mười 14, 2007, 05:47:40 PM »
Khi giải bài toán Hóa thú vị này , tôi tự hỏi :
Nếu độ chia nhỏ nhất của mỗi ống không phải là 50ml nữa , mà là 20 ml thì chúng ta sẽ giải như thế nào ?
Rất rất thú vị , các bạn thử sức xem sao ?
Có năng khiếu nghĩa là chưa có gì , tài ba chẳng qua là trò con trẻ , chỉ có nghiêm túc mới thành người và chăm chỉ mới tạo được vĩ nhân .

Offline dogiatan

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 2
Re: Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Bảy 23, 2008, 10:18:36 AM »
minh dang phai viet bao' cao ve cong nghe ma kem' nhung' nong' ban nao` cop tai` lieu nay` chi? giup minh` voi  cam on cac ban
đây là bài mình mới post này các bạn xem và gop ý giup mình nhé
Tính chất của lớp mạ
 quá trình mạ là quá trình kết tinh tốc độ lớn của tinh thể phụ thuộc vào tốc độ hình thành mầm tinh thể và tốc độ phất triển của tinh thể.Số lượng mầm tinh thể lớn tinh thể sẽ nhỏ bề mặt lớp mạ sẽ  mịn cón số lượng mầm tinh thể nhỏ tốc độ phát triển mầm tinh thể sẽ lớn lóp mạ sẽ thô.Mạng lưới tinh thể và cách sắp sếp tinh thể sẽ quyết định đến cấu trúc tinh thể còn độ lớn của mạng  lưới tinh thể sẽ xac định dạng bề mặt.mạn lưới tinh thể lớn sẽ  tạo nên bề mặt thô
1, Nguyên lý
-bề mặt sản phẩm lúc nhúng phải sạch dầu ,gỉ,sạch oxít sắt
-Tác dụng của lớp kẽm phủ là chống ăn mòn, tăng độ bền nhiệt , dẫn nhiệt và trang trí
*Nguyên tăc quan trọng của quá trình nhúng là:
Phải giảm tối đa khối lượngnhững dụng cụ nhúng để hạn chế tiêu hao nhiệt của nồi kẽm cũng như làm giảm chất lượng nhúng.
-bề mắt kim loại mạ phải không có ôxít ,tro và các tạp chất
-sản phẩm phải được nhúng nhanh và không được để nổi, không khí phải thoát nhanh
-Thời gian nhúng phải nhanh để giữ độ giày lớp kẽm trong giới hạn yêu cầu cũng như đạt được tính đồng nhất
-Tốc độ kéo sp khỏi bề mặt phải phù hợp với sp để đản bảo kẽm chảy hết,tốc đọ kéo ra nhanh sẽ làm cho lớp kẽm phủ dày và không đồng đều,tốc độ trung bình là 1-1,5m/p
-phải làm lạnh thích hợp để giảm nhanh nhiẹt đọ hạn chế sự khuyếch tán của sắt vào kẽm và giảm độ hòa tan của kẽm trong môi trường crômát khi có mặt của axit H2SO4 (PH = 4-4,5)
2 ,Đặc điểm chung
việc nhúng kim loại vào kẽm nóng chảy sẽ tạo nên lớp bảo vệ ăn mòn bao gồm  hợp kim Fe-Zn và Zn nguyên chất bên  ngoài
Kẽm nóng chảy có thành phần Zn 98,5% Al<=0,02% Fe<= 0,08% ,Pb ,cd.Cu
Khi nhúng sản phẩm sắt vào kẽm nóng chảy do quá trình khuyếch tán tương hỗ của kẽm với bề mặt Fe tạo thành lớp hợp kim Fe-Zn  bám tốt với nhiều pha
-Quá trình tạo các lớp kim loại phụ thuộc vào nhiệt độ kẽm nóng chảy , thời gian nhúng, thành phần hóa học của kẽm nóng chảy và bản chất của vật liệu cũng như trạng thái bề mặt của sp nhúng
-Sự tác động của kẽm nóng chảy đến Fe  phụ thuộc vào nhiệt độ nóng chảy và thời gian nhúng.Khi tăng nhiệt đọ sự khuyếch tán vào  thép sẽ thuận lợi hơn và khi nhiệt đọ cao hơn 460*C thì chỉ ưu tiên tạo lớp hợp kim và mất lớp kẽm nguyên chất màu sáng bạc,nên lớp bẩo vẹ khi đó chủ yếu là hợp kim sắt kẽm có màu xám
*Ảnh hưởng của các kim loại có trong kẽm
 - Hiện tượng kẽm cứng :Sắt hòa tan vào kẽm ở 450*C là 0,02% và chưa ảnh hưởng đến cấu trúc cũng như tính chất của lớp bảo vệ.Khi lượng Fe nhiều hơn sẽ tạo thành nhiều pha như FeZn 13, FeZn 7,Fe3Zn10 có tinh thể to vón cục nổi trong kẽm nóng chảy tạo nên kẽm cứng sẽ làm bẩn kẽm nóng chảy  làm giảm độ bám và khả năng bảo vệ ăn mòn, làm tăng khuyết tật và sự ko đồng đều cũng như giảm lớp mỹ quan bảo vệ,tương ứng với các pha hợp kim tạp thành làm cho tỷ trọng và nhiệt độ kẽm nóng chảy tăng.,Để tránh tạo kẽm cứng cần phải khống chế nhiệt độ nhúng  ,thành phần vật liệu , nhúng đúng yêu cầu kĩ thuật và thời gian tiếp xúc giữa sắt với kẽm ngắn
-Pb độ hòa tan của chì vào kẽm ơ 450*C khoảng 1% còn khi lớn hơn 1% thì sẽ  lắng xuống đáy do tỷ trọng cao nên có tác dụng bảo vệ đáy nồi lò khỏi bị ăn mòn và sự va chạm của vật nhúng cũng như làm nỏi vật nhúng khỉ rơi.khi bị xáo trộn Pb ở đáy lượng chì nóng chảy lớn hơn 1% sẽ làm tăng độ nhớt của kẽm làm giảm độ bám và mỹ quan lớp bảo vệ .vì chì rất độc nên trên bề mặt kim loại nóng chảy phải có lớp  phủ kín và được trang bị quạt hútđôc thông gió thât tốt
-Al ảnh hửong đến sụ hình thành các lớp hợp kim , với lượng nhôm cao thì Fe ít bị tan nên hầu như không  tạo thành lớp hợp kim Fe_Zn  tuy nhiên voéi nồng độ 0,3% độ bền ăn mòn của Zn giảm
-Sn va Cd  trong kẽm tăng làm tăng sự tác động của Zn với Fe  làm giảm độ bám và độ phủ của lớp bảo vệ
-Cu làm giảm độ bám  độ phủ và mỹ quan  của lớp bảo vệ  ,đặc biệt là độ bền ăn mòn của kẽm giảm 40% nếu có )0,8-1% Cu
-Thành phần của Fe mạ :C& Si ảnh hưởng mạnh đến quá trình hòa tan của Fe và Zn
3,Quy trình công nghệ
a, chất lượng sp phụ thuộc vào các yếu tố sau
-nhiệt độ bể và thời gian nhúng
-thành phần hóa học của bể kẽm và vật liệu nhúng
-Chất lượng xử lý bề mặt
-tiến trình kĩ thuật nhúng
-Xử lý lơpứ kẽm nhúng
b. các quy trình kĩ thuật
-b1 tẩy dầu mỡ
có nhiều pp để tẩy dầu mỡ pp điên hóa và pp hóa học tuy nhiên vớ mạ kẽm nhúng nóng chủ yếu dùng pp hóa học
tẩy dầu bằng  dd kiem trải qua 2 giai đoạn
+ do nhiệt độ tăng nên dầu mỡ  trên bề mặt kim loại sẽ bị hóa lỏg và do tỷ trọng nhỏ hơn nước nên sẽ đẩy dầu mỡ nổi lên trên bề mặt đ hoặc liên kết vơi đ tạo nên huyền phù hoặc hệ phân tán dạng keo
+Nhứng lớp phân tủ dầu mỡ bị hấp phụ bám chác vào bề mặt kim loại sẽ bị lực hấp phụ của dd kéo ra hoăc chất tẩy dầu mỡ sẽ thấm vào làm giảm lực hấp phụ của dầu mỡ nên bề mặt kim loai
PP nay có tac dung với mõ tự nhiên mà ko có tac dung với mõ khoáng khó rủa sạch và tác dung ăn mòn manh với  kim loại màu
*ngoai ra đc dùng nhiều trong xương mạ là pp đốt dầu trong bể kẽm
ưu điểm của pp này la tẩy sạch dầu mỡ mọtt cach triệt để
pp này có nhươc điẻm là mất thời gian. và tiêu hao 1 lương kẽm do kẽm bám vào sp đem đốt
-b2 tầy gỉ
+mục đích là đẻ laọi bỏ hết oxit Fe có trên bề mặt của thép,tạo điều kiện cho quá trình mạ nhúng nóng xảy ra dễ dàng
sau khi tẩy sạch dầu mỡ ta đem rửa sạch  kiềm để tránh trung hòa axit khi ngâm,thu hồi triệt để kẽm bám khi dùng pp đốt rồi mói cho vào tẩy gỉ
+Hóa chất đươc dùng để tẩy gỉ có thể là H2SO4 ,HCl với nồng độ thích hợp và bổ sung thêm chất ức chế để làm giảm khả năng ăn mòn của axit với nền Fe thép
Dùng H2SO4 nồnh độ 8-25%  nó có uu điểm là  rẻ tiền,ko bay hơi,ko gây ăn mòn với thiết bị và nhà xưởng,chất lưong tẩy tuong đối tốt,ít tổn thất ,thời gian tảy nhanh,và it gây ô nhiêm moi trường.Nhươc điểm là gây giòn Hidrô  với nền Fe do H2 thoát ra thẩm thấu 1 lương nhỏ vào thép gây giòn hidro làm ảnh hưởng đến chất lượng của Fe,ngoài ra nó còn làm cho bể mặt ko bằng phẳng ảnh hưởng đến lớp mạ
Dùng HCl nồng độ <16% .Ưu điểm của pp này là cho tốc độ tẩy nhanh hơn H2SO4 ,bề mặt của vật liệu tương đối bằng phẳng.ko gây giòn hidro .nhược điểm của pp này là giá thành của HCl tương đối cao. bốc hơi nhiều gây ăn  mòn nhà xưởng, ảnh hưởng đến môi trừong sức khỏe của người lao động,tổn thất axit nhiều,và nhiệt độ ko được vượt quá 40*
C
   Ta nên dùng pp tảy gỉ bằng H2SO4 có bổ sung thêm chất ức chế urotropin để giảm khẳ năng ăn mòn nền Fe
   Thời gian tẩy từ 60-150 phút tùy thuộc vào san phẩm,định kì 30p nhấc hàng nên để kiểm tra nhằm giảm khr năng ăn mòn và hiện tượng giòn hidro
+thường xuyên kiểm tra nồng đọ của axit bằng máy đo pH hoặc bàng pp phân tích hoăc quan sát bọt khí nổi nên.để bổ xung hoăc thay thế khi nồng độ ãit giảm khả năng tảy gỉ kém .Khi PH>=6 thì nên thay
+pha dd axit theo nguyên tăc sau tính lượng nước quy định đổ vào bể rồi đổ từ từ axit đặc vào theo mưc đã tính sẵn theo ví dụ dưới đây
pha 12m3 H2SO4 20% từ H2SO4 đăc có nồng độ 98%
đầu tiên tính toán trên giấy giả sử pha 1000 lít= 1m3 H2SO4 20%
-trong  1 000l H2SO4 20% chứa 200l H2SO4 100% tuy nhiên H2SO4 chỉ có nồng độ 98% .Do đó ta tính được thể tích  H2SO4 98% là =(200*100)/98=204 lít
như vậy ta chỉ cấn 204  lít H2SO4 98% đổ vào796 lít H2O ta sẽ thu dược 1000lít H2SO4 20%
- dể pha 12m3 thì x12 ta tính đươc thể tích H2SO4 98% cần dùng và thể tích nước trong    bể

+kiểm tra sau khi ngâm tẩy
các chi tiết sạch gỉ phải
                             bề mặt sáng màu sắc kim loại thép
                              không có các vết đen hoặc nâu của lớp gỉ sắt
sp không đạt được nhận biết
                          bề mặt còn vết nâu của gỉ Fe
                          bề mặt bị rỗ do thời gian ngâm tẩy quá lâu
                          bị dính các vết dầu mỡ bám vào
                          Bề mạt sp bị các khuyết tật do thép
cách xử lí
                       tiếp tục ngâm tẩy
                       dùng biện pháp cơ học để tẩy
                        tầy dầu còn lại
                         chế tạo lại những chi tiết bị hỏng do ngâm quá thơi gian(ôi thật lãng phí)
b3

Rửa nước
nhằm mụch đich rửa hết những cặn bẩn và axit còn lại trong quá trình ngâm tẩy
-nên sử dung ít nhất là 2 bể nươc.2 bể này là bể tran và thông nhau
-ngâm vào nước nhấc lên nhấc xuống nhiều lần  để rơi hết nươc và chuyến sang công đoạn tiếp theo
B4
Nhúng trợ dung
mụch đích loại bỏ FeO ,tạo liên kết giữa Fe va Zn
hóa chất được sd là NH4Cl và ZnCl2
theo tỷ lệ 3:1 Nồng độ 25-30%
nhiệt độ 25-50*C
B5Sấy khô
Nhằm mục đích cho chi tiết bốc phần lớn hơi nước để khi dìm chi tiết vào bể nhúng kẽm không bị bắn tung tóe và bước sấy khô còn nhằm mục đích gia nhiệt sơ bộ cho chi tiết trước khi chuyển sang nhúng kẽm.
Bước 6: Nhúng kẽm
Nhúng dìm chi tiết vào trong bể kẽm có nhiệt độ và thành phần thích hợp để kẽm khuếch tán và bám cơ học vào chi tiết với độ dày nhất định.
Bước 7 Làm nguội
Nhằm mục đích tạo cho lớp kẽm phủ trên bề mặt chi tiết có tổ chức tế vi thích hợp, do đó lớp phủ bền hơn và bóng sáng hơn. Đây là bể nước tràn.
Bước 8: Dung dịch thụ động
Nhằm mục đích tạo độ bám chặt lớp kẽm phủ trên bề mặt sản phẩm. Tăng khả năng chịu lực va đập, bền vững của lớp mạ (nâng cao độ không bong tróc của lớp kẽm phủ trong môi trư

Các hiện tương nguyên nhân cà cách khắc phục
hiện
tượng    nguyên nhân   cách khắc phục

tro và trợ dung bám trên bề mặt sản phẩm

   
Không gạt sạch tro và trợ dung ở bề mặt kẽm nóng chảy   

giữ sạch bề  mặt kẽm nóng chảy
 

có vết gỉ đỏ   
-tẩy không sach
-trợ dung bị cháy
-lớp Fe-Zn  bị oxi hóa   
-tảy sạch gỉ
-Giữ đúng nhiệt độ
-phải có lớp phủ kẽm nguyên chất








có chỗ kẽm không bám   
-không tẩy sạch dầu mỡ

-chỗ vết hàn
-sản phẩm tiếp xú khi ngâm trong dung dịch
Nộng đọ , nhiệt độ,pH thời gian tẩy không đúng
-Trợ dung bị cháy
-Lượng nhôm quá cao
-Nhúng quá châm

   sản phẩm nhúng dính nhau
   
   khí không thoát hết   
Chọn pp tẩy và chất tảy dầu mỡ thích hợp
-Xử lý bề mtj cho sạch
-chọn pp hàn thich hợp ,làm sách que hàn
-xếp ssản phẩm sao cho axits thấm đều
-giữ đúng chế đọ công nghệ
-Sấy đúng nhiệt độ quy định
-Điều chỉnh lượng nhôm
-Điều chỉnh tốc đọ nhúng
-Tránh để sản phẩm dính vào nhau khi nhúng
-Lức sản phẩm




Lớp kẽm quá dày   
a, thép có Si cao
b,nhiệt độ kẽm nóng chảy và thời gian nhúng tương ứng với khối lượng và dạng sản phẩm
c, độ nhám quá lớn   
a,Chọn thép khác
b,Xác định ĐK làm việc không theo khối lượng và dạng sản phẩm.thử mẫu sp để chon ĐK làm việc
c,làm sạch đẹn độ nhám trung bình




Lớp kẽm mỏng   
 
nhiệt độ kẽm nóng chảy và thời gian nhúng  không phù hợp   
xác định nhiệt độ kẽm và thời gian hợp với khồi lượng và dạng của sản phảm thử mẫu




Lớp kẽm bong tróc   
a, Làm lạnh đột ngột
bNhúng quá chậm
c va chạm mạnh khi vận chuyển ,xếp dỡ hoặc tháo lắp không đúng
d, bề mặt vật liệu không đồng nhất
e.Tích nhiệt lớp kẽm –sắt tiếp tục phát triển
   
a, giữ nhiệt độlàm lạnh ở 80*C
b, Tăng tốc độ nhúng
C,Giư đúng công nghệ vận chuyển lắp đặt
d,chọn vật liệu đồng nhất tránh tổ hợp nhiều vật liệu


lớp kẽm co lại không bám   a, trợ dung không bám
b, trợ dung bị cháy
c, bề mặt bẩn
   a, phân tích điều chỉnh nồng độ trợ dung
b, sấy đúng thời gian,giảm nhiềt độ sấy
c kiểm tra khâu  làm sạch

Lớp kẽm không bám do bọt khí
   
Ngâm ơ dd kẽm quá lâu,bọt khí bám vào sp   
Lắc sp.chú ý góc nhúng để bọt khí ,xỉ thoát ra,giảm thời gian ngâm






Dồn đống ,đọng giọt , tạo gai nhọn   

a,Kết cấu không thích hợp sai công nghệ,không có chỗ để thoát kẽm lỏng
b,tốc độ lấy sp nhanh hoăc nhiệt thấp





c,khi kéo sp kẽm lỏng chảy không đều mà thành giọt   

a,chọn kết cấu và công nghệ sao cho kẽm lỏng trôi nhanh,gạt thổi khi hoặc xoay sp,chọn cách nhúng sao cho kẽm chảy hết
b, chọn tộc độ lấy và nhiềt đọ dẻ kẽm có đủ thời gian chảy hết ,tốc độ 1-1,5m/p
diên tích tiép xúc với kemlỏng là nhỏ nhất khi lấy sp ra
c, tạo độ dốc khi kéo sp




Tro kẽm bám lại không tách ra khổi sản phẩm
   
a,Cháy tro kẽm
b,tro xỉ không gạt sạch khi lấy sản phẩm   
a,bề mặt kẽm nóng chảy phải sạch
b. Gạt sạch tro xỉ ,nhúng nhanh hơn



Vết xám từng chỗ trên bề mặt    
a,Thepa chứa nhiều C,Si,P
b,Bám nhiều tạp chất khi tẩy gỉ
c,làm lạnh  sp quá muộn
d,Khử Hidro hấp phụ   
a, chọn đúng chất lượng thép
b,Rưa sạch 2 lần , điều chỉnh pH trợ dung
c, tránh đẻ sp quá nóng,làm nguội đến 80*C
d, tránh tẩy gỉ quá lâu



Bề mặt vón cục   
a.bám kẽm cứng trên bề mặt
b,sp nhúng trong vùng kẽm cứng
c,kẽm cúng bị xáo trộn
d lương kẽm cún quá cao
   
a, chiều sâu của bể kẽm phải thích hợp
b.c.d Lắng kẽm cứng và múc kẽm cưng ra

tạo đốm từng vùng phân bố không đều trên bề mặt   
a,có kẽm cúng nổi trong kẽm nóng chảy
b,Vật liệu có khuyết tật trên bề mặt
c,có nhôm cao trong kẽm nóng chảy,sắt tác động mạnh ở nhưng nơi lỗi cơ học   
a,để kẽm cứng đọng lại dáy nồi và vớt kẽm cứng ra
b,Sử dụng vật liệu không có khuyết tật
c,giảm nhôm  trong kẽm nóng chảy khong được vươt quá o,1%


lớp kẽm bị thô từng vùng từng chỗ   
a.Thép có Si ,C cao
b,Bề mặt có oxit Fe
cNhiệt đọ bể kẽm quá cao
d.thời gian nhúng quá dài   
a,kiểm tra chất lương thép
b,Rửa kỹ giư đúng 2 lần rửa.Thay đổi thơi gian thêm ức chế
c.điều chỉnh nhiệt độ phù hợp với sản phẩm
d.thơi gian nhúng kết thúc khi sp đạt nhiệt độ kẽm nóng chảy


Tinh thể kẽm có hoa vơi các đường kính khác nhau
   

Xảy ra quá trình tạo mầm tih thể trêm bề mặt sp hoặc trongkẽm nóng chảy   

làm lạnh sp ngay sau khi nhúng đẻ tránh tạo mầm kết tinh

tạo bọt bóng với đường kính khác nhau
   
Khử Hidro hấp phụ trong thép khi nhúng
b, bốc hơi chất lỏng bị nhốt trong khe rãnh   
a.tránh tẩy gỉ lâu và bổ xung chất ức chế urotropin
b.làm khô kỹ
      
 
4,Tính chất của lơp kẽm nhúng
a,độ dày của lớp kẽm bám được tính theo công thức
     d=mA/DA
với mA la khối lượng kẽm phủ
   DA  là tỷ trọng của kẽm =7,12g/cm3
b,chiều dày trung bình của lớp kẽm nhúng tùy thuộc vào chiều dày của sp
Hiện nay chiều dày của kẽm theo chiều dày của sp mạ đươc quy dịnh theo tiêu chuẩn ATSM và TCN  sẽ được nêu sau
Bảng chiều dày Zn phủ  trung bình ( chưa áp dụng tiêu chuẩn ATSM và TCN)


chiều dáy sản phâm,mm              chiều dày lớp kẽm nhúng(Mm)
   trung bình
   giới hạn thấp nhất   giới hạn cao
1   2   3   4
<1   60   50   80
1-3   80   60   120
3-6   95   75   140
6-10   110   80   160
10-15   120   80   180
15-20   130   80   200
Gang đúc    100   70   140

Độ bám là tính chất rất quan trọng của lớp kẽm nhúng.Độ sạch và độ nhám của bề mặt sản phẩm càng cao thì đọ bám càng tốt,chiều dày lớp mạ hợp kim Fe-Zn càng co thì độ bám càng kém tốc độ làm lạnh nhanh lớp kẽm dễ bị nứt do hệ số nở vì nhiệt của Zn gap 3lan so với Fe Thành phần của Zn có Pb và thiếc sẽ làm giảm độ bám Lượng chì 0,1% giảm 1 nửa dộ bám
khi xử lý bề mặt không tốt và tạp chất bẩn của vật lạ khi đua vào kẽm cũng làm giảm độ bám
 
5.cromat hóa bề mặt
lớp cromat phủ trên bề mặt kẽm bám tốt bền ăn mòn và cho màu sắc đẹp
Tác dụng chống ăn mòn của lớp cromat hóa không phải là do sự thụ động của bề mặt kim loại mà do sự có mặt của cromat làm mất tác dụng của môi trường ẩm vì vậy hàm lượng cromat trong lớp bề mặt càng cao chiều dày lớp crômát càng lớn thì độ bền ăn mòn càng lâu.cường độ màu của lớp cromát hóa phụ thuộc vào tỷ lệ Cr+3/Cr+6
-do bền vững ăn mòn cao nên cromat hóa kem là một công doan quan trọng đẻ xử lí sau khi mạ
-Phương pháp cromát hóa gồm 2 giai đoạn
 xử lý bóng và nhuộm màu
hóa chất la Cro3 va H2CrO4 .H2SO4
PP này có nhược điểm là thời gian nhúng càng lâu thì kẽm càng mỏng ,cứ 10s kẽm tan 1-2Mm
-Lớp mạ kẽm tôt nhất đc cromat hóa coa màu cầu vồng với dd axit H2SO4 5-10g/l,CrO3 10-20g/l hoăc K2Cr2O7 trong 3p  với đ này lượng cromat làm ô nhiễm môi trường thấp mà độ đồng đều về màu trên sp cao
« Sửa lần cuối: Tháng Ba 26, 2009, 10:25:42 AM gửi bởi dogiatan »

Offline ThanhThao

  • Mơ.
  • Global Moderator
  • Yêu... Hóa học
  • *****
  • Bài viết: 105
  • Sum vầy
    • My Blog
Re: Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Chín 25, 2008, 11:13:39 AM »
Vừa tìm ra cộng nghệ mạ kẽm lạnh nè:
Hàng năm, gần một nửa sản lượng kẽm trên thế giới được dùng vào việc bảo vệ sắt thép trước một kẻ thù hung ác nhất - đó là sự han rỉ và ăn mòn mà hàng năm nuốt mất hàng chục triệu tấn sắt thép. Các quốc gia phải tiêu tốn chi phí rất lớn cho công tác chống ăn mòn kim loại của các công trình. Ở các nước công nghiệp phát triển, chi phí cho công tác chống rỉ sét và ăn mòn chiếm bình quân khoảng 4% GDP hàng năm của quốc gia.

Dưới tác động của môi trường, kim loại bị xâm thực, bị ăn mòn trong không khí, trong đất hay trong vùng ngập nước làm cho tuổi thọ công trình bị xuống cấp nhanh chóng. Lớp rỉ không đồng đều, nguy hiểm nhất là các dạng rỉ điểm, rỉ lỗ làm giảm khả năng chịu tải của kết cấu. Cũng còn nhiều quan niệm cho rằng các kết cấu bê tông cốt thép không bị ăn mòn, nhưng từ lý thuyết đến thực tế, các kết cấu bê tông cốt thép bị hỏng nặng do cốt thép bị ăn mòn, gây trương nở, tăng thể tích bên trong, mất liên kết giữa cốt thép và bê tông làm giảm khả năng chịu tải và tuổi thọ công trình.
Các công trình do nước ngoài đầu tư thì các biện pháp bảo vệ chống ăn mòn rất được chú ý và coi trọng. Ở nước ta, chi phí cho bảo vệ chống ăn mòn còn rất thấp, thường dành chi phí cho các phương pháp sơn chống rỉ thông thường nên không ít các công trình sau vài năm sử dụng đã phải nâng cấp, bảo dưỡng.
BIỆN PHÁP CHỐNG RỈ SÉT & ĂN MÒN TRUYỀN THỐNG
Các biện pháp chống rỉ và ăn mòn phổ biến hiện nay là sử dụng các vật liệu ít bị ăn mòn, các vật liệu này thường có giá thành cao, chỉ lắp đặt ở những nơi không bị ngập nước và biện pháp phổ biến nhất là dùng sơn phủ bảo vệ. Lớp sơn phủ bảo vệ nhằm tạo một lớp màn chắn (barrier) cách ly kim loại với môi trường nhưng khi lớp bảo vệ này bị hỏng thì hơi ẩm thâm nhập và ăn mòn tấn công vào bên dưới lớp sơn gây phồng rộp và ăn mòn nên có tuổi thọ thấp chỉ vài năm.
Đối với các công trình bị ngập nước hay chôn trong đất thì kết hợp thêm biện pháp chống ăn mòn catốt (cathodic protection). Biện pháp này đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới như các giàn khoan biển, cầu cảng, hệ thống bồn bể đường ống đều có hệ thống chống mòn catốt.
Chống ăn mòn catốt là sử dụng bản chất của quá trình ăn mòn điện hóa để xây dựng thành một hệ gồm catốt (kim loại cần bảo vệ) và anốt. Anốt được chọn như Mg, Al, Zn làm vật liệu hy sinh thay thế cho sắt thép cần bảo vệ vì các kim loại này đều đứng trước Fe trong bảng tuần hoàn hóa học. Trong hệ luôn tồn tại dòng điện một chiều đi qua giữa anốt và catốt, xuất phát từ sự chênh lệch điện thế giữa hai kim loại khác nhau trong môi trường tồn tại dung dịch điện phân là nước hoặc do bị áp đặt từ nguồn điện một chiều bên ngoài.
Chúng ta có thể thấy một dạng chống ăn mòn catốt phổ biến nhất, được ứng dụng rộng rãi hiện nay như: trụ điện chiếu sáng, cầu cảng, tháp điện lực, ống nước…là phương pháp mạ kẽm nhúng nóng.
Tại sao mạ kẽm nhúng nóng lại có tuổi thọ dài như vậy?
Các kết cấu kim loại sau khi đã được làm sạch bằng axit, hóa chất… được đưa vào các bể kẽm được nung nóng chảy ở nhiệt độ cao hình thành nên một màng chắn bao bọc kim loại. Lớp bảo vệ này chịu va đập, không thấm nước, chống tia cực tím…Muốn ứng dụng phương pháp này đòi hỏi phải đầu tư một dây chuyền khép kín với chi phí khá cao.
Bên cạnh đó một phương pháp mạ kẽm vô cùng hiệu quả đã được sử dụng trên thế giới hơn 50 năm qua đó là Zinc-rich cold galvanizing tạm gọi là phương pháp “mạ kẽm lạnh”.
PHƯƠNG PHÁP MẠ KẼM LẠNH (ZINC-RICH COLD GALVANIZING COATING) :
Ngày nay chúng ta có thể thấy kẽm được sử dụng ở mọi nơi trên thế giới dùng để bảo vệ kim loại như mạ điện phân, mạ nhúng nóng hay phun kẽm…
Mạ kẽm lạnh là phủ lên bề mặt kim loại một lớp kẽm lỏng tương tự như sơn ở nhiệt độ môi trường bình thường, bằng cách dùng áp lực khí nén thổi dung dịch kẽm lỏng thành chùm các hạt kẽm bắn vào bề mặt kim loại đã vệ sinh sạch bề mặt. Trong dung dịch kẽm có chất gắn liên kết và các phụ gia giúp cho kẽm bám chặt vào bề mặt kim loại và khô cứng trong vài giờ tương tự như các loại sơn truyền thống.
Lớp phủ kẽm sau khi khô cung cấp hai chức năng bảo vệ: thứ nhất là chức năng bảo vệ thụ động (passive protection) là lớp màng chắn bảo vệ kim loại như các loại sơn truyền thống; và chức năng thứ hai là bảo vệ chủ động (active protection) tức chức năng chống ăn mòn catốt (Cathodic protection), chức năng này có ở lớp phủ bảo vệ bằng mạ kẽm nhúng nóng (hot-dip galvanizing).
Dung dịch giàu kẽm trên 92% Zn là một hỗn hợp dẫn điện rất tốt sau khi khô, do đó cho phép dòng điện chạy liên tục về mọi hướng trên lớp mạ. Đây là điều kiện tiên quyết để lớp phủ có chức năng chống ăn mòn catốt. Khi trong lớp mạ có sự xuất hiện của ẩm ướt hình thành dung dịch điện phân thì sẽ xảy ra phản ứng hóa học, kẽm có điện thế chuyển dịch electron cao hơn sắt thép nên tham gia ngay vào quá trình phản ứng, phân tán và giải phóng các electron tạo ra dòng điện chạy qua sắt thép làm cản trở sự phân tán của các ion thép và bắt đầu chu kỳ điện hóa. Kẽm trở thành một vật hy sinh để bảo vệ cho sắt thép là catốt.
Quá trình phản ứng tạo ra hydro các-bô-nát kẽm và các muối kẽm khác hình thành nên một lớp màng mỏng che kín bề mặt lớp mạ kẽm. Lớp màng mới này không thấm nước, ngăn cản nước và thời tiết tấn công làm dừng quá trình ăn mòn điện hóa. Lớp màng bây giờ đóng vai trò như lớp bảo vệ thụ động.
Khi lớp màng bảo vệ này bị hư hỏng thì các phân tử kẽm lại sẵn sàng tham gia vào quá trình chống ăn mòn điện hóa mới. Cứ như thế kẽm sẽ hy sinh, ngay cả khi lớp mạ kẽm bị trầy xước thì ăn mòn cũng không thể thực hiện được ý đồ tạo rỉ của mình và tấn công vào bên dưới lớp mạ. Quá trình này giúp bảo vệ cho kim loại không bị ăn mòn và tự hàn gắn vết thương tại các điểm trầy xước.
Về điểm này, các loại sơn truyền thống hay sơn kẽm khác với hàm lượng kẽm (không phải độ tinh khiết của kẽm) dưới 92% thì không thể có được. Do vậy, khi bị một lỗ thủng rất nhỏ, bằng dấu chấm thôi, cũng đủ để các tác nhân xâm thực có đường đột nhập vào sắt, làm cho sắt bắt đầu bị rỉ nhanh chóng.
Kẽm đã được chứng minh là lớp phủ bảo vệ ưu việt cho các kết cấu thép công trình ở vùng biển nhiều thập niên qua. Mạ kẽm lạnh là giải pháp thay thế mạ kẽm nhúng nóng một cách hiệu quả đối với những kết cấu có kích thước lớn và cố định như hệ thống đường ống, bồn bể, các công trình cảng biển,thuỷ lợi, cầu đường và sử dụng bảo trì sữa chữa cho các kết cấu mạ kẽm nhúng nóng bị ăn mòn theo thời gian. Mạ kẽm lạnh cho phép thi công dễ dàng tại công trường là phun, quét hay lăn như các loại sơn truyền thống.

[/center]

Offline ThanhThao

  • Mơ.
  • Global Moderator
  • Yêu... Hóa học
  • *****
  • Bài viết: 105
  • Sum vầy
    • My Blog
Re: Tài liệu liên quan đến HCHC các bạn post tại đây!
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Chín 25, 2008, 11:32:26 AM »
Đây là quy trình mạ kẽm nhúng nóng:

 
I. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC BỂ MẠ

Kích thước bể mạ: 12000mm x 850mm x 1000mm (LxWxH)


Kích thước nồi lò: 10000mm x 600mm x 800mm (LxWxH)


Năng suất: 1000 tấn/tháng


Sản phẩm mạ bao gồm:


Kết cấu thép


Ống thép


Sàn lưới thép


Tất cả các dạng sản phẩm bằng thép ...


Thiết bị sử dụng trong quá trình mạ:


Hệ thống cầu trục chạy trên: 02 bộ gồm 04 palăng loại 2.5 tấn


Hệ thống đốt lò mạ kẽm bằng dầu DO


Bể đun với nhiệt độ không đổi 500 °C


Hệ thống tự động điều khiển nhiệt độ


Bể tẩy nhờn : 12000 x 800 x 1000


Bể rửa sạch : 12000 x 800 x 1000


Bể rửa acid : 12000 x 800 x 1000


Bể hóa chất xử lý : 12000 x 800 x 1000


Bể làm nguội : 12000 x 800 x 1000


Hệ thống xử lý nước thải :
Hệ thống xử lý nước thải được cấp chứng nhận hoạt động đạt tiêu chuẩn nước thải công nghiệp TCVN 5945-1995 do sở Tài Nguyên & Môi Trường TP.HCM cấp ngày 08-12-2004.
Số: 8290/TNMT-QLMT
   


 

II/ QUY TRÌNH MẠ KẼM NHÚNG NÓNG

1. Lưu đồ:


 
2. Diển giải chi tiết:
Bước 1: Tẩy nhờn
Trong quá trình gia công, bảo quản các BTP (kết cấu thép, ống thép, sàn lưới thép, các sản phẩm bằng thép) luôn có một lượng dầu mỡ và các tạp chất bám trên bề mặt chi tiết. Nếu không tẩy rửa hoặc tẩy rửa không triệt để lớp dầu mỡ và tạp chất này, lớp kẽm mạ nhúng nóng sẽ không bám hoặc bám không bền, lớp mạ có màu sắc khác thường. Việc tẩy dầu mỡ và các tạp chất được thực hiện trong bể dung dịch kiềm nguội có thêm chất phụ gia.
Bước 2: Rửa sạch
Mục đích: rửa sạch kiềm (để không trung hòa khi mang qua bể acid) và váng dầu mỡ khỏi chi tiết. Đây là bể nước tràn.
Bước 3: Tẩy rỉ lần 1
Mục đích: Tẩy phần lớn phần rỉ sét trên bề mặt chi tiết. Bể này là dung dịch acid clohydric (HCl) trong nước có nồng độ cao và được cho vào một lượng nhỏ chất phụ gia có tác dụng kiềm hãm acid ăn mòn nền thép và hạn chế acid bay hơi.
Bước 4: Tẩy rỉ lần 2
Mục đích: Tẩy triệt để phần rỉ sét còn lại trên bề mặt chi tiết. Bể này là dung dịch acid clohydric (HCl) loảng trong nước và cũng được cho vào một lượng nhỏ chất phụ gia có tác dụng kiềm hãm acid ăn mòn nền thép.
Bước 5: Rửa sạch
Mục đích: Rửa sạch acid và clorua sắt hình thành trong quá trình tẩy rỉ khỏi chi tiết. Đây là bể nước tràn.
Bước 6: Kiểm tra
BTP sau khi tẩy rỉ và rửa sạch tiến hành kiểm tra. Nếu BTP đạt (không còn lớp dầu mỡ, tạp chất và rỉ sét bám trên bề mặt chi tiết) chuyển sang bể hóa chất xử lý. Nếu BTP không đạt (vẫn còn lớp dầu mỡ, tạp chất và rỉ sét bám trên bế mặt chi tiết) thực hiện trở lại bước 1 theo như lưu đồ.
Bước 7: Hóa chất xử lý
Mục đích: Bảo vệ bề mặt chi tiết không bị oxy hóa (tạo rỉ) lại trong quá trình sấy và tăng mức độ thấm ướt của kẽm lên bề mặt chi tiết khi mạ nhúng.
Bước 8: Sấy khô
Nhằm mục đích cho chi tiết bốc phần lớn hơi nước để khi dìm chi tiết vào bể nhúng kẽm không bị bắn tung tóe và bước sấy khô còn nhằm mục đích gia nhiệt sơ bộ cho chi tiết trước khi chuyển sang nhúng kẽm.
Bước 9: Nhúng kẽm
Nhúng dìm chi tiết vào trong bể kẽm có nhiệt độ và thành phần thích hợp để kẽm khuếch tán và bám cơ học vào chi tiết với độ dày nhất định.
Bước 10: Làm nguội
Nhằm mục đích tạo cho lớp kẽm phủ trên bề mặt chi tiết có tổ chức tế vi thích hợp, do đó lớp phủ bền hơn và bóng sáng hơn. Đây là bể nước tràn.
Bước 11: Dung dịch thụ động
Nhằm mục đích tạo độ bám chặt lớp kẽm phủ trên bề mặt sản phẩm. Tăng khả năng chịu lực va đập, bền vững của lớp mạ (nâng cao độ không bong tróc của lớp kẽm phủ trong môi trường tự nhiên)
Bước 12: Kiểm tra thành phẩm
Sản phẩm sau khi nhúng kẽm được tiến hành kiểm tra độ bám dính, chiều dày lớp mạ, màu sắc... Nếu sản phẩm đạt tiến hành nhập kho thành phẩm. Nếu sản phẩm không đạt thực hiện lại bước 1 theo như lưu đồ.

Chúng tôi rất lấy làm hãnh diện được cung cấp những dịch vụ tốt nhất cùng những sản phẩm mạ kẽm nhúng nóng đạt chất lượng cao cho những công trình xây dựng công nghiệp và dân dụng. Sản phẩm của chúng tôi được Tổng Cục Tiêu Chuẩn Đo Lường Chất Lượng, Trung Tâm Chứng Nhận QUACERT chứng nhận lớp phủ mạ kẽm nóng đạt chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn TCVN 5408:1991 và được cấp phép sử dụng dấu chất lượng Việt Nam
 

[/center]

 

Blog Du Lịch