Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Hỏi - đáp hoá dược  (Đọc 72682 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline NorthernWind

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 12
Re: Hỏi - đáp hoá dược: Dược lý của cây sở và cây đại hải
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Ba 24, 2008, 11:19:34 AM »
Mình cần hỏi thêm vài thứ, ban có thể cho mình số điện thoại hoặc địa chỉ mail chính xác không, mình gửi mail không được. Số điện thoại của mình là 098 336 4798
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:02:59 AM gửi bởi tutram1992 »

Cộng đồng Hóa học H2VN

Re: Hỏi - đáp hoá dược: Dược lý của cây sở và cây đại hải
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Ba 24, 2008, 11:19:34 AM »

Offline hoahoc9x

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 3
Thuốc và thể thao
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Tư 10, 2008, 03:28:33 PM »
(Tổng hợp)
 Nhiều quốc gia cấm dùng thuốc làm gia tăng thành tích của vận động viên vì thuốc có ảnh hưởng đến sức khoẻ của vận động viên và kết quả của thành tích không trung thực. Người ta xét nghiệm nước tiểu một cách tình cờ để phát hiện việc dùng thuốc trong các cuộc tranh tài thể thao.

Có một số thuốc được sử dụng để chữa bệnh cho các vận động viên như thuốc điều trị suyễn hoặc động kinh. Tuy nhiên nên chú ý đến dùng thuốc điều trị tiêu chảy, nghẹt mũi hoặc ho vì các thuốc thông thường này có thể chứa các chất bị cấm dùng trong thể thao.

Phân loại thuốc “DOPING”

Có 4 loại thuốc chủ yếu được các vận động viên sử dụng để kích thích thể chất và tâm thần.

Thuốc kích thích

Các thuốc ở nhóm này có tác dụng ngừa mệt mỏi, làm tăng sự tự tin, tuy nhiên cũng ảnh hưởng đến hành vi và gây kích động làm tăng nguy cơ chấn thương cho người dùng hoặc đối thủ.

-     Các thuốc như  amphetamin làm loạn nhịp tim. Dùng thuốc kéo dài gây suy tim và tăng nguy cơ xuất huyết não. Có một số thuốc chữa cảm, ho có chứa thuốc kích thích bị cấm dùng với liều thấp do đó không nên dùng trước lúc thi đấu.

-      Caffein có trong cà phê, trà, nước ngọt cola và dạng viên là chất kích thích quen thuộc. Đa số các quốc gia cấm dùng caffein liều cao.

Nội tiết tố

Hai loại nội tiết tố có thể bị lạm dụng là steroid đồng hoá (xem steroid đồng hoá) và nội tiết tố tăng trưởng.

Steroid đồng hoá là chất tương tự nội tiết tố nam testosterone, được dùng vì làm mau hồi phục cơ sau vận động nặng, cho phép tập luyện nhiều hơn và làm tăng khối lượng cơ và sức mạnh. Steroid đồng hoá được các vận động viên cử tạ, chạy đua tốc độ và vận động viên điền kinh, thể hình sử dụng. Nguy cơ của việc lạm dụng steroid đồng hoá là hại gan, bướu gan và tổn thương tuyến thượng thận. Ơû đàn ông thuốc gây vô và bất lực, ở phụ nữ thuốc gây nam tính hoá. Nếu dùng thuốc lúc còn nhỏ tuổi sẽ làm lùn do thuốc ảnh hưởng lên vùng tăng trưởng của xương.

Nội tiết tố tăng trưởng được lạm dụng để kích thích sự tăng trưởng của cơ, có thể gây to đầu chi (tăng trưởng xương quá mức làm biến dạng mặt, bàn tay và bàn chân) và gây tiểu đường.

Thuốc giảm đau

Chỉ có thuốc giảm đau loại gây ngủ bị cấm sử dụng nhưng việc dùng thuốc giảm đau (ngay cả  loại giảm đau nhẹ như paracetamol) sẽ làm nặng thêm chấn thương vì chúng làm che lấp cơn đau khiến vận động viên tiếp tục vận động gây tổn thương kéo dài.

Thuốc chẹn BêTa

Dùng làm giảm run trong các môn thể thao cần thiết có bàn tay thật vững. Nhiều quốc gia hiện nay đã cấm dùng thuốc này mặc dù không rõ chúng có gây hại hay không?
« Sửa lần cuối: Tháng Tư 10, 2008, 03:42:07 PM gửi bởi hoahoc9x »

Offline hoahoc9x

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 3
Sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Tư 18, 2008, 01:17:02 PM »
 Sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng

Chất điều hoà sinh trưởng (ĐHST) tự nhiên là những hormon, chúng tồn tại tự nhiên trong cây trồng với hàm lượng rất nhỏ, chúng có khả năng di chuyển từ bộ phận này sang bộ phận khác của cây và có tác dụng điều hoà quá trình trao đổi chất.

Các ĐHST tự nhiên được chia thành 5 nhóm chính là nhóm Auxin, Gibberellin, Cytokinin, Absisic Acid và Etylen. Nhôm Auxin gồm các chất chính: -Acid lndolacetic (IAA), (-Naptilacetic -NAA), (-Naptilacetic -NAA) và Acid lndolbutilic (IBA).

Nhóm Auxin có tác dụng: Kích thích phân chia và kéo dài tế bào; Cần thiết cho sự hình thành rễ, kích thích ra rễ; Kích thích sự lớn lên của bầu quả. Nhóm Gibberellin (GA) có hàng chục chất khác nhau, nhưng thông dụng nhất là từ GA1 đến GA5, trong đó GA3 có tác dụng mạnh nhất.

Gibberellin có tác dụng kích thích sự phát triển của tế bào theo chiều dọc; Kích thích sự sinh trưởng và phát triển của cây theo chiều cao, làm thân vươn dài, giúp hình thành các chồi nách nhiều hơn; Làm mất hạt của quả, phá giai đoạn ngủ nghỉ của hạt để kích thích hạt nảy mầm; Tăng số lượng lá, thay đổi hình dạng và tăng diện tích của lá; Kìm hãm sự phát triển của bộ rễ; Kích thích ra hoa, kéo dài cuống hoa, giúp hoa to hơn. Tuy nhiên Gibberellin chỉ phát huy tốt tác dụng khi cây trồng có đầy đủ dinh dưỡng N, P, K. Cytokinin được cây tổng hợp từ một bộ phận của rễ và từ rễ vận chuyển lên các bộ phận khác của cây. Người ta đã chiết xuất được Cytokinin từ hạt ngô (bắp) non.

Cytokinin có tác dụng kích thích sự phân chia tế bào (đặc biệt trong trường hợp kết hợp với Auxin); Kích thích chồi phát triển; Hạn chế quá trình phân huỷ diệp lục tố; tăng độ nhớt của tế bào từ đó tăng tính chống chịu của cây với nhiệt độ cao, hạn hán, phèn mặn, độc tố, nấm và vi sinh gây bệnh; Ngăn cản sự hoá già của mô (làm cho hoa, rau, trái cây tươi lâu hơn).

Nhóm Absisic Acid có tác dụng ức chế sự phát triển của cây (có thể dùng để phun nhằm hạn chế sự ra hoa của mía, làm mía rụng lá hàng loạt để thu hoạch thuận lợi); ức chế quá trình nảy mầm của hạt (dùng bảo quản hạt giống lâu dài), ức chế quá trình phát triển của chồi hoa (giúp ra hoa muộn, ra trái vụ); Tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất thuận của cây (kích thích đóng khí khổng làm hạn chế thoát hơi nước khi cây gặp hạn).

Nhóm Etylen có tác dụng kìm hãm sự phát triển của lá, kìm hãm sự phân chia tế bào. Kích thích quá trình già của lá và rụng lá trên cây; Kích thích cây hoa sớm (dứa, khóm); Kích thích quá trình chín của quả và phát triển của hạt và củ; Kích thích quá trình vận chuyển nhựa của cây (cao su).

Bắt chước thiên nhiên, con người đã điều chế ra các chất ĐHST nhân tạo mang nhiều lợi ích cho trồng trọt như kích thích nảy mầm của hạt giống kích thích ra rễ (giâm cành, chiết cành), kích thích sinh trưởng, kích thích ra hoa đậu quả đến tạo quả không hạt kích thích quá trình chín hay kéo dài thời gian chín của quả... dùng  Etylen để kích thích ra hoa ở dứa hay kích thích các mủ cao su. Ethrel hay Ethephon dùng trong việc kích thích ra hoa sớm, ra trái vụ xoài và cây ăn trái.

Các chất ĐHST mang lại nhiều bổ ích. Tuy nhiên việc sử dụng chúng như con dao 2 lưỡi nếu sử dụng đúng loại, đúng liều lượng, đúng nồng độ và đúng thời kỳ của cây mới cho được kết quả tốt, còn nếu chúng ta không áp dụng 4 đúng trên sẽ không có tác dụng hoặc tác dụng ngược.

(Nguồn: NNVN, 16/4/2008)

Offline hey

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 10
Hỏi - đáp hoá dược: CTCT và CTPT của vitamin C,A,D,B và E
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Năm 23, 2008, 10:29:38 PM »
có ai biết tên và công thức cấu tạo hoặc công thức phân tử của vitamin C,A,D,B và E?
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:04:03 AM gửi bởi tutram1992 »

Offline Để dành

  • ...::lonely::...
  • Cựu thành viên BQT
  • Gold Member H2VN
  • ****
  • Bài viết: 1158
  • nothing is impossible
Re: Hỏi - đáp hoá dược: CTCT và CTPT của vitamin C,A,D,B và E
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Năm 24, 2008, 08:17:02 AM »
bác vô en.wikipedia.org tìm thử chưa    ;D

Vitamin A
Vitamin B
Vitamin C
Vitamin D
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:03:52 AM gửi bởi tutram1992 »
Một chút hương thơm còn lại           
Một ánh mắt quen để lại
Và lối đi trên con hè nhỏ,cùng mưa nắng hai mùa vẫn qua
...
Và anh sẽ mãi luôn kể lại nụ hôn khẽ khi mùa xuân bắt đầu
Những gì đã wa anh sẽ để dành suốt đời

Offline vannho_ptt_255

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 7
Hỏi - đáp hoá dược: Melphalan
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Sáu 12, 2008, 01:16:56 AM »
 cac pac ui cho em hoi chut nhe
    co pac nao co thong tin ve chat MALPHALAN day la ten thuong mai cua mot loai thuoc chua dau tuy song va mot so benh khac . pac nao co thi nhan tin tra loi giup em voi nhe
thank !
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:04:39 AM gửi bởi tutram1992 »

Offline tutram1992

  • Cựu thành viên BQT
  • Gold Member H2VN
  • ****
  • Bài viết: 403
Re: Hỏi - đáp hoá dược: Melphalan
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Sáu 12, 2008, 11:57:50 AM »
hình như tên thuốc là Melphalan mới đúng chứ. Em có 1 số thông tin như sau, ko biết có giúp đc gì hay ko?

MELPHALAN


Tên chung quốc tế: Melphalan.

Mã ATC: L01A A03.

Loại thuốc: Thuốc chống ung thư, tác nhân alkyl hóa; thuộc nhóm mù tạc nitrogen (Nitrogen mustard).

Dạng thuốc và hàm lượng


Viên nén 2 mg và 5 mg, lọ 50 mg hoặc 100 mg bột đông khô kèm 10 ml dung môi để pha tiêm.

Dược lý và cơ chế tác dụng

Melphalan là thuốc alkyl hóa, dẫn chất phenylalanin mù tạc nitrogen có tác dụng dược lý và độc hại tế bào giống như những mù tạc nitrogen khác.

Tính độc hại tế bào của melphalan có liên quan tới sự liên kết chéo với các sợi DNA; melphalan có tác dụng đối với cả những tế bào ung thư ở thời kỳ ngừng phát triển và những tế bào ung thư đang phân chia nhanh. Thuốc có tác dụng kích thích mô mạnh.

Melphalan được hoạt hóa thành những ion carbonium hoạt động, nhờ đó hai nhóm clorethyl của phân tử phản ứng và liên kết đồng hóa trị với các base của DNA. Melphalan liên kết chủ yếu vào các base guanosin, và vì mỗi phân tử melphalan có hai vị trí liên kết, nên sẽ liên kết đồng hóa trị với hai sợi đối diện của DNA: DNA - 6 - melphalan - 6 - DNA.

Bằng cách ấy chuỗi xoắn kép DNA bị khóa lại, nên không thể sao chép. Tuy nhiên, tác dụng này tác động cả đối với tế bào ung thư lẫn tế bào không ung thư, và hậu quả là melphalan có những tác dụng không mong muốn mạnh, do ức chế sự phân chia tế bào của mô bình thường, như suy tủy xương, tác hại trên biểu mô, ở ruột và rụng tóc. Vì melphalan có những tác hại mạnh chống nguyên phân, nên phải điều chỉnh liều lượng tùy theo tính nhạy cảm của cá nhân. Suy tủy xương là yếu tố cần giảm liều quan trọng nhất, và không được dùng melphalan nếu người bệnh có số bạch cầu trung tính dưới 3000/ml hoặc tiểu cầu dưới 100.000/ml, hoặc có mức hồng cầu rất thấp hoặc giảm tiểu cầu nặng. Melphalan được dùng để điều trị u tủy, ung thư buồng trứng giai đoạn muộn, u melanin ác tính và một số ung thư khác.

Dược động học


Sau khi uống, nồng độ melphalan huyết tương thay đổi nhiều, so với thời gian bắt đầu xuất hiện melphalan trong huyết tương (trong phạm vi 0 đến 336 phút) và với nồng độ đỉnh huyết tương (trong phạm vi 0,166 đến 3,741 microgam/ml) đạt được. Những kết quả này có thể do hấp thụ ở ruột không hoàn toàn, chuyển hóa ở gan thay đổi, hoặc do thủy phân nhanh chóng.

Sau khi uống và tiêm tĩnh mạch liều 0,6 mg/kg, diện tích dưới đường cong nồng độ, thời gian ở huyết tương sau khi uống trung bình là 61% ± 26% (trong phạm vi 25% đến 89%) so với sau khi tiêm tĩnh mạch.

Sau khi uống liều 0,6 mg/kg, nửa đời huyết tương giai đoạn cuối của thuốc mẹ là 89,5 ±  50 phút. Thải trừ trong nước tiểu 24 giờ của thuốc mẹ là 10% ±  4,5%, cho thấy thận không phải là đường thải trừ chủ yếu của thuốc mẹ. Melphalan được tìm thấy 20% đến 50% trong phân sau khi uống.

Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định của melphalan là 0,5 lít/kg. Thuốc thâm nhập ít vào dịch não tủy, và liên kết của melphalan với protein huyết tương từ 60% đến 90%. Albumin huyết thanh là protein liên kết chủ yếu. Khoảng 30% melphalan liên kết vững chắc với protein huyết tương. Tương tác với các immunoglobulin không đáng kể.

Melphalan thải trừ khỏi huyết tương chủ yếu do thủy phân thành monohydroxy và dihydroxymelphalan. Có mối tương quan thuận giữa hằng số tốc độ thải trừ melphalan với chức năng thận, và mối tương quan nghịch giữa chức năng thận và diện tích dưới đường cong nồng độ/thời gian trong huyết tương.

Chỉ định

Ðau tủy, carcinom biểu mô buồng trứng không thể cắt bỏ, ung thư vú và u melanin ác tính.

Tuy phổ tác dụng chung của melphalan giống các nitrogen - mustard khác, nhưng thuốc có ưu điểm là uống được nên rất có ích trong điều trị đau tủy.

Chống chỉ định

Nhiễm khuẩn toàn thân.

Suy tủy xương nặng.

Trước đó đã bị kháng thuốc.

Quá mẫn với melphalan.

Thận trọng

Không dùng melphalan cho người bệnh nếu trong vòng 3 - 4 tuần trước đó đã dùng những thuốc ức chế tủy xương khác, hoặc dùng liệu pháp tia X.

Dùng thận trọng với người bệnh suy giảm chức năng thận hoặc có sỏi thận hoặc bệnh gút vì có nguy cơ tăng acid uric huyết.

Phải dùng melphalan với liều lượng được hiệu chỉnh cẩn thận, dưới sự giảm sát của bác sỹ có khả năng, có kinh nghiệm sử dụng hóa trị liệu chống ung thư, biết rõ tác dụng và biến chứng có thể xẩy ra.

Tủy xương bị ức chế gây ra giảm bạch cầu dẫn đến nhiễm khuẩn và giảm tiểu cầu dẫn đến chảy máu là tác dụng độc hại có ý nghĩa nhất trong liệu pháp dùng melphalan ở phần lớn người bệnh.

Melphalan gây sai lạc nhiễm sắc thể in vitro và in vivo, do đó có khả năng gây đột biến trên người. Ðiều này cũng quan trọng cả đối với nhân viên y tế.

Có nguy cơ gây hoại tử mô, trong trường hợp tiêm ra ngoài mạch máu.

Kết hợp với acid nalidixic có thể gây chết người do gây viêm ruột non - đại tràng chảy máu.

Dùng liều cao melphalan với ciclosporin gây độc trên thận, làm hư hại chức năng thận và có nguy hại tiềm tàng.

Thời kỳ mang thai


Melphalan có thể gây độc hại đối với thai khi dùng cho phụ nữ mang thai.

Melphalan gây chết phôi và sinh quái thai, nếu dùng thuốc này trong khi thai nghén. Nếu người bệnh mang thai trong khi dùng thuốc, phải báo cho người bệnh biết về nguy cơ có thể xẩy ra đối với thai. Khuyên những phụ nữ có khả năng mang thai nên dùng biện pháp tránh thai.

Thời kỳ cho con bú


Không biết melphalan có tiết vào sữa hay không. Tuy nhiên không được dùng melphalan cho người mẹ cho con bú hoặc nếu buộc phải dùng thuốc thì phải ngừng cho con bú.

Tác dụng không mong muốn (ADR)


Ðộc tính lâm sàng của melphalan phần lớn là về huyết học (ức chế tủy xương ở tất cả người bệnh điều trị) và giống như những thuốc alkyl hóa khác. Buồn nôn và nôn ít khi xảy ra. Rụng tóc không xảy ra với liều thông thường và chưa thấy thay đổi về chức năng thận hoặc gan. Mức độ ức chế tủy xương phụ thuộc vào liều và thời gian dùng hóa trị liệu trước đó.

Những phản ứng quá mẫn kể cả phản vệ, hiếm khi xảy ra. Những phản ứng này xảy ra sau nhiều đợt điều trị và tái diễn ở những người bệnh đã có phản ứng quá nhạy cảm với melphalan tiêm tĩnh mạch.

Những ung thư thứ phát, kể cả bệnh bạch cầu cấp không thuộc dòng lympho, hội chứng tăng sinh tủy và carcinom đã xảy ra ở những người bệnh ung thư được điều trị với melphalan. Nguy cơ gây bệnh bạch cầu tăng lên cùng với thời gian điều trị và tổng liều tích lũy. Nếu điều trị lâu dài có thể gây bệnh bạch cầu cấp.

Melphalan ức chế chức năng buồng trứng ở phụ nữ tiền mãn kinh, dẫn đến mất kinh ở nhiều người bệnh. Cũng xẩy ra ức chế tinh hoàn có hồi phục hoặc vĩnh viễn (chứng không tinh trùng).

Thường gặp, ADR > 1/100

Huyết học: Suy tủy cấp tính: Giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu (có thể hồi phục nếu ngừng dùng melphalan sớm).

Tiêu hóa
: Buồn nôn, nôn, ỉa chảy, loét miệng, viêm miệng.

Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100

Tim mạch: Viêm mạch.

Da: Tăng nhạy cảm da, rụng tóc, ngoại ban, mày đay.

Hô hấp: Xơ phổi, viêm phổi kẽ.

Huyết học
: Thiếu máu tan huyết.

Khác: Phản ứng dị ứng, kể cả phản vệ, ung thư thứ phát, mất kinh, phù.

Hướng dẫn cách xử trí ADR


Nếu dùng những yếu tố kích thích để chống lại suy tủy, thì những yếu tố tăng trưởng này chỉ được dùng khi melphalan đã thải trừ hết, và không bao giờ dùng trước hóa trị liệu.

Trong tất cả các trường hợp, khi dùng melphalan, người thầy thuốc phải cân nhắc giữa ích lợi của thuốc với nguy cơ do thuốc gây ra. Dùng thuốc phải theo dõi chặt chẽ những tác dụng không mong muốn.

Phải dùng melphalan hết sức thận trọng ở người bệnh mà tủy xương đã bị tổn hại bởi chiếu tia hoặc liệu pháp hóa học trước đó, hoặc chức năng tủy xương đang phục hồi sau khi dùng thuốc độc hại với tế bào được tiến hành trước đó.

Trong khi điều trị với melphalan, có thể cần phải dùng allopurinol để chống lại tác dụng tăng acid uric huyết, do dị hóa quá mức acid nucleic.

Phải thực hiện những xét nghiệm sau đây lúc bắt đầu điều trị và trước mỗi đợt dùng melphalan sau đó: Ðếm tiểu cầu, đếm bạch cầu, công thức bạch cầu, và xét nghiệm hemoglobin. Nếu bạch cầu giảm dưới 3.000 tế bào/mm3, hoặc nếu tiểu cầu dưới 100.000 tế bào/mm3, phải ngừng dùng melphalan cho đến khi số lượng tế bào máu ngoại biên đã phục hồi.

Nếu có phản ứng quá mẫn, không được dùng lại melphalan uống hoặc tiêm tĩnh mạch.

Phải cân nhắc lợi ích của melphalan với nguy cơ có thể gây ung thư thứ phát đối với từng người bệnh.

Phải theo dõi chặt chẽ người bệnh có urê huyết cao để khi cần phải giảm liều vào thời gian sớm nhất.

Trong trường hợp rủi ro tiêm thuốc ra ngoài mạch máu, có thể chườm lạnh, và nếu những liều lớn thuốc khuếch tán trong mô, có thể làm ngấm lọc với dung dịch natri thiosulfat.

Phải thông báo cho người bệnh là những tác dụng độc hại chủ yếu của melphalan có liên quan với suy tủy xương, những phản ứng quá mẫn, độc hại tiêu hóa, và độc hại phổi. Những tác dụng độc hại lâu dài chủ yếu là vô sinh và ung thư thứ phát.

Người bệnh không bao giờ được dùng melphalan mà không có sự giám sát y tế chặt chẽ và phải hỏi ý kiến thầy thuốc nếu thấy có ban da, viêm mạch, chảy máu, sốt, ho dai dẳng, buồn nôn, nôn, mất kinh, sút cân, hoặc có những khối u không bình thường. Khuyên phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ dùng biện pháp tránh thai.

Liều lượng và cách dùng


Uống

Nuốt viên thuốc vào lúc đói. Không nhai nát.

Ðau tủy: Có nhiều phác đồ điều trị bằng melphalan uống hoặc tiêm đã được dùng, nhưng vẫn còn chưa rõ phác đồ nào có kết quả nhất. Ða số dùng liều 0,15 mg/kg/ngày trong 7 ngày liền hoặc 0,25 mg/kg/ngày liền 4 ngày, hoặc 0,20 mg/kg/ngày liền 5 ngày. Tổng liều một đợt 1 mg/kg. Nghỉ 4 - 6 tuần rồi lại tiếp đợt khác. Trước mỗi đợt thuốc phải kiểm tra công thức máu. Không được dùng nếu bạch cầu trung tính dưới 3000/mm3 hoặc tiểu cầu dưới 100.000/mm3. Dùng 2 - 3 đợt; sau đó, nếu bạch cầu và tiểu cầu tăng trở lại, có thể dùng liều duy trì 2 mg/ngày.

Trường hợp đau tủy, nếu kết hợp với prednisolon liều 20 - 40 mg/ngày sẽ cho kết quả tốt hơn. Phải giảm liều prednisolon dần trong 4 ngày rồi mới ngừng thuốc.

Ung thư buồng trứng giai đoạn muộn
: Liều melphalan thường uống là 0,2 mg/kg mỗi ngày, trong 5 ngày. Phải chia liều 24 giờ thành ba liều nhỏ uống trong ngày. Nghỉ 4 - 8 tuần rồi lại tiếp tục đợt khác, với điều kiện trước hết là tủy xương đã phục hồi.

Tiêm tĩnh mạch

Hoà tan bột thuốc với dung môi hoặc dung dịch natri clorid 0,9%; tiêm chậm vào tĩnh mạch. Ðể truyền tĩnh mạch, phải pha loãng dung dịch thuốc với natri clorid 0,9% (cách pha xem phần tương kỵ) và tiêm truyền trong vòng 1 giờ 30 phút.

Liều 0,4 mg/kg thể trọng (16 mg/m2 diện tích cơ thể), cứ 2 tuần một lần, dùng 4 lần. Sau đó mỗi tháng một lần. Trường hợp đa u tủy nên phối hợp thêm prednison như trên.

Trong liệu pháp liều cao, dùng liều duy nhất 100 - 200 mg/m2 (2,5 - 5 mg/kg). Khi dùng liều trên 140 mg/m2, cần kết hợp với thuốc hoặc phương pháp để phục hồi tủy xương sau khi dùng melphalan.

Ðiều chỉnh liều khi bị suy giảm chức năng thận

Nếu độ thanh thải creatinin 10 - 50 ml/phút: Dùng 75% liều bình thường.

Nếu độ thanh thải creatinin dưới 10 ml/phút: Dùng 50% liều bình thường.

Tương tác thuốc

Cimetidin và thuốc đối kháng H2 làm giảm pH dịch dạ dày nên làm giảm khả dụng sinh học của melphalan 30%.

Ciclosporin làm tăng tỷ lệ độc hại thận của melphalan.

Ðộ ổn định và bảo quản

Thuốc (tiêm, uống) bảo quản ở nơi khô ráo, nhiệt độ từ 15 đến 25oC, tránh ánh sáng và để thuốc trong lọ thủy tinh.

Thời gian từ lúc pha thuốc đến khi tiêm phải trong vòng 60 phút, vì dung dịch đã pha không ổn định. Thuốc tiêm bảo quản ở nơi khô ráo, nhiệt độ dưới 25oC.

Tương kỵ

Pha dung dịch tiêm truyền như sau: Trước hết hòa tan bột thuốc trong lọ với dung môi (5 mg/ml). Dung dịch này ổn định về hóa học và vật lý trong ít nhất 90 phút ở 25oC.

Ngay sau đó pha loãng liều melphalan trong dung dịch natri clorid 0,9% tới nồng độ 0,1 - 0,45 mg/ml. Dung dịch này ổn định về hóa học và vật lý trong ít nhất 60 phút ở 25oC. Vì dung dịch rất không ổn định nên phải dùng trong vòng một giờ kể từ lúc hòa tan. Không để dung dịch ở tủ lạnh vì có thể kết tủa.

Quá liều và xử trí

Hậu quả tức thời của quá liều có thể là ngứa, loét miệng, ỉa chảy và chảy máu đường tiêu hóa. Tác dụng độc hại chính là suy tủy xương. Phải theo dõi chặt chẽ những thông số huyết học trong 3 đến 6 tuần.

ÁP dụng những biện pháp hỗ trợ chung, cùng với truyền dịch và thuốc kháng sinh. Thẩm tách máu không loại bỏ được melphalan ra khỏi huyết tương với mức độ có ý nghĩa.

Thông tin qui chế

Thuốc độc bảng A.
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:05:17 AM gửi bởi tutram1992 »
Tình yêu bền lâu là tình yêu dành cho tất cả ...
Hạnh phúc tròn đầy là hạnh phúc trải khắp muôn nơi ...

Offline Voi Còi

  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 656
  • Albert Einstein
    • http://www.h2vn.com
Re: Thuốc và thể thao
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Sáu 12, 2008, 10:24:03 PM »
      Cho mình hỏi nếu khi mình chơi thể thao mà bị chấn thương nặng thì làm sao? Nhỡ bắt buộc dùng thuốc giảm đau mà thuốc giảm đau bị cấm thì khó khăn wá?  ???

Offline tutram1992

  • Cựu thành viên BQT
  • Gold Member H2VN
  • ****
  • Bài viết: 403
Re: Thuốc và thể thao
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Sáu 13, 2008, 09:31:34 AM »
Khi chơi mà bị thương nặng thì dĩ nhiên là phải dùng thuốc giảm đau rùi, còn chuyện cấm ở đây là cấm uống trong khi thi đấu, tức là chấn thương rùi uống thuốc và thi đấu tiếp, vì như vậy sẽ làm vết thương nặng hơn; còn nếu bị thương fải ngừng thi đấu + ra khỏi sân, ko đấu nữa thì đâu ai cấm dùng thuốc giảm đau ;)
Tình yêu bền lâu là tình yêu dành cho tất cả ...
Hạnh phúc tròn đầy là hạnh phúc trải khắp muôn nơi ...

Offline trung116

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 3
Re: Hỏi - đáp hoá dược - Ampisilin
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Sáu 21, 2008, 01:06:14 PM »
Có phải nếu uống nhiều thuốc Ampicilin thì thuốc sẽ ko còn công dụng nữa đúng ko??

Nguyên tắc khi dùng thuốc kháng sinh là phải dùng đúng thuốc có tác dụng và dùng đủ liều, đủ ngày. Phải dùng kèm với vitamin nhóm B hoặc C để tăng sức đề kháng của cơ thể.
Liều dùng cho Ampi là từ 2g-10g/ngày, dùng tối thiểu 3 ngày, dù thấy đỡ rồi vẫn phải uống đủ 3 ngày nếu không sẽ rất dễ bị nhờ thuốc.
Nếu Dùng Ampicilin trong 3 ngày mà không thấy đỡ thì phải chuyển sang dùng thuốc kháng sinh khác mạnh hơn như: cefaclo, cefuroxim hay cefixim.
Có thể kết hợp nhóm KS này với nhóm Quinolone như norfloxacin, cycpofloxacin sẽ có tác dụng tăng cường.
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:05:51 AM gửi bởi tutram1992 »

Offline vannho_ptt_255

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 7
Hỏi - đáp hoá dược : Tổng hợp sacolyzin
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Sáu 21, 2008, 04:23:32 PM »
co ai bit cach tim tai lieu ve  tong hop sacolyzin thi bao jup minh voi; thank
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:06:23 AM gửi bởi tutram1992 »

Offline Voi Còi

  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 656
  • Albert Einstein
    • http://www.h2vn.com
Re: Hỏi - đáp hoá dược : Tổng hợp sacolyzin
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Sáu 23, 2008, 10:26:42 PM »
co ai bit cach tim tai lieu ve  tong hop sacolyzin thi bao jup minh voi; thank

    Bạn ơi, tên của chất bạn có viết đúng ko? Vì mình tìm trên google nhưng nhận đc thông báo là ko có tài liệu nào liên quan đến chất bạn cần tìm cả. Bạn xem lại tên cho đúng nhé, ko thì mất công dò lắm  ;). Thân
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:06:40 AM gửi bởi tutram1992 »

Offline thesameminh

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
Hỏi - đáp hoá dược : Khoáng chất Talc trong dược phẩm
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Sáu 25, 2008, 03:54:18 PM »
Bác nào biết trong ngành Dược phẩm, khoáng chất Talc phải có thông số thế nào cho phù hợp để sản xuất. Mong các bác chỉ giúp
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:07:16 AM gửi bởi tutram1992 »

Offline vannho_ptt_255

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 7
Re: Hỏi - đáp hoá dược : Tổng hợp sacolyzin
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Sáu 26, 2008, 08:05:25 PM »
 ah minh nham ten  cua chat la sarcolysine. cac ban tìm cho mình về cách tổng hợp chất này nhé.mình đang tìm tài liệu về nó mà.hic..Thanks!
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:07:27 AM gửi bởi tutram1992 »

Offline Voi Còi

  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 656
  • Albert Einstein
    • http://www.h2vn.com
Re: Hỏi - đáp hoá dược : Tổng hợp sacolyzin
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Sáu 26, 2008, 09:51:16 PM »
ah minh nham ten  cua chat la sarcolysine. cac ban tìm cho mình về cách tổng hợp chất này nhé.mình đang tìm tài liệu về nó mà.hic..Thanks!

    Hic, mình tìm khắp nơi mà ko có tài liệu nào liên quan cả. Hãy chắc chắn là viết đúng chính tả vì mình dò ở từ điển tiếng Anh cũng ko thấy xuất hiện từ chuyên môn này  ;)Mình bó tay roài. Tìm bên google & wikimedia đều ko có cả. Sr
« Sửa lần cuối: Tháng Chín 04, 2008, 11:07:40 AM gửi bởi tutram1992 »