Loading

Like H2VN trên Facebook
nha thuoc truc tuyen

Tác giả Chủ đề: Hóa học  (Đọc 8369 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Hóa học
« vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 08:01:43 PM »
Hóa học là khoa học về những kết cấu, đặc tính, cấu tạo, và cách thay đổi của các chất. Hóa học nói về các nguyên tố và hợp chất, đó gồm có nguyên tử và phân tử, và phản ứng với những đó.

Lịch sử hóa học Hóa học phát triển từ giả kim thuật, đã được thực hành từ hàng ngàn năm trước ở Trung Hoa, Châu Âu và Ấn Độ. Khoa giả kim thuật nghiên cứu về vật chất, nhưng thế giới của những nhà giả kim thuật đều dựa trên kinh nghiệm thực tế và công thức bắt nguồn từ thực hành chứ không dựa vào những nghiên cứu khoa học. Mục đích của họ là một chất gọi là "Hòn đá thông minh" dùng để biến đổi những chất như chì thành vàng. Các nhà giả kim thuật đã tiến hành rất nhiều thí nghiệm để tìm ra chất này qua đó họ đã phát triển nhiều dụng cụ mà ngày nay vẫn còn được sử dụng trong kỹ thuật hóa học. Nhưng không một nhà giả kim thuật nào tìm ra được hòn đá thông minh đó và trong thế kỷ thứ 17, các phương pháp làm việc của khoa giả kim thuật được thay đổi bằng những phương pháp khoa học. Một phần kiến thức của các nhà giả kim thuật được sử dụng bởi các nhà hóa học, những người làm việc dựa vào kết luận hợp lý của những gì mà họ quan sát được chứ không dựa vào ý nghĩ biến hóa chì thành vàng. Lịch sử của hóa học có thể được coi như bắt đầu từ lúc Robert Boyle tách hóa học từ khoa giả kim thuật trong tác phẩm The Skeptical Chemist (Nhà hóa học hoài nghi) vào năm 1661 nhưng thường được đánh dấu bằng ngày Antoine Lavoisier tìm ra khí ôxy vào năm 1783. Hóa học như là một môn khoa học đã có được nhiều thúc đẩy vào thế kỷ 19. Những nghiên cứu của Justus von Liebig về tác động của phân bón đã thành lập ra ngành Hóa nông nghiệp và cung cấp nhiều nhận thức cho ngành hóa vô cơ. Cuộc tìm kiếm một hóa chất tổng hợp thay thế cho chất màu indigo dùng để nhuộm vải là bước khởi đầu của những phát triển vượt bậc cho ngành hóa hữu cơ và dược. Một đỉnh cao trong việc phát triển ngành hóa học là phát minh bảng tuần hoàn nguyên tố của Dmitri Ivanovich Mendeleev và Lothar Meyer. Mendelev đã sử dụng quy luật của bảng tuần hoàn để tiên đoán trước sự tồn tại và tính chất của germanium, gallium và scandium vào năm 1870. Gallium được tìm thấy vào năm 1875 và có những tính chất như Mendeleev đã tiên đoán trước. Nghiên cứu trong hóa học đã phát triển trong thời kỳ chuyển tiếp sang thế kỷ 20 đến mức các nghiên cứu sâu về cấu tạo nguyên tử đã không còn là lãnh vực của hóa học nữa mà thuộc về vật lý nguyên tử hay vật lý hạt nhân. Mặc dù vậy các công trình nghiên cứu này đã mang lại nhiều nhận thức quan trọng về bản chất của sự biến đổi chất hóa học và của các liên kết hóa học. Các động lực quan trọng khác bắt nguồn từ những khám phá trong vật lý lượng tử thông qua mô hình quỹ đạo điện tử.

Tầm quan trọng

1. Trong cuộc sống
Phản ứng hóa học xảy ra trong cuộc sống hằng ngày thí dụ như trong lúc nấu ăn, làm bánh hay rán mà trong đó các biến đổi chất xảy ra một cách rất phức tạp đã góp phần tạo nên hương vị đặc trưng cho món ăn. Thêm vào đó thức ăn được phân tách ra thành các thành phần riêng biệt và cũng được biến đổi thành năng lượng trong các quá trình phân hủy trong cơ thể (hóa sinh). Sự đốt cháy cũng là một phản ứng hóa học có thể được quan sát dễ dàng. Nhuộm tóc, động cơ đốt trong, màn hình của điện thoại di động, bột giặt, phân bón, dược phẩm,... là các thí dụ khác cho ứng dụng của hóa học trong cuộc sống hằng ngày.

2. Liên hệ với khoa học khác
Hóa học nghiên cứu về tính chất của các nguyên tố và hợp chất, về các biến đổi có thể có từ một chất này sang một chất khác, tiên đoán trước tính chất của những hợp chất chưa biết đến cho tới nay, cung cấp các phương pháp để tổng hợp những hợp chất mới và các phương pháp đo lường hay phân tích để tìm các thành phần hóa học trong những mẫu thử nghiệm. Mặc dù tất cả các chất đều được cấu tạo từ một số loại "đá xây dựng" tương đối ít, tức là từ khoảng 80 đến 100 nguyên tố trong số 118 nguyên tố được biết đến nhưng sự kết hợp và sắp xếp khác nhau của các nguyên tố đã mang lại đến vài triệu hợp chất khác nhau, những hợp chất mà đã tạo nên các loại vật chất khác nhau như nước, cát (chất), mô sinh vật và mô thực vật. Thành phần của các nguyên tố quyết định các tính chất vật lý và hóa học của các chất và làm cho hóa học trở thành một bộ môn khoa học rộng lớn. Cũng như trong các bộ môn khoa học tự nhiên khác thí nghiệm trong hóa học là cột trụ chính. Thông qua thí nghiệm các lý thuyết về cách biến đổi từ một chất này sang một chất khác được phác thảo, kiểm nghiệm, mở rộng và khi cần thiết thì cũng được phủ nhận. Tiến bộ trong các chuyên ngành khác nhau của hóa học thường là các điều kiện tiên quyết không thể thiếu cho những nhận thức mới trong các bộ môn khoa học khác, đặc biệt là trong các lãnh vực của sinh học và y học, cũng như trong lãnh vực của vật lý (thí dụ như việc chế tạo các chất siêu dẫn mới). Hóa sinh, một chuyên ngành rộng lớn, đã được thành lập tại nơi giao tiếp giữa hóa học và sinh vật học và là một chuyên ngành không thể thiếu được khi muốn hiểu về các quá trình trong sự sống, các quá trình mà có liên hệ trực tiếp và không thể tách rời được với sự biến đổi chất. Đối với y học thì hóa học không thể thiếu được trong cuộc tìm kiếm những thuốc trị bệnh mới và trong việc sản xuất các dược phẩm. Các kỹ sư thường tìm kiếm vật liệu chuyên dùng tùy theo ứng dụng (vật liệu nhẹ trong chế tạo máy bay, vật liệu xây dựng chịu lực và bền vững, các chất bán dẫn đặc biệt tinh khiết,...). Ở đây bộ môn khoa học vật liệu đã phát triển như là nơi giao tiếp giữa hóa học và kỹ thuật.

3. Trong công nghiệp
Công nghiệp hóa là một ngành kinh tế rất quan trọng. Công nghiệp hóa sản xuất các hóa chất cơ bản như axít sunfuric hay amoniac, thường là nhiều triệu tấn hằng năm, để thí dụ như dùng trong sản xuất phân bón và chất dẻo. Mặt khác công nghiệp hóa cũng sản xuất rất nhiều hợp chất phức tạp, đặc biệt là dược phẩm. Nếu không có các hóa chất được sản xuất trong công nghiệp thì cũng không thể nào sản xuất máy tính hay nhiên liệu và chất bôi trơn cho công nghiệp ô tô.

Phân Ngành Chính
Hóa học được chia ra theo loại chất nghiên cứu mà quan trọng nhất là cách chia truyền thống ra làm Hóa hữu cơ (Hóa học nghiên cứu về những hợp chất của cácbon) và Hóa vô cơ (Hóa học của những nguyên tố và hợp chất không có chuỗi cácbon). Một cách chia khác là chia Hóa học theo mục tiêu thành Hóa phân tích (phân chia những hợp chất) và Hóa tổng hợp (tạo thành những hợp chất mới). Một số chuyên ngành quan trọng khác của Hóa học là : Hóa sinh, Hóa-Lý, Hóa lý thuyết bao gồm ngành Hóa lượng tử, Hóa thực phẩm, Hóa lập thể, và Hóa dầu. Ngoai ra còn 1 ngành cũng rất quan trọng đến ngành hóa đó là Cơ hóa-Nghiên cứu+sản xuất+ chế tạo các thiết bị phục vụ ngành hóa
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 17, 2009, 04:16:12 PM gửi bởi Để dành »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Cộng đồng Hóa học H2VN

Hóa học
« vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 08:01:43 PM »

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 08:12:32 PM »
Các khái niệm quan trọng
1. Nguyên tử
Nguyên tử là thành phần nhỏ nhất trong hóa học. Nó được xem là nhỏ nhất vì đối với hóa học, nguyên tử không thể bị chia nhỏ hơn được.

2. Nguyên tố
Nguyên tố là tập hợp nguyên tử có cùng số proton giống nhau trong hạt nhân. Số này được gọi là số nguyên tố. Thí dụ: tất cả nguyên tố có 6 proton trong hạt nhân thuộc về nguyên tố cacbon, và tất cả những nguyên tố có 92 proton trong hạt nhân thuộc nguyên tố urani.
3.Hợp chất
Một hợp chất trong hóa học là một chất có tỷ lệ cố định của các nguyên tố cấu thành và có một cấu tạo nhất định quyết định các tính chất hóa học. Thí dụ như nước là một hợp chất có hiđrô và ôxy với tỷ lệ 2:1. Các hợp chất được tạo thành và biến đổi thông qua các phản ứng hóa học. Nguyên tố là tập hợp những nguyên tử đồng vị, có cùng số proton nhưng khác số nơtron. Có khoảng 110 nguyên tố hóa học, số thứ tự nguyên tố trong bảng tuần hoàn chính là số hạt proton trong hạt nhân nguyên tử.Ví dụ : Nguyên tố Hydrô là tập hợp 3 loại đồng vị của nguyên tử hydrô.

4. Phân tử
Phân tử là là phần nhỏ nhất không thể chia cắt được nữa của một hợp chất tinh khiết mà vẫn giữ được các tính chất hóa học đồng nhất. Một phân tử chứa đựng 2 hay nhiều nguyên tử liên kết với nhau.

5. Ion
Ion là một chất có tích điện hay một nguyên tử hay phân tử đã mất đi hay có thêm một điện tử. Cation tích điện dương (thí dụ như cation của natri Na+) và anion tích điện âm (thí dụ clorua Cl-) tạo thành muối trung tính (thí dụ như natri clorua). Hyđroxyt (OH-) hay phosphat (PO43-) là các thí dụ cho ion nhiều nguyên tử không bị chia cắt trong các phản ứng axít-bazơ.

6. Liên kết hóa học
Liên kết hóa học là liên kết giữa các nguyên tử trong phân tử hay tinh thể. Trong nhiều hợp chất đơn giản, thuyết liên kết hóa trị và khái niệm về số ôxi hóa có thể được ứng dụng để tiên đoán rất nhiều cấu trúc của ion. Thế nhưng thuyết liên kết hóa trị không giải thích được cấu tạo của các hợp chất phức tạp hơn thí dụ như các hợp chất phức của kim loại và người ta phải cần đến các lý thuyết khác dựa trên cơ sở của hóa lượng tử thí dụ như thuyết quỹ đạo phân tử.

7. Trạng thái vật chất
Trong vật lý và hóa học, một trạng thái vật chất, hay một pha của vật chất, là một tập hợp các điều kiện vật lý và hóa học mà ở đó vật chất có các tính chất lý hóa đồng nhất.

8.Phản ứng hóa học
Phản ứng hóa học là các biến đổi trong cấu trúc của các phân tử. Trong phản ứng hóa học các phân tử liên kết với nhau tạo thành các phân tử lớn hơn hay bị phá vỡ ra thành 2 hay nhiều phân tử nhỏ hơn. Các phản ứng hóa học thường bao hàm việc tạo thành hay phá vỡ các liên kết hóa học.

9. Hóa lượng tử
Hóa lượng tử miêu tả tính chất của vật chất ở quy mô phân tử. Về nguyên tắc có thể dùng thuyết này để miêu tả tất cả các hệ thống hóa học. Trên thực tế chỉ có các hệ thống hóa học đơn giản nhất mới có thể được nghiên cứu nếu như chỉ dùng thuyết cơ học lượng tử và nhiều phép gần đúng phải được tiến hành cho nhửng mục đích trong thực tế.

10. Các định luật
Khái niệm cơ bản nhất trong hóa học là định luật bảo toàn khối lượng, không có thay đổi về số lượng của vật chất trong một phản ứng hóa học. Vật lý hiện đại đã chỉ ra rằng chính năng lượng mới được bảo toàn và đồng thời năng lượng và khối lượng có liên hệ trực tiếp với nhau, một thuyết quan trọng trong ngành hóa hạt nhân. Bảo toàn năng lượng dẫn đến nhiều lý thuyết khác của cân bằng hóa học, nhiệt động lực học và động lực học hóa học.

Các định luật khác của hóa học phát sinh từ định luật bảo toàn khối lượng. Định luật tỷ lệ xác định của Joseph Proust cho rằng các hóa chất tinh khiết được cấu tạo từ nguyên tố với một công thức cố định. Ngày nay chúng ta đã biết rằng cách sắp xếp của các nguyên tố cũng rất là quan trọng. Định luật tỷ lệ bội số của John Dalton cho rằng các nguyên tố này hiện diện trong hóa chất với một tỷ lệ nhất định là các số nguyên nhỏ (thí dụ như 1:2 O:H trong nước), mặc dầu vậy các phân tử lớn trong sinh học và trong hóa học về khoáng chất các tỷ lệ này có xu hướng đi đến các số lớn hơn.

Các định luật hiện đại của hóa học định nghĩa mối quan hệ giữa năng lượng và sự biến đổi.

Trong một cân bằng, các phân tử tồn tại trong hỗn hợp được xác định bằng các biến đổi có thể xảy ra theo thời gian của cân bằng này và tỷ lệ của chúng được xác định bởi năng lượng bên trong của các phân tử. Năng lượng bên trong càng nhỏ thì phân tử càng có nhiều.
Biến đổi từ cấu trúc này sang cấu trúc khác cần dùng đến năng lượng để vượt qua rào cản năng lượng. Năng lượng cần dùng này có thể là năng lượng bên trong của chính các phân tử hay từ một nguồn bên ngoài mà nói chung là sẽ làm tăng tốc độ biến đổi. Rào cản năng lượng càng cao thì biến đổi xảy ra càng chậm.
Định đề Hammond-Leffler cho rằng cấu trúc của các phân tử tại trạng thái chuyển tiếp trong các phản ứng hóa học sẽ tương tự với sản phẩm hay hóa chất khởi đầu mà có năng lượng bên trong gần giống nhất.
Tất cả các quy trình hóa học đều có thể đảo ngược được mặc dù một vài quy trình cần nhiều năng lượng đến mức về cơ bản chúng không đảo ngược được.


Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 08:18:58 PM »
Về nguyên tử:
Nguyên tử là phần tử hóa học nhỏ nhất không thể phân chia cấu tạo nên vật chất . Mỗi loại nguyên tử có tính chất vật lý và hóa học đặc trưng và tạo nên một nguyên tố hóa học. Mỗi nguyên tố có một nguyên tử số xác định.

Do trong các phản ứng hóa học, nguyên tử là phần tử nhỏ nhất không phân chia được, ý nghĩa này mang lại tên gọi nguyên tử, "phần tử luôn giữ nguyên". Tuy nhiên, trong một số tương tác vật lý, nguyên tử có thể được tách ra thành các thành phần nhỏ bé hơn, gọi là các hạt hạ nguyên tử hay Điện Tử . Có ba loại Điện Tử Cơ Bản

 1.Điện Tử Âm : Điện Tử có Điện Âm
 2.Điện Tử Dương : Điện Tử có Điện Dương
 3.Điện Tử Trung Hòa : Điện Tử không tích điện
Lý thuyết hóa học cho rằng tất cả vật chất được tạo thành từ các nguyên tử được gọi là lý thuyết nguyên tử.

Mô hình sơ khai:
Mô hình nguyên tử là một nội dung của lý thuyết nguyên tử, nó phát biểu rằng nguyên tử được tạo thành từ các phần tử nhỏ hơn được gọi là các hạt hạ nguyên tử. Khái niệm nguyên tử được Democritus đưa ra từ khoảng 450 TCN. Tuy nhiên, các nhà khoa học cổ Hy Lạp không dựa trên các phương pháp thực nghiệm để xây dựng các lý thuyết mà dựa trên siêu hình học. Chính vì thế mà từ khi Democritus đưa ra khái niệm đó cho đến tận thế kỷ thứ 18 thì người ta mới có những bước tiến bộ đáng kể trong việc phát triển lý thuyết về nguyên tử. Trong hoá học, dựa trên định luật bảo toàn khối lượng và định luật tỉ lệ các chất trong các phản ứng hoá học, vào năm 1808, John Dalton (1766-1844) đã đưa ra lý thuyết nguyên tử của mình để giải thích các định luật trên. Lý thuyết của ông dựa trên năm giả thuyết. Giả thuyết thứ nhất phát biểu rằng tất cả vật chất đều được tạo thành từ các nguyên tử. Giả thuyết thứ hai là các nguyên tử của cùng một nguyên tố sẽ có cùng một cấu trúc và tính chất. Giả thuyết thứ ba là các nguyên tử không thể bị phân chia, không thể được sinh ra hoặc mất đi. Giả thuyết thứ tư là các nguyên tử của các nguyên tố khác nhau kết hợp với nhau để tạo ra các hợp chất. Giả thuyết thứ năm là trong các phản ứng hoá học, các nguyên tử có thể kết hợp, phân tách hoặc tái sắp xếp lại. Lý thuyết của Dalton không chỉ giải thích các định luật trên mà còn là cơ sở để xây dựng các lý thuyết khác về nguyên tử sau này.

Cả Democritus và John Dalton đều cho rằng nguyên tử không có cấu trúc, tức là nguyên tử không được tạo thành từ các phần tử nhỏ hơn, chính vì thế người ta thường gọi các mô hình đó là mô hình sơ khai về nguyên tử. Cùng với sự phát triển của khoa học, các giả thuyết của John Dalton được xem xét lại và người ta thấy rằng không phải nguyên tử là hạt không có cấu trúc mà ngay cả nguyên tử của cùng một nguyên tố cũng có thể có tính chất khác nhau. Vào đầu thế kỷ thứ 20, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, nguyên tử được tạo thành từ ba loại hạt hạ nguyên tử, được gọi là proton, neutron và điện tử (electron). Proton và neutron nằm ở trung tâm nguyên tử và tạo nên hạt nhân của nguyên tử và điện tử chiếm khoảng không gian xung quanh hạt nhân đó. Số hạt hạ nguyên tử và sự sắp xếp của các hạt đó trong nguyên tử sẽ xác định tính chất hoá học của nguyên tố. Nguyên tử của cùng loại nguyên tố có thể có số neutron khác nhau (được gọi là các đồng vị) và số điện tử khác nhau (được gọi là ion). Số proton là yếu tố quyết định tính chất hoá học của nguyên tố.

Việc tìm ra điện tử:
Điện tử là hạt hạ nguyên tử đầu tiên được tìm ra dựa vào tính chất điện của vật chất. Vào cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ thứ 19, người ta đã nghiên cứu ống chùm ca-tốt (cathode ray tube). Ống chùm ca-tốt là một ống thuỷ tinh, bên trong có chứa khí có áp suất thấp, một đầu của ống là cực dương, và đầu kia là cực âm. Hai cực đó được nối với một nguồn có điện thế khác nhau, nguồn này tạo ra một dòng hạt có thể đi qua khí bên trong ống. Người ta giả thiết rằng có một chùm hạt phát ra từ cực dương đi về phía cực âm và làm cho ống phát sáng. Chùm đó được gọi là chùm ca-tốt. Khi đặt một vật chướng ngại nhẹ trong ống thì vật đó bị di chuyển từ cực dương về cực âm, người ta kết luận hạt đó có khối lượng. Khi đặt một từ trường vào thì dòng hạt bị dịch chuyển, người ta kết luận hạt đó có điện tích.

Năm 1897, nhà vật lý người Anh Joseph John Thomson (1856-1940) đã kiểm chứng hiện tượng này bằng rất nhiều thí nghiệm khác nhau, ông đã đo được tỷ số giữa khối lượng của hạt và điện tích của nó bằng độ lệch hướng của chùm tia trong các từ trường và điện trường khác nhau. Thomson dùng rất nhiều các kim loại khác nhau làm cực dương và cực âm đồng thời thay đổi nhiều loại khí trong ống. Ông thấy rằng độ lệch của chùm tia có thể tiên đoán bằng công thức toán học. Thomson tìm thấy tỷ số điện tích/khối lượng là một hằng số không phụ thuộc vào việc ông dùng vật liệu gì. Ông kết luận rằng tất cả các chùm ca-tốt đều được tạo thành từ một loại hạt mà sau này nhà vật lý người Ái Nhĩ Lan George Johnstone Stoney đặt tên là "electron", vào năm 1891.

Năm 1909, nhà vật lý người Mỹ Robert Millikan (1868-1953) tìm ra điện tích của một điện tử bằng cách dùng thí nghiệm "giọt dầu" . Ông dùng tia X để làm cho các giọt dầu có điện tích âm, sau đó ông phun các giọt dầu này vào một dụng cụ sao cho các giọt dầu đó rơi vào khoảng không giữa hai tấm tích điện. Ông thay đổi điện tích của các tấm tích điện và xác định việc ảnh hưởng của sự thay đổi này đến quá trình rơi của các giọt dầu. Nhờ đó ông thấy điện tích của mỗi giọt dầu là một số nguyên lần điện tích của một đại lượng nào đó mà ông cho rằng đó là điện tích của một điện tử. Nhờ vào tỷ số điện tích/khối lượng của Thomson mà ông xác định được khối lượng của điện tử. Ông lý luận rằng chùm ca-tốt bị lệch đi đối với bất kỳ chất khí nào được dùng trong thí nghiệm nên ông cho rằng điện tử có mặt trong tất cả mọi nguyên tố. Do nguyên tử là trung hòa về điện, mà điện tử lại có điện tích âm nên cần phải có một điện tích dương tồn tại trong nguyên tử. Hơn nữa, vì khối lượng của điện tử rất nhỏ so với khối lượng của nguyên tử nên cần phải có một thực thể nào đó chịu trách nhiệm cho khối lượng lớn của nguyên tử. Đây là lần đầu tiên các kết quả thực nghiệm cho thấy nguyên tử có thể bị phân chia và đó là cơ sở cho mô hình nguyên tử.

Các mô hình nguyên tử:
Dựa trên một số giả thuyết do Lord Kelvin (1824-1907) đưa ra và các kết quả của Millikan, năm 1902, Thomson đưa ra mô hình nguyên tử đầu tiên. Mô hình này cho rằng các điện tử mang điện tích âm được trộn lẫn trong vật chất mang điện tích dương, giống như các quả mận nhỏ được trộn lẫn trong bánh, mô hình này còn được gọi là mô hình bánh mận (tiếng Anh: plum pudding). Nếu một điện tử bị xê dịch thì nó sẽ bị kéo về vị trí ban đầu. Điều này làm cho nguyên tử trung hòa về điện và ở trạng thái ổn định. Cùng khoảng thời gian đó, một nhà vật lý người Nhật bản là Hantaro Nagoaka đưa ra mô hình Sao Thổ của ông vào năm 1904. Mô hình này cho rằng vật chất mang điện tích dương của nguyên tử giống như sao Thổ, còn các điện tử mang điện tích âm thì chuyển động giống như các vòng đai của sao Thổ. Mô hình này sẽ không bền vì điện tử sẽ mất năng lượng và rơi vào tâm của nguyên tử.

Mô hình của Thomson được thừa nhận hơn mô hình của Nagoaka nhưng nó cũng chỉ đứng vững được vài năm cho đến khi nhà vật lý người New Zealand là Ernest Rutherford (1871-1937) đưa ra mô hình nguyên tử của ông. Cùng với đồng nghiệp là Hans Geiger và Ernest Mardsen, Rutherford đã dùng một chùm hạt alpha bắn phá một lá vàng mỏng trong thí nghiệm mang tên ông. Hạt alpha là một hạt mang điện dương (+2), có khối lượng khoảng bốn lần khối lượng nguyên tử hydrogen. Kết quả thu được cho thấy hầu hết các hạt alpha đi qua lá vàng mà không bị lệch hướng, một số hạt (1/8000 so với số hạt đi thẳng) bị lệch hướng và một số ít hạt bị bật ngược trở lại. Kết quả này cho phép kết luận như sau: nguyên tử có cấu tạo rỗng, các electron bao quanh một hạt có kích thước rất nhỏ so với kích thước nguyên tử (ta cứ tưởng tượng nếu hạt nhân nguyên tử lớn cỡ một nắm tay hoặc một mét thì nguyên tử của chúng ta phải to bằng cả cái nhà ba tầng hoặc sẽ rộng tới 10km). Trên lá kim loại các phân tử mang điện tích dương phân bố rất thưa thớt vì thế các hạt alpha đi qua lá kim loại dễ dàng. Một số hạt đi gần với các hạt điện tích dương và các hạt này tích điện lớn nên đẩy hạt alpha đi lệch hướng ban đầu hoặc ngược hướng ban đầu. Ông gọi đó là hạt nhân. Hạt nhân có các điện tử quay xung quanh giống như các hành tinh quay xung quanh Mặt Trời, tuy thể tích hạt nhân rất nhỏ so với nguyên tử nhưng phần lớn khối lượng nguyên tử lại tập trung ở đó. Mô hình này còn có cái tên là mẫu hành tinh nguyên tử.

Mô hình này không được thừa nhận rộng rãi vì các nhà vật lý không hiểu tại sao một phần nhỏ của nguyên tử lại có thể mang hầu hết khối lượng của nó. Hơn nữa, mô hình này mâu thuẫn với bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học của Dmitri Ivanovich Mendeleev. Theo Mendeleev thì khối lượng nguyên tử của các nguyên tố quyết định tính chất của nguyên tố đó mà không phụ thuộc vào điện tích của hạt nhân. Mô hình này cũng không giải thích được tại sao điện tử không bị rơi vào hạt nhân.

Việc tìm ra proton
Năm 1913, nhà vật lý người Anh Henry Gwyn Jeffreys Moseley (1887-1915) thấy rằng mỗi nguyên tố có một điện tích dương duy nhất tại hạt nhân của nguyên tử. Do đó hạt nhân phải chứa một loại hạt mang điện tích dương được gọi là proton. Số proton trong hạt nhân được gọi là nguyên tử số (tiếng Anh: atomic number). Moseley cho rằng bảng tuần hoàn nên được sắp xếp theo sự tăng dần của nguyên tử số thay cho việc sắp xếp theo sự tăng dần của nguyên tử lượng. Điều này làm cho bảng tuần hoàn thêm hoàn thiện và tiên đoán chính xác các nguyên tố sẽ được tìm ra.

Việc tìm ra Notron
Người ta thấy rằng nguyên tử lượng của hyđrô lớn hơn tổng khối lượng của một proton và một điện tử chính vì vậy phải tồn tại một loại hạt khác trong hạt nhân đóng góp vào khối lượng của nguyên tử. Vì nguyên tử trung hòa về điện nên hạt này phải không mang điện tích. Nhà vật lý người Pháp Irene Joliot-Curie (1897-1956) đã tiến hành một thí nghiệm, bà bắn phá một mẫu berili bằng chùm hạt alpha và làm phát ra một chùm hạt mới có khả năng thấm sâu vào vật chất nhiều hơn hạt alpha. Năm 1932, nhà vật lý người Anh James Chadwick (1891-1974) phát hiện ra rằng chùm hạt đó được tạo thành từ các hạt có cùng khối lượng với proton. Do điện từ trường không làm lệch hướng chuyển động của hạt này nên nó là một hạt trung hòa về điện và ông gọi nó là neutron. Và mô hình nguyên tử của Rutherford lúc đó là: proton và neutron tạo nên hạt nhân nguyên tử, điện tử chuyển động xung quanh và chiếm phần lớn thể tích của nguyên tử đó. Khối lượng của điện tử rất nhỏ so với khối lượng của hạt nhân nguyên tử. Đến lúc đó người ta vẫn không hiểu tại sao điện tử lại có thể ổn định trong nguyên tử mà không bị rơi vào hạt nhân.

Bản chất lưỡng tính
Năm 1900, nhà vật lý người Đức Max Planck (1858-1947) nghiên cứu sự phát xạ ánh sáng của một vật nóng. Ông giả thiết rằng sự phát xạ sóng điện từ theo từng lượng gián đoạn gọi là lượng tử năng lượng (tiếng Anh: quantum of energy), hay gọi tắt là lượng tử. Một lượng tử năng lượng của sóng điện từ tỷ lệ với tần số của nó với hệ số tỷ lệ được gọi là hằng số Plank. Năm 1905, khi giải thích cho hiệu ứng quang điện, Albert Einstein (1879-1955) cho rằng ánh sáng không chỉ được phát xạ theo từng lượng tử mà còn có thể bị hấp thụ theo từng lượng tử. Ánh sáng vừa có tính chất sóng và tính chất hạt. Mỗi hạt ánh sáng được gọi là một quang tử (photon), có năng lượng là một lượng tử ánh sáng. Giả thuyết của Einstein giúp giải thích sự phát xạ trong ống chùm ca-tốt.

Mô hình nguyên tử Bohr
Năm 1913, nhà vật lý lý thuyết người Đan Mạch Niels Bohr (1885-1962) đưa ra mô hình bán cổ điển về nguyên tử hay còn gọi là mô hình nguyên tử của Bohr. Bohr thay đổi mô hình của Rutherford bằng cách giải thiết rằng các điện tử chuyển động xung quanh hạt nhân theo các quỹ đạo có năng lượng và bán kính cố định. Năng lượng của điện tử phụ thuộc vào bán kính quỹ đạo của điện tử đó. Điện tử nằm trên quỹ đạo có bán kính nhỏ nhất sẽ có năng lượng nhỏ nhất và đó là trạng thái năng lượng ổn định (tên khác: trạng thái ổn định, hay trạng thái cơ bản) nhất của điện tử, điện tử không thể nằm ở các trạng thái nào thấp hơn trạng thái đó. Tuy vậy, điện tử có thể có năng lượng cao hơn khi nó nằm trên các quỹ đạo xa hạt nhân hơn, lúc này điện tử nằm ở trạng thái kích thích.

Các mức năng lượng giống như các bậc thang, điện tử không thể ở giữa các mức đó được mà chỉ có thể ở trên một bậc thang nào đó. Khi chuyển từ mức năng lượng này sang mức năng lượng khác, điện tử có thể hấp thụ hoặc phát ra năng lượng. Năng lượng hấp thụ và phát xạ của một quang tử chính bằng sự sai khác năng lượng giữa các quỹ đạo. Bằng mô hình đó, Bohr có thể tính được năng lượng của điện tử trong nguyên tử hydrogen từ phổ phát xạ của nguyên tử đó. Tuy nhiên, mô hình nguyên tử của Bohr không thể giải thích tính chất của các nguyên tử có nhiều hơn một điện tử.

Mô hình nguyên tử hiện đại
Mô hình nguyên tử hiện đại là mô hình nguyên tử dựa trên cơ học lượng tử. Cơ học lượng tử được phát triển dựa trên sự đóng góp của nhiều người: Arthur Compton (1892-1962) tạo thí nghiệm nhiễu xạ tia X, Louis-Victor de Broglie (1892-1987) khai triển lý thuyết lưỡng tính sóng hạt, Erwin Schrödinger (1887-1961) đưa ra phương trình sóng, Werner Heisenberg (1901-1976) đưa ra nguyên lý bất định. Dựa trên cơ học lượng tử, người ta thay đổi mô hình nguyên tử của Bohr để xây dựng lên mô hình hiện đại về nguyên tử.

Quỹ đạo xác định trong mô hình Bohr được thay bằng một quỹ đạo xác suất, trên đó điện tử có thể được tìm thấy với một xác suất nhất định. Quỹ đạo khả dĩ hay là trạng thái khả dĩ của điện tử được đặc trưng bởi bốn số lượng tử. Sự sắp xếp của các điện tử trong nguyên tử tuân theo nguyên lý Aufbau, tức là các điện tử sẽ chiếm các trạng thái có năng lượng thấp nhất. Nhưng chúng phải thỏa mãn nguyên lý loại trừ Pauli nói rằng không thể có nhiều hơn hai điện tử trong nguyên tử ở các trạng thái năng lượng có bốn số lượng tử giống nhau. Sau đó chúng phải thỏa mãn quy tắc Hund phát biểu rằng các điện tử sẽ chiếm quỹ đạo sao cho có số quỹ đạo nhiều nhất đối với một điện tử. Quy tắc Hund được Friedrich Hund (1896-1997) đưa ra khi tính đến lực đẩy tĩnh điện giữa các điện tử trên một quỹ đạo.





Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 08:21:39 PM »
Về hợp chất
Trong hóa học, hợp chất là một chất được cấu tạo bởi từ 2 nguyên tố trở lên, với tỷ lệ thành phần cố định và trật tự nhất định. Thành phần của hợp chất khác với hỗn hợp, không thể tách các nguyên tố hóa học ra khỏi nhau bằng phương pháp vật lý Thí dụ, hyđrô ôxit (nước, H2O) là hỗn hợp gồm hai nguyên tử hyđrô cho mỗi nguyên tử ôxy. Trái ngược với hợp chất là đơn chất.

Nói chung, tỷ lệ cố định này phải tuân theo những định luật vật lý, hơn là theo sự lựa chọn chủ quan của con người. Đó là lý do vì sao những vật liệu như đồng thau, chất siêu dẫn YBCO, chất bán dẫn nhôm gali arsen, hoặc sô cô la được xem là hỗn hợp hoặc hợp kim hơn là hợp chất.

Việc xác định tính chất của hợp chất dựa vào công thức hóa học.

Đến nay đã biết trên 7 triệu hợp chất khác nhau, trong số đó phần rất lớn là những hợp chất hữu cơ

Hợp chất trong hóa học được phân làm nhiều loại :

 1.Hợp chất vô cơ : nước, đồng oxit CuO, axit sunfuric H2SO4 đều được gọi chung là hợp chất vô cơ. Hợp chất vô cơ là hợp chất có cấu tạo rất đơn giản .
 2.Hợp chất hữu cơ :rượu, axit axetic,...

Về phân tử
Phân tử là 1 loại hạt có nhiều hơn 2 nguyên tử liên kết với nhau bằng liên kết hóa học. Nguyên tử của phân tử có thể từ một nguyên tố (đơn chất, ví dụ: O2, H2, P4, ...) hay nhiều nguyên tố hóa học (hợp chất, như H2O, NH3, CaCO3, ...). Phân tử là phần tử nhỏ nhất của một chất hóa học tinh khiết mà vẫn còn giữ được thành phần hợp chất hóa học cùng với các tính chất của hợp chất này . Ngành khoa học nghiên cứu về các phân tử bao gồm hóa học phân tử và vật lý phân tử. Hóa học phân tử quan tâm đến các định luật chi phối sự tương tác giữa các phân tử, nó ảnh hưởng đến sự hình thành hay phá vỡ các liên kết hóa học, trong khi vật lý phân tử quan tâm đến các định luật chi phối cấu trúc và tính chất của chúng. Trên thực tế, không phải lúc nào cũng tách biệt được 2 ngành khoa học này. Khái niệm phân tử lần đầu được giới thiệu vào năm 1811 bởi Avogadro, sự tồn tại của các phân tử vẫn là một đề tài tranh luận sôi nổi trong cộng đồng hoá học, cho tới năm 1911, khi Perrin công bố các kết quả nghiên cứu của mình. Thuyết phân tử hiện đại đã mang đến nhiều ứng dụng trong tính toán, là cơ sở để hình thành nên ngành hóa học tính toán đương thời.

Các loại liên kết trong phân tử
-Liên kết không cực: độ âm điện χ của nguyên tử là bằng nhau, ví dụ trong đơn chất. Rộng hơn là liên kết giữa C và H, dù hiệu độ âm điện giữa chúng có giá trị từ 0 đến 0,4
-Liên kết cực: hiệu độ âm điện giữa các nguyên tử có giá trị từ 0,4 đến 1,8 như trong hầu hết các hợp chất

Kích thước phân tử
Kích thước phân tử thường được đo bằng Ångström Å, ví dụ phân tử H2 có kích thước 74 pico mét hay 0,74 Å.

Về Ion
Ion hay Điện Tích là một nguyên tử hay nhóm nguyên tử bị mất hay thu nhận thêm được một hay nhiều điện tử. Một ion mang điện tích âm,khi nó thu được một hay nhiều điện tử, được gọi là anion hay Điện Tích Âm, và một ion mang điện tích dương khi nó mất một hay nhiều điện tử, được gọi là cation hay Điện Tích Dương. Quá trình tạo ra các ion hay Điện Tích gọi là ion hóa hay Điện Tích.

Các nguyên tử hay nhóm nguyên tử bị ion hóa được biểu diễn dưới dạng các số viết nhỏ lên trên, bên phải ký hiệu của nguyên tử hay nhóm nguyên tử, thể hiện số lượng điện tử mà nó thu được hay mất đi (nếu lớn hơn 1) và dấu + hay − tùy theo nó mất hay thu được (các) điện tử. Trong trường hợp mất hay thu được chỉ một điện tử thì không cần ghi giá trị số. Ví dụ H+ hay O2−.

Các kim loại có xu hướng tạo ra các cation (mất đi điện tử) trong khi các phi kim loại có xu hướng tạo ra anion, ví dụ natri tạo ra cation Na+ trong khi clo tạo ra các anion Cl-.

Năng lượng ion hóa
Năng lượng cần thiết để sản xuất cation bằng cách loại bỏ điện tử từ một nguyên tử trung hòa về điện là năng lượng ion hóa. Nói chung, năng lượng ion hóa thứ n của nguyên tử là năng lượng cần để loại bỏ điện tử thứ n sau khi n - 1 điện tử trước đã bị loại bỏ.

Mỗi một năng lượng ion hóa kế tiếp là lớn hơn một cách đáng kể so với năng lượng ở mức trước đó. Đặc biệt, sự thay đổi năng lượng tăng lên một cách đột ngột khi khối các điện tử của một obitan nào đó trong nguyên tử đã bị loại bỏ hết. Vì lý do này, các ion có xu hướng tạo ra theo hướng bỏ hết các điện tử của cùng một khối obitan. Ví dụ, natri được tìm thấy như là Na+, nhưng không phải là Na2+ vì năng lượng lớn cần để ôxi hóa. Tương tự, magiê được tìm thấy như là Mg2+, mà không phải là Mg3+, và nhôm có thể tồn tại như là cation Al3+. Khi một nhóm các nguyên tử thu được các điện tử, chúng cũng trở thành các ion, chẳng hạn như SO42-.

Lịch sử
Các ion lần đầu tiên được lý thuyết hóa bởi Michael Faraday khoảng năm 1830, để miêu tả các thành phần của phân tử mà chuyển động về phía anốt hay catốt. Tuy nhiên, cơ chế mà các chuyển động này có thể diễn ra đã không được miêu tả cho đến tận năm 1884 khi Svante August Arrhenius trong luận án tiến sĩ của mình trong trường đại học tổng hợp Uppsala đã miêu tả chúng. Lý thuyết của ông ban đầu đã không được chấp nhận (ông nhận được học vị tiến sĩ với điểm thấp nhất để được vượt qua) nhưng luận án tiến sĩ của ông đã đoạt giải Nobel về hóa học năm 1903.

Ngôn từ học
Từ ion đã được đặt tên bởi Michael Faraday, từ tiếng Hy Lạp ἰόν, động tính từ thời hiện tại của ἰέναι, "chuyển động", vì thế là "người đi lại". Danh pháp này dựa trên xu hướng của các anion chuyển động về phía anốt, và của các cation chuyển động về phía catốt. Vì thế, anion và cation có nghĩa là "(một thứ) đi lên" và "(một thứ) đi xuống", một cách tương ứng, và anốt, và catốt,  có nghĩa là "đi lên" và "đi xuống", tương ứng từ "đường".

Về liên kết hóa học
Trong hóa học, liên kết hóa học là lực, giữ cho các nguyên tử cùng nhau trong các phân tử hay các tinh thể. Sự hình thành các liên kết hóa học giửa các nguyên tố để tạo nên phân tử được hệ thống hóa thành các lý thuyết liên kết hóa học .

-Thuyết liên kết hóa trị và khái niệm của số ôxi hóa được dùng để dự đoán cấu trúc và thành phần phân tử.
-Thuyết vật lý cổ điển về Liên Kết Điện Tích và khái niệm của số điện âm dùng để dự đoán nhiều cấu trúc ion.
Với các hợp chất phức tạp hơn, chẳng hạn các phức chất kim loại, thuyết liên kết hóa trị không thể giải thích được và sự giải thích hoàn hảo hơn phải dựa trên các cơ sở của cơ học lượng tử.

Các đặc trưng không gian và khoảng năng lượng tương tác bởi các lực hóa học nối với nhau thành một sự liên tục, vì thế các thuật ngữ cho các dạng liên kết hóa học khác nhau là rất tương đối và ranh giới giữa chúng là không rõ ràng. Tuy vậy, Mọi liên kết hóa học đều nằm trong những dạng liên kết hóa học sau

-liên kết ion hay liên kết điện hóa trị
-liên kết cộng hóa trị
-liên kết cộng hóa trị phối hợp
-liên kết kim loại
-liên kết hiđrô

Mọi liên kết hóa học phát sinh ra từ tương tác giửa các điện tử của các nguyên tử khác nhau đưa đến quá trình hình thành liên kết chính là sự giảm mức năng lượng. Điều này cho thấy, các quá trình hình thành liên kết luôn có năng lượng đính kèm entanpi < 0 (hệ toả năng lượng).

Trong liên kết điện tích , nguyên tố các điện tích liên kết với nhau qua lực hấp dẩn điện giửa hai điện tích . Vậy, các nguyên tố dể cho hay nhận điện tử âm để trở thành điện tích dương hay âm sẻ dể dàng liên kết với nhau. Liên kết điện tích ion được mô tả bởi vật lý cổ điển bằng lực hấp dẩn giửa các điện tích

Trong liên kết cộng hóa trị, Các dạng liên kết hóa học được phân biệt bởi khoảng không gian mà các điện tử tập trung hay phân tán giữa các nguyên tử của chất đó. Các điện tử nằm trong liên kết không gắn với các nguyên tử riêng biệt, mà chúng được phân bổ trong cấu trúc ngang qua phân tử, được mô tả bởi học thuyết phổ biến đương thời là các quỹ đạo phân tử. Không giống như liên kết ion thuần túy, các liên kết cộng hóa trị có thể có các thuộc tính không đẳng hướng. Trạng thái trung gian có thể tồn tại, trong các liên kết đó là hỗn hợp của các đặc trưng cho liên kết ion phân cực và các đặc trưng của liên kết cộng hóa trị với điện tử phân tán. Liên kết cộng hóa trị thì phải dựa chủ yếu vào các khái niệm của cơ học lượng tử về khoảng không gian mà các điện tử tập trung hay phân tán với một năng lượng nhiệt tương ứng

Các liên kết hóa học phải tuân theo định luật bảo tồn năng lượng

Về hóa lượng tử
Hóa học lượng tử, còn gọi là hóa lượng tử, là một ngành khoa học ứng dụng cơ học lượng tử để giải quyết các vấn đề của hóa học. Các ứng dụng có thể là miêu tả tính chất điện của các nguyên tử và phân tử liên quan đến các phản ứng hóa học giữa chúng. Hóa lượng tử nằm ở ranh giới giữa hóa học và vật lý do nhiều nhà khoa học thuộc hai lĩnh vực này phát triển.

Nền tảng của hóa lượng tử là mô hình sóng về nguyên tử, coi nguyên tử được tạo thành từ một hạt nhân mang điện tích dương và các điện tử quay xung quanh. Tuy nhiên, không giống như mô hình nguyên tử của Bohr, các điện tử trong mô hình sóng là các đám mây điện tử chuyển động trên các quỹ đạo và vị trí của chúng được đặc trưng bởi một phân bố xác suất chứ không phải là một điểm rời rạc. Để biết được phân bố xác suất, người ta phải giải phương trình Schrödinger. Điểm mạnh của mô hình này là nó tiên đoán được các dãy nguyên tố có tính chất tương tự nhau về mặt hóa học trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Mặt khác, theo nguyên lý bất định, vị trí và năng lượng của các hạt này lại không thể xác định chính xác cùng một lúc được.

Mặc dù cơ sở toán học của hóa lượng tử là phương trình Schrödinger, nhưng đa số mọi người chấp nhận rằng tính toán chính xác đầu tiên trong hóa lượng tử là do hai nhà khoa học người Đức là Walter Heitler và Fritz London tiến hành đối với phân tử hiđrô (H2) vào năm 1927. Phương pháp của Heitler và London được nhà hóa học người Mỹ là John C. Slater và Linus Pauling phát triển và trở thành phương pháp liên kết hóa trị (còn gọi là phương pháp Heitler-London-Slater-Pauling). Trong phương pháp này, người ta quan tâm đến các tương tác cặp giữa các nguyên tử và do đó, có liên hệ mật thiết với hiểu biết của các nhà hóa học cổ điển về liên kết hóa học giữa các nguyên tử.

Một phương pháp khác được Friedrich Hund và Robert S. Mulliken phát triển, trong đó, các điện tử được miêu tả bằng các hàm sóng bất định xứ trên toàn bộ phân tử. Phương pháp Hund-Mulliken còn được gọi là phương pháp quỹ đạo phân tử khó hình dung đối với các nhà hóa học nhưng lại hiệu quả hơn trong việc tiên đoán các tính chất so với phương pháp liên kết hóa trị. Phương pháp này chỉ được dễ hình dung khi có sự giúp đỡ của máy tính vào những năm gần đây.

Về trạng thái vật chất
Trong vật lý, một trạng thái vật chất, hay một pha của vật chất, là một tập hợp các điều kiện vật lý và hóa học mà ở đó vật chất có các tính chất lý hóa đồng nhất.

Các tính chất lý hóa đồng nhất có thể gồm mật độ, cấu trúc tinh thể, chiết suất,...

Vật chất thông thường có thể ở các dạng sau:

1.Thể rắn
2.Thể lỏng
3.Thể khí
4.Plasma
5.Quark-gluon plasma
6.Đông đặc Bose-Einstein
7.Đông đặc fermion
8.Vật chất lạ, tinh thể lỏng, siêu lỏng, siêu rắn, siêu dẫn, thuận từ, sắt từ...
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 17, 2009, 04:21:24 PM gửi bởi Để dành »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 09:59:41 AM »
Về phản ứng hóa học
Phản ứng hóa học là quá trình chuyển đổi vật chất, các liên kết hóa học trong chất phản ứng thay đổi và tạo ra chất mới (sản phẩm). Quá trình này luôn kèm theo 1 sự thay đổi năng lượng và tuân theo định luật bảo toàn năng lượng. Phản ứng hóa học kết thúc khi có sự cân bằng hóa học hay các chất phản ứng đã được chuyển đổi hoàn toàn.

Phân loại phản ứng hóa học
A. Phản ứng không có sự thay đổi số OXH
1. Phản ứng trao đổi đôi( Phản ứng thế)
AB phản ứng với CD tạo AC và BD

Fe2O3 + 6HCl → 2FeCl3 + 3H2O

B. Phản ứng có sự thay đổi số OXH
1. Phản ứng hóa hợp
2 nguyên tố A và B kết hợp lại tạo AB

2Ca + O2 → 2CaO
2. Phản ứng phân huỷ
AB hủy liên kết thành A và B

2H2O → 2H2 + O2
3. Phản ứng cháy
1 số chất sẽ cháy và tỏa nhiệt khi tác dụng với chất khác, điển hình là với oxy

C10H8+ 12O2 → 10CO2 + 4H2O + Q
CH2S + 6F2 → CF4 + 2HF + SF6 + Q
4. Phản ứng quang hợp ở thực vật
Từ khí CO2 và nước, dưới ánh sáng tạo đường và khí oxy

6CO2 + 6H2O → C6H12O6 + 6O2
5. Phản ứng trao đổi đơn
Nguyên tố A phá hủy liên kết trong BC tạo AB và C

2Na + 2HCl → 2NaCl + H2

Phản ứng trao đổi
Phản ứng trao đổi là một loại phản ứng hoá học, trong đó, các chất trao đổi cho nhau thành phần cấu tạo của nó. Từ sự trao đổi này, chúng hình thành nên những chất mới.

Có thể phân loại phản ứng trao đổi theo thành phần các chất tham gia phản ứng:

Phản ứng trung hoà
Là phản ứng giữa một axít và một bazơ để tạo ra muối và nước.

-Phản ứng tổng quát:
Axit + Bazơ --> Muối + Nước
-Ví dụ:
HCl + NaOH = NaCl + H20
H2SO4 + 2 KOH = K2SO4 + 2 H20

Phản ứng giữa axit và muối
-Phản ứng tổng quát:
Axít + Muối --> Axit (mới) + Muối (mới)
-Điều kiện phản ứng:
Axít phải tan.
Các chất tạo thành phải có ít nhất một chất kết tủa hoặc dễ bay hơi hay dễ phân huỷ, hoặc yếu hơn so với chất tham gia (đối với axít).
-Ví dụ:
2 HCl + Na2CO3 = 2 NaCl + H2O + CO2 (bay lên)
H2SO4 + BaCl2 = BaSO4 (kết tủa) + 2 HCl
2 HNO3 + K2S = KNO3 + 2 H2S(bay hơi)
6 HCl + Cu3(PO4)2 = 3 CuCl2 + 2 H3PO4 (yếu hơn HCl)

Phản ứng giữa bazơ và muối
-Phản ứng tổng quát:
Bazơ + Muối --> Bazơ (mới) + Muối(mới)
-Điều kiện phản ứng:
Các chất tham gia phản ứng phải tan (trong dung môi là nước).
Các chất tạo thành phải có ít nhất một chất kết tủa.
-Ví dụ:
2 NaOH + CuSO4 = Na2SO4 + Cu(OH)2 (kết tủa)
Ba(OH)2 + Na2SO4 = BaSO4 (kết tủa) + 2 NaOH

Phản ứng giữa muối và muối
-Phản ứng tổng quát:
Muối + Muối --> Muối (mới) + Muối (mới)
-Điều kiện phản ứng:
Các chất tham gia phản ứng phải tan (trong dung môi là nước).
Các chất tạo thành phải có ít nhất một chất kết tủa.
-Ví dụ:
BaCl2 + CuSO4 = BaSO4 (kết tủa) + CuCl2
2 AgNO3 + CuCl2 = 2 AgCl(kết tủa) + Cu(NO3)2



« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 17, 2009, 04:21:50 PM gửi bởi Để dành »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 10:13:09 AM »
Về các định luật
Định luật bảo toàn khối lượng

Định luật bảo toàn khối lượng hay định luật Lomonosov-Lavoisier là một định luật cơ bản trong lĩnh vực hóa học, được phát biểu như sau: Trong phản ứng hóa học, tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng bằng tổng khối lượng sản phẩm tạo thành.

Lịch sử

Định luật bảo toàn khối lượng được hai nhà khoa học Mikhail Vasilyevich Lomonosov và Antoine Lavoisier khám phá độc lập với nhau qua những thí nghiệm được cân đo chính xác, từ đó phát hiện ra định luật bảo toàn khối lượng.

 Năm 1748, nhà hóa học người Nga Mikhail Vasilyevich Lomonosov đặt ra định đề.
 Năm 1789, nhà hóa học người Pháp Antoine Lavoisier phát biểu định luật này.
Khi cân những bình nút kín đựng bột kim loại trước và sau khi nung, M.V.Lomonosov nhận thấy rằng khối lượng của chúng không thay đổi, mặc dù những chuyển hoá hoá học đã xãy ra với kim loại trong bình. Khi áp dụng các phương pháp định lượng nghiên cứu phản ứng hoá học, năm 1748 Lomonosov đã tìm định luật quan trọng này. Lomonosov trình bày định luật như sau: "Tất cả những biến đổi xảy ra trong tự nhiên thực chất là nếu lấy đi bao nhiêu ở vật thể này, thì có bấy nhiêu được thêm vào ở vật thể khác. Như vậy, nếu ở đây giảm đi bao nhiêu vật chất, thì sẽ có từng ấy vật chất tăng lên ở chổ khác".

Bản chất
Trong phản ứng hoá học có sự thay đổi liên kết giữa các nguyên tử,sự thay đổi này chỉ liên quan đến các điện tử còn số nguyên tử của mỗi nguyên tố được giữ nguyên và khối lượng của các nguyên tử không đổi, vì thế tổng khối lượng các chất được bảo toàn. Định luật này đôi khi còn được gọi là Định luật bảo toàn trọng lượng của các chất, vì ở cùng một địa điểm trọng lượng tỷ lệ với khối lượng.

Lomonosov cũng nhận thấy rằng bảo toàn năng lượng cũng có giá trị đối với các phản ứng hóa học.


Quy tắc Hund
Quy tắc Hund đòi hỏi các electron trong nguyên tử phải lấp vào các orbital trống có mức năng lượng bằng nhau sao cho số electron độc thân là lớn nhất. Cơ sở vật lý của quy tắc này là các electron tự sắp xếp để giảm thiểu lực đẩy Coulomb giữa chúng.

Tuy nhiên trạng thái cân bằng bền của các electron trong nguyên tử không phải lúc nào cũng đòi hỏi giảm lực đẩy Coulomb như vậy. Ví dụ, vào năm 2004, đã có một thông tin của PhysicsWeb (xem tham khảo bên dưới) về sự khám phá của một hợp chất hữu cơ không theo quy tắc này.



« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 17, 2009, 04:23:01 PM gửi bởi Để dành »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Sáu 16, 2009, 12:36:19 PM »
Nguyên tố hóa học
Vào năm 2004, có tất cả 116 Nguyên Tố hóa học được tìm thấy , trong đó 91 nguyên tố có nguồn gốc tự nhiên, 25 nguyên tố còn lại là nhân tạo. Nguyên tố nhân tạo đầu tiên là Tecnêxi tìm thấy năm 1937. Tất cả các nguyên tố nhân tạo đều có tính phóng xạ với chu kỳ bán rã ngắn vì vậy chúng không thể tồn tại tự nhiên trên Trái Đất ngày nay do sự phóng xạ đã diễn ra ngay từ khi hình thành Trái Đất.

Các nguyên tố nhẹ nhất là hyđrô và hêli, là những nguyên tố đầu tiên xuất hiện trong Vụ Nổ Lớn (the Big Bang). Tất cả các nguyên tố nặng hơn được tìm thấy hay sản xuất một cách tự nhiên hay nhân tạo thông qua hàng loạt phương thức khác nhau của tổng hợp hạt nhân.

Mổi Nguyên Tố hóa học đều có một tên và ký hiệu riêng để dể nhận biết . Tên gọi chính thức của các nguyên tố hóa học được quy định bởi Hiệp hội quốc tế hóa học lý thuyết và ứng dụng (tiếng Anh: International Union of Pure and Applied Chemistry) (viết tắt: IUPAC). Tổ chức này nói chung chấp nhận tên gọi mà người (tổ chức) phát hiện ra nguyên tố lựa chọn. Điều này có thể dẫn đến tranh luận là nhóm nghiên cứu nào thực sự tìm ra nguyên tố, là câu hỏi mà làm chậm trễ việc đặt tên cho các nguyên tố với số nguyên tử từ 104 trở lên trong một thời gian dài (Xem thêm Tranh luận về đặt tên nguyên tố). Các nguyên tố hóa học cũng được cấp cho một ký hiệu hóa học thống nhất, dựa trên cơ sở tên gọi của nguyên tố, phần lớn là viết tắt theo tên gọi La tinh. (Ví dụ, cácbon có ký hiệu hóa học 'C', natri có ký hiệu hóa học 'Na' từ tên gọi La tinh natrium). Ký hiệu hóa học của nguyên tố được thống nhất và hiểu trên toàn thế giới trong khi tên gọi thông thường của nó khi chuyển sang một ngôn ngữ khác thì phần lớn không giống nhau.

Các nguyên tố có thể kết hợp với nhau để tạo thành các Đơn chất hay hợp chất hóa học dưới các trạng thái các khối đơn nguyên tử hay hai nguyên tử hoặc đa nguyên tử. Điều này được gọi là tính đa hình. Ví dụ nguyên tố ôxy có thể tồn tại dưới các trạng thái sau: ôxy nguyên tử (O), ôxy phân tử (O2), ôzôn (O3).Hợp chất vô cơ (như nước, muối, ôxít v.v) và Hợp chất hữu cơ.Trong phần lớn các trường hợp các hợp chất này có thành phần, cấu trúc và thuộc tính đặc trưng cố định.

Một vài nguyên tố, phần lớn là các kim loại kết hợp với nhau để tạo thành một cấu trúc mới với các thành phần có thể thay đổi (như hợp kim). Trong trường hợp này có lẽ tốt nhất là nói về trạng thái liên kết hơn là hợp chất. Nói chung, trên thực tế thì các chất hóa học nào đó có thể là hỗn hợp của cả hai dạng kể trên.

Các Nguyên Tố hóa học được sắp xếp và liệt kê trong một Bảng tuần hoàn các Nguyên tố hóa học theo thứ tự tăng dần của Số nguyên tử , Z. Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học cho biết những thông tin về các tính chất cơ bản của một Nguyên tố . Thí Dụ như Dạng Thể, Độ Bay Hơi, Độ Đông Đặc ... Xem thêm danh sách các nguyên tố theo tên, theo ký hiệu và theo số nguyên tử. Phương thức thuận tiện nhất để tra cứu các nguyên tố là trình bày chúng trong bảng tuần hoàn các nguyên tố, bảng này nhóm các nguyên tố với những thuộc tính hóa học tương tự nhau trong cùng một nhóm
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Sáu 16, 2009, 12:42:54 PM »
Nguồn gốc tên gọi các nguyên tố hóa học
1.Actini (Ac) 89,1899, từ tiếng Hy Lạp “aktis” nghĩa là “tia” do nguyên tố này phát ra tia phóng xạ.

2.Argon (Ar) 18,1894, khí, từ tiếng Hy Lạp “argon” nghĩa là “lười biếng” hoặc “không hoạt động”.

3.Americi (Am) 95,1944, tên gọi để kỷ niệm America(Mỹ) là nơi đã khám phá ra (bằng con đường nhân tạo) lần đầu tiên.

4.Antimon (Sb) 51, thời trung cổ, ký hiệu bắt nguồn từ tiếng La tinh cổ “Stibium” tức chất rắn.

5.Asen (As) 33, thời trung cổ, từ tiếng Hy Lạp “asesenikon” nghĩa là “màu sáng“. Người Hy Lạp thời xưa đã dùng các hợp chất của asen làm chất màu (asentrisunfua).

6.Astat (At) 85,1940, từ tiếng Hy Lạp “astatos” nghĩa là không bền vững.

7.Azot (N) 7,1772,khí, từ tiếng Pháp “Nitrogene” nghĩa là chất sinh ra nitrat,chẳng hạn như natri nitrat hoặc kali nitrat.

8.Bạc (Ag) 47, thời tiền sử, ký hiệu bắt nguồn từ tên gọi cổ xưa của bạc là “argentium”.

9.Bari (Ba) 56,1808, từ tên gọi của quặng barit, hoặc là xỉ quặng có chứa Bari, theo tiếng Hy Lạp, ”barys” nghĩa là “nặng”.

10.Beckoli (Bk) 97,1949, tên gọi thành phố Beckoli bang California ở Mỹ, kỷ niệm nơi đã tổng hợp ra nó lần đầu tiên.

11.Berili (Be) 4,1797, lần đầu tiên được khám phá ra từ khoáng vật Berili.

12.Bo (B) 5,1808, từ tên gọi một hợp chất của nó là Boras.

13.Brom (Br) 35,1825, lỏng, từ tiếng Hy Lạp "Bromos" nghĩa là "mùi hôi".

14.Cacbon (C) 6, thời tiền sử, ký hiệu bắt đầu từ tiếng La tinh "carbo" nghĩa là than.

15.Cadimi (Cd) 48,1817,tên gọi của một loại quặng bằng tiếng La tinh cổ, nó được khám phá ra lần đầu tiên từ quặng này .

16.Califoni (Cf) 98,1950,tên gọi của bang California (Mỹ) là nơi có trường đại học tổng hợp đã chế tạo ra nguyên tố này lần đầu tiên.

17.Canxi (Ca) 20,1808, từ tiếng La tinh "Calcis" nghĩa là vôi hoặc canxi oxit.

18.Chì (Pb) 82, thời tiền sử, ký hiệu bắt nguồn từ tên gọi bằng tiếng La tinh của chì là "plumbum".

19.Clo (Cl) 17,1774,từ tiếng Hy Lạp "chloros" nghĩa là xanh lá cây sáng.Clo ở thể khí có màu vàng lục.

20.Coban (Co) 27,1737,từ tiếng Đức "kobold" tên gọi một vị thần cản trở việc luyện sắt.

21.Crom (Cr) 24,1797,từ tiếng Hy Lạp "chroma" nghĩa là hoa .Nó được dùng làm chất màu .

22.Curium (Cm) 96,1944,đặt tên để kỷ niệm hai vợ chồng nhà bác học Mari và Pie Curi.

23.Dypoxi (Dy) 66,1886,từ tiếng Hy Lạp "dysprositos" nghĩa là "ít ỏi,thiếu".

24.Đồng (Cu) 29,thời tiền sử,từ tiếng La tinh "Cuprum" hoặc "Cuprus" - tên gọi của đảo Síp, nơi cung cấp đồng cho nhân dân cổ xưa.

25.Esteni (Es) 99,1952, tên gọi để kỷ niệm Anbec Anhstanh, nhà vật lý học vĩ đại.

26.Eribi (Er) 69,1843, tên gọi để kỷ niệm một nơi thuộc vùng Ytecbi ở Thụy Điển, nơi đã phát hiện ra nhiều quặng đất hiếm .

27.Europi (Eu) 63,1901,xuất xứ từ Châu Âu(Eurpie).

28.Fecmi (Fm) 100,1953,tên gọi để kỷ niệm Enriko Fecmi,nhà vật lý học vĩ đại.

29.Flo (F) 9,1886,khí,từ tiếng La tinh "fluo" nghĩa là "chảy" xỉ lò quặng(một hợp chất phức tạp của Flo thường được dùng làm chất trợ dung).

30.Franxi (Fr) 87,1939,tên gọi để kỷ niệm nước Pháp.

31.Gadolini (Gd) 64,1986,tên gọi của nhà hóa học người Phần Lan là Iogana Gagolina đã nghiên cứu các đất hiếm.

32.Gali (Ga) 31,1875,tên gọi để kỷ niệm nước Pháp, do chữ "Gallia",tên gọi cổ xưa của nước Pháp .

33.Gecmani (Ge) 32,1886,tên gọi để kỷ niệm nước Đức (Germanie).

34.Hafini (Hf) 72,1923,từ chữ "Hafnia" - tên gọi của thủ đô Đan Mạch (Cô-Pen-Ha-Gen) theo tiếng La tinh.

35.Heli (He) 2,1868,khí,từ tiếng Hy Lạp "helios" nghĩa là Mặt trời bởi vì nó được phát hiện lần đầu tiên trong quang phổ Mặt trời.

36.Hydro (H) 1,1766,từ tiếng Pháp "hydrogene" nghĩa là sinh ra nước .Nước được tạo ra khi hydro bị đốt cháy.

37.Honmi (Ho) 67,1897,từ chữ "Holmia" tên gọi La tinh của thủ đô Thụy Điển là Stockhom.

38.Indi (In) 49,1863,từ tiếng La tinh "Indicum" vì nó được phát hiện bằng quang phổ .Quang phổ của nó có màu chàm (indi).

39.Iot (I) 53,1811,từ tiếng La tinh "Iodes" nghĩa là tím.

40.Iridi (Ir) 77,1804,từ tiếng Hy Lạp "iridis" nghĩa là cầu vồng bởi vì một số dung dịch của nó có sắc cầu vồng.

41.Kali (K) 19,1807,từ tiếng Ả Rập "alcali" nghĩa là tro của cây cỏ.

42.Kẽm (Zn) 30,thế kỷ XVII, tên goị từ tiếng Đức "Zink".

43.Kripton (Kr) 36,1898,khí, từ tiếng Hy Lạp "krystos" nghĩa là "ẩn náu".

44.Lantan (La) 57,1839,từ tiếng Hy Lạp "lanthanein" nghĩa là nằm ẩn náu.

45.Liti (Li) 3,1817,từ tiếng Hy Lạp "lithos" nghĩa là đá .

46.Lutexi (Lu) 71,1907,từ chữ "Luteria", tên gọi cổ xưa của Pari.

47.Lưu huỳnh (S) 15,thời tiền sử,ký hiệu xuất xứ từ tiếng La tinh "sulfur".

48.Magiê (Mg) 12, 1808, từ tên "Magnesia lithos" nghĩa là đá manhe. Đó là một khoáng vật màu trắng, lần đầu tiên tìm thấy ở vùng Macnhedia thời cổ Hy Lạp.

49.Mangan (Mn) 25,1774, từ tiếng Italia "Manganese", một biến dạng của tiếng La tinh "Magnesius" tức là Magiê

50.Mendelevi(Md),101,1955, tên gọi để kỉ niệm Đimitri Ivanovitch Mendeleev - Nhà hoá học vĩ đại người Nga

51.Molipden(Mo) 42,1781, từ tiếng Hy Lạp "molybdos" nghĩa là "chì", molipden được phát hiện lần đầu tiên từ quặng chì, trước kia người ta cho đó là quặng chì.

52.Natri(Na),11,1807, theo tiếng Ả Rập, "Natrum" nghĩa là muối tự nhiên.

53.Neodim (Nd),60,1885, từ tiếng Hy Lạp "neos" nghĩa là "mới" và "didymos" nghĩa là "sinh đôi", neodim và prazeodim đã phân lập được từ một chất có tên gọi là "diodim" và được xem là một nguyên tố giống như Lantan.

54.Neon(Ne),10,1898, từ tiếng Hy Lạp "neos" nghĩa là "mới".

55.Neptuni(Np),93,1940, tên gọi để kỉ niệm sao Hải Vương (Neptum).

56.Nhôm(Al),13,1825,từ tiếng la tinh "alumen" , "aluminis" nghĩa là sinh ra phèn.

57.Niken(Ni),28,1751, từ tiếng Đức "Kupfernicket" nghĩa là loại "đồng ma quái".

58.Niobi(Nb),41,1801, tên gọi để kỉ niệm Niobi, con gái của Tantan ( trong truyện thần thoại Hy Lạp )

59.Ossimi(Os),76,1804, từ tiếng Hy Lạp "osme" nghĩa là "có mùi".

60.Ôxy(O),8,1771 từ tiếng Pháp "oxygéné" nghĩa là "sinh ra axit". Oxy là một hợp phần của axit.

61.Paladi(Pd),46,1803, tên gọi để kỉ niệm hành tinh nhỏ Pallas phát hiện năm 1801.

62.Phốt Pho(P),15,1669, từ tiếng Hy Lạp "phosphoros" nghĩa là "chất mang ánh sáng".

63.Platin(Pt),78, thế kỉ XVI, từ tiếng Tây Ban Nha, "platina" nghĩa là "bạc".

64.Pluton(Pu),94,1940, từ tên gọi của sao Diêm Vương là Pluton.

65.Poloni(Po),84,1898, do vợ chồng Curie phát minh ra và lấy tên của quê hương bà Marie Curie ở Ba Lan (Polone) làm kỉ niệm.

66.Prazeodim(Pr),59,1885, từ tiếng Hy Lạp "prasios" nghĩa là "xanh lá cây" và "didymos" nghĩa là "sinh đôi". Những muối của nó có màu xanh lá cây và dễ bị nhầm lẫn với các muối của Neodim.

67.Prometi(Pm),61,1945, tên gọi để kỉ niệm thần Prometi, vị thần Hy Lạp đã đánh cắp lửa của trời để tặng loài người.

68.Protactini(Pa),91,1917, tiếp đầu ngữ "proto" nghĩa là "thứ nhất", tức là "Actini thứ nhất".Khi bị phân rã, Protactini chuyển thành Actini.

69.Radi(Ra),88,1898, từ tiếng La tinh "radius" nghĩa là "tia". Radi phát ra các tia phóng xạ.

70.Reni(Re),75,1925, tên gọi để kỉ niệm sông Ranh ở châu Âu, theo tiếng La tinh là Rhenus.

71.Radon(Rn),86,1900, tên gọi được xuất xứ từ nguyên tố Radi, thêm vĩ ngữ "-on" để chỉ tất cả các khí trơ (trừ Heli).Radon là sản phẩm phân rã của Radi và bản thân Radon cũng là chất phóng xạ.

72.Rodi(Rh),45,1803,từ tiếng Hy Lạp "Rhodon" nghĩa là "hồng". Một số muối của nó có màu hồng.

73.Rubidi(Rb),37,1861, theo tiếng La tinh "Rubidus" nghĩa là "đỏ". Nguyên tố này được phát minh bởi kính quang phổ và trong quang phổ của nó có những vạch màu đỏ.

74.Ruteni(Ru),44,1844, tên gọi để kỉ niệm nước Nga, theo tiếng La tinh "Ruthenia" nghĩa là nước Nga.

75.Samari(Sm),62,1879, phát hiện lần đầu tiên từ quặng Samackit. Tên gọi của quặng này lấy từ tên của một kĩ sư mỏ người Nga là Samacxoki.

76.Sắt(Fe),26,thời tiền sử, từ tên gọi cổ xưa của sắt là "Ferrum".

77.Scandi(Sc),21,1879, tên gọi để kỉ niệm bán đảo Scanđina thuộc Bắc Âu.

78.Selen(Se),34,1818, "Selene" theo tiếng Hy Lạp nghĩa là "mặt trăng", vì nó giống Telu, còn Telu là tên gọi để kỉ niệm Trái đất.

79.Silic(Si),14,1824, từ tiếng La tinh "Silics" nghĩa là "cát".

80.Stronti(Sr),38,1808, từ tên gọi của khoáng vật Strontianit(Strontian là tên một địa phương ở Scot).

81.Tali(Tl),81,1861, tiếng Hy Lạp "Thallos" nghĩa là "chơi trội", có tên gọi này là do trong phổ của nó có một vạch xanh lá cây rõ.

82.Tantan(Ta),73,1802, tên gọi từ thần thoại Hy Lạp, Tantan là con trai của Giepxa, cha của Niobay, bị hành hình bằng cách phải quì dưới nước.Khi Tantan khát, muốn uống nước không được vì mức nước lại bị giảm đi.

83.Tecnecxi(Tc),43,1937, từ tiếng Hy Lạp "technetos" có nghĩa là "nhân tạo". Nó là nguyên tố đầu tiên thu được bằng con đường nhân tạo.

84.Tecbi(Tb),65,1843, đặt tên để kỷ niệm vùng Ytecbi, Thụy Điển.

85.Telu(Te),52,1783, từ tiếng La tinh "telluris" nghĩa là Quả Đất.

86.Thiếc(Sn),50, thời tiền sử, không rõ nguồn gốc.

87.Thori(Th),90,1828, lần đầu tiên phát hiện từ quặng Toris.

88.Thủy ngân(Hg),80, thời tiền sử, tên gọi "hydrargyrum" nghĩa là "nước bạc" xuất xứ từ tiếng Hy Lạp, "Hydos" nghĩa là "nước" và "arguros" nghĩa là "bạc".

89.Titan(Ti),22,1791, để kỉ niệm các vị thần khổng lồ trong thần thoại Hy Lạp.

90.Tuli(Tu),69,1879, từ chữ "thule" tên gọi cổ xưa của miền Bắc bán đảo Scanđinavi.

91.Urani(U),92,1789, theo tiếng Hy Lạp "uranos" nghĩa là "trời", đặt tên để kỉ niệm sao Thiên Vương "Uran" phát hiện năm 1782.

92.Vanađi(V),23,1801, để ngưỡng mộ tình yêu và sắc đẹp của một vị thần ở Scanđinavi cổ xưa tên là Vanadis.

93.Vàng(Au),79, thời tiền sử, ký hiệu lấy từ tên gọi cổ xưa của vàng là "Autrum".

94.Xenon(Xe),54,1895, từ tiếng Hy Lạp "xenos" nghía là "lạ","không quen biết".

95.Xesi(Cs),55,1860, từ tiếng La tinh "Caesies" nghía là "xanh da trời". Xesi và Rubidi là những nguyên tố đầu tiên được Rôbớc Bunzen và Cruttap Kiếcxốp phát minh bằng các vạch quang phổ của chúng. Xesi được nhận biết bằng các vạch màu xanh da trời trong phổ của nó.

96.Xeri(Ce),58,1803, tên gọi để kỉ niệm hành tinh nhỏ là "Ceres" được khám phá năm 1801.

97.Ytecbi(Yb),70,1878, để kỉ niệm vùng Ytecbi, tên một địa phương của Thụy Điển, là nơi đã phát hiện ra nhiều quặng Đất hiếm.

98.Ziriconi(Zr),40,1789, tên gọi từ khoáng vật Zieckon từ đó lần đầu tiên phát hiện ra nó.


Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Sáu 16, 2009, 04:36:25 PM »
Công thức hóa học
Công thức hóa học được dùng để biểu thị thông tin về các nguyên tố có của hợp chất hóa học . Ngoài ra, nó còn được dùng để diễn tả phản ứng hóa học xảy ra như thế nào.

Với phân tử, nó là công thức phân tử, gồm ký hiệu hóa học các nguyên tố với số các nguyên tử các nguyên tố đó trong phân tử .

Nếu trong một phân tử, một nguyên tố có nhiều nguyên tử, thì số nguyên tử được biểu thị bằng một chỉ số dưới ngay sau ký hiệu hóa học (các sách xuất bản trong thế kỷ thứ 19 thường sử dụng chỉ số trên). Với các hợp chất ion và các chất không phân tử khác, chỉ số dưới biểu thị tỷ lệ giữa các nguyên tố trong công thức kinh nghiệm.

Nhà hóa học người Thụy Điển Jons Jakob Berzelius đã phát minh ra cách viết các công thức hóa học vào thế kỷ 19.

Hóa tin học
Hóa tin (học) hay Hóa học tính toán là một chuyên ngành của hóa học lý thuyết với mục đích chính là tạo ra các mô hình toán học xấp xỉ và các chương trình máy tính để tính các tính chất của các phân tử (như năng lượng tổng cộng, mô men phân cực, mô men tứ cực, phổ dao động phân tử, độ hoạt hóa, các tính chất quang phổ học phân tử, mặt cắt tán xạ...) và ứng dụng các chương trình tính toán này cho các bài toán cụ thể. Tên gọi chuyên ngành này cho thấy sự giao thoa giữa khoa học máy tính và hóa học.


Hằng số Avogadro
Hằng số hay số Avogadro, lấy tên theo Amedeo Avogadro, kí hiệu NA, được định nghĩa là số nguyên tử có trong 12 gam đồng vị cacbon 12C hay bằng số nguyên tử hay phân tử có trong 1 mol chất. Số Avogadro có đơn vị là 1/mol hay mol-1.

NA = 6,0221415 . 1023 mol-1
Trong n mol chất thì có N = NA . n nguyên tử hay phân tử của chất đó.
Ngoài ra, số Avogadro còn được dùng để liên hệ các hằng số vật lí với nhau, ví dụ:

 -Hằng số khí R và hằng số Boltzmann k
  R = NA . k
 -Hằng số Faraday F và điện tích nguyên tử e
  F = NA . e

Số khối
Số khối hay số hạt, kí hiệu A, chỉ tổng số hạt trong hạt nhân nguyên tử. Z là số proton, N là số neutron thì A = Z + N. Số khối thường được ghi cao bên trái kí hiệu của nguyên tố .

Ví dụ cacbon-12 có Z = 6, N = 6 → A = 12, kí hiệu 12C.

Các nguyên tử nguyên tố X có cùng Z nhưng khác A thi được gọi là đồng vị của X.

Số nguyên tử
Số nguyên tử (ký hiệu Z), số hiệu nguyên tử, nguyên tử số hay số thứ tự là số chỉ vị trí của một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn, được xác định bằng số proton trong hạt nhân của nguyên tố đó. Số proton trong nguyên tử trùng với số electron ở lớp vỏ nguyên tử (bảo hòa), vì vậy số nguyên tử còn cho biết được số electron trong 1 nguyên tử. Số nguyên tử thường được ghi dưới bên trái kí hiệu nguyên tố , với A là số khối.

Các nguyên tử có số nguyên tử bằng nhau cùng thuộc 1 nguyên tố, và có tính chất hóa học giống nhau. Nguyên tử có cùng số nguyên tử nhưng khác số neutron và số khối gọi là đồng vị của nguyên tố đó.

Nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn
Trong hóa học và các ngành khoa học khác, nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn hay STP (viết tắt của standard temperature and pressure) là các điều kiện vật lý tiêu chuẩn để thực hiện các đo lường trong thí nghiệm, cho phép so sánh giữa các bộ kết quả thí nghiệm. Trên thế giới, STP hiện do IUPAC (Liên minh quốc tế về hóa học thuần túy và ứng dụng) định nghĩa là giá trị quy ước có trị số nhiệt độ 273,15 độ K (0 độ C) và áp suất là 100 kPa (1 bar).[1]

Nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn cũng thường được gọi là điều kiện tiêu chuẩn (dktc). Điều kiện tiêu chuẩn còn có thể bao hàm cả độ ẩm tương đối tiêu chuẩn.

Có nhiều định nghĩa cũng đang được dùng bởi các tổ chức khác về điều kiện tiêu chuẩn (xem bảng bên dưới); trong đó đôi khi khái niệm nhiệt độ phòng (khoảng 25 độ C) được sử dụng thay cho 0 độ C.

Điện hóa
Điện hóa là tên gọi một lĩnh vực trong hóa học nghiên cứu về mối liên hệ giữa các quá trình hóa học và dòng điện. Một phản ứng hóa học xảy ra khi có dòng điện chạy qua, hay qua phản ứng hóa học có một hiệu điện thế, đây là những quá trình điện hóa. Trong các quá trình này luôn tồn tại đồng thời hai hiện tượng: ôxi hóa và ôxi hóa khử (phản ứng ôxi hóa khử).

Lịch sử phát triển
-1799: Alexandro Volta lần đầu tiên chế tạo ra pin hoạt động được, trước đấy Luigi Galvani đã có nhiều thí nghiệm trên đùi ếch, các cơ chúng co lại khi chạm vào kim loại khác nhau
-1832: Michael Faraday phát hiện ra định luật cơ bản về điện hóa
-1929: Jaroslav Heyrovský nghiên cứu về phương pháp cực phổ và nhận được giải Nobel hóa học cho công trình này vào năm 1959
-1969: tế bào nhiên liệu hiđrô đã được nghiên cứu và dùng trong chương trình Apollo, chúng không chỉ là nguồn điện mà còn cung cấp cả nước cho phi hành đoàn.

Ứng dụng điện hóa
-Trong sản xuất các kim loại như kali, nhôm, ... hay các halogen như clo, flo, ... qua điện phân
-Sản xuất các nguồn điện di động như pin, ắc quy, tế bào nhiên liệu, ...
-Phân tích các chất hóa học trong hóa phân tích, ví dụ trong phương pháp cực phổ
-Kỹ thuật mạ điện

Cơ sở hóa học
Trong các ôxít kim loại có liên kết ion, ví dụ CaO thì Ca cho e-, chất bị ôxi hóa và O nhận e-, chất ôxi hóa hay chất bị ôxi hóa khử, các quá trình:

Ôxi hóa: Ca → Ca2+ + 2e-
Ôxi hóa khử: O + 2e- → O2-
Phản ứng ôxi hóa khử: Ca + O → Ca2+ + O2-

Khi mở rộng các khái niệm này ra, quá trình ôxi hóa: chất A cho ne- thành An+, quá trình ôxi hóa khử: chất B nhận ne- thành Bn-, phản ứng ôxi hóa khử A + B → An+ + Bn-; khi A và B đều là kim loại thì có phản ứng ôxi hóa khử An+ + B → A + Bn+.

Nếu phản ứng này là liên tục thì có 1 dòng chuyển động của ne- hay 1 dòng điện giữa A và B

Nếu các ion này có mặt trong 1 điện trường thì dưới tác dụng của lực tĩnh điện, các ion có điện tích âm sẽ di chuyển và tụ lại trên cực dương anôt, còn ion dương thì về cực âm catôt

Đơn vị khối lượng nguyên tử
Đơn vị khối lượng nguyên tử là một đơn vị đo khối lượng cho khối lượng của các nguyên tử và phân tử. Nó có giá trị chính xác bằng một phần mười hai khối lượng của nguyên tử cacbon 12. Do đó, đơn vị khối lượng nguyên tử còn được gọi là đơn vị cacbon.

Nó hay được ký hiệu bằng chữ u. Trong hệ đo lường quốc tế:

1 u = 1/NA gam = 1/(1000 NA) kg   
(Với NA là hằng số Avogadro)

1 u ≈ 1.66053886 x 10-27 kg

Đương lượng
Đương lượng hay Equivalent (Eq hay eq) là đơn vị đo lường thường dùng trong hoá học và sinh học. Nó đo lường khả năng một chất kết hợp với các chất khác. Nó thường được dùng khi nói về nồng độ chuẩn.

Đương lượng của 1 nguyên tố là số phần khối lượng của nguyên tố đó kết hợp với 1,008 phần khối lượng của Hidro hoặc 8 phần khối lượng của Oxi hoặc thay thế những lượng đó trong hợp chất.

Ví dụ: đương lượng của H là 1,008, của O là 8,0, của C là 3,0, của N là 4,6, của Al là 9,0, của Na là 23,0...

Trong phản ứng hóa học "các nguyên tố kết hợp với nhau hoặc thay thế nhau theo các khối lượng tỉ lệ với đương lượng của chúng". Đó là định luật đương lượng do nhà vật lý và hóa học người Anh John Dalton (1766-1884) đề ra năm 1792. Định luật này cho phép tính 1 cách đơn giản đương lượng của 1 nguyên tố khi biết đương lượng của nguyên tố khác tác dụng với nó.

Đương lượng được định nghĩa chính thức là khối lượng tính bằng gam của một chất sẽ phản ứng với 6,022 x 1023 electron. (Đây là số Avogadro, nghĩa là số hạt trong một mol chất).

Thực nghiệm cho thấy rằng khối lượng nguyên tử của nguyên tố luôn luôn là 1 số nguyên lần của đương lượng của nguyên tố đó. Số nguyên đó cũng chính là hóa trị của nguyên tố. Vì vậy khối lượng đương lượng của một chất cho trước về thực tế bằng với lượng chất tính theo mol chia cho hoá trị của chất đó.

Trong thực tế, khối lượng đương lượng thường có độ lớn rất nhỏ, vì vậy nó thường được diễn tả bằng mili đương lượng, tức miliequivalent (mEq hay meq) – tiền tố mili biểu thị số đo được chia cho 1000. Phép đo này cũng rất thường gặp ở dạng miliequivalent chất tan trong một lit dung môi (mEq/l). Điều này rất thường gặp trong đo lường dịch sinh học; thí dụ nồng độ kali trong máu người bình thường là từ 3,5 đến 5,0 mEq/l.

Đương lượng có ưu điểm so với các phép đo nồng độ khác (như mol) trong phân tích định lượng phản ứng. Đặc điểm nổi trội của việc dùng đương lượng là không cần nghiên cứu nhiều về bản chất của phản ứng, nghĩa là không cần phân tích và cân bằng phương trình hoá học. Đương lượng các chất tham gia phản ứng là bằng nhau để sinh ra cùng một đương lượng sản phẩm. Thí dụ trong máu có 142 mEq/l Na+ và 103 mEq/l Cl- thì trong 1 lit máu, 103 mEq Na+ sẽ kết hợp với 103 mEq Cl-, còn lại 39 mEq Na+ sẽ kết hợp với các anion khác như HCO3-.

Đương lượng của 1 hợp chất là số phần khối lượng của hợp chất đó phản ứng không thừa không thiếu với 1 đương lượng của hợp chất khác. Dưới đây là quy tắc tính đương lượng của 1 số loại hợp chất trong các phản ứng trao đổi:

Đương lượng của 1 oxit kim loại bằng khối lượng phân tử của oxit đó chia cho tổng hóa trị của kim loại trong oxit đó.

Ví dụ: Đương lượng của Al2O3 là 102:(3*2)=17

Đương lượng của 1 axit bằng khối lượng phân tử của axit đó chia cho số nguyên tử H được thay thế trong phân tử axit.

Ví dụ: Đương lượng của H2SO4 khi 2 nguyên tử H được thay thế là 98:2=49 và khi 1 nguyên tử H được thay thế là 98.

Đương lượng của 1 bazơ bằng khối lượng phân tử của bazơ chia cho hóa trị của nguyên tử kim loại trong phân tử.

Ví dụ: Đương lượng của NaOH là 40.

Đương lượng của 1 muối bằng khối lượng phân tử của muối chia cho tổng hóa trị của các nguyên tử kim loại trong phân tử.

Ví dụ: Đương lượng của Al2(SO4)3 là 342:(3*2)=57

Trong tính toán hóa học người ta rất hay dùng đại lượng đương lượng gam giống như đại lượng nguyên tử gam và phân tử gam mà ngày nay được thay bằng mol.

Đương lượng gam của 1 đơn chất hay hợp chất là lượng chất đó được tính bằng gam và có giá trị bằng đương lượng của nó.

Chuyển đổi
-Đối với ion hoá trị một, 1 Eq = 1 mol
-Đối với ion hoá trị hai, 1 Eq = 0,5 mol
-Đối với ion hoá trị ba, 1 Eq = 0,333 mol
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 17, 2009, 04:26:58 PM gửi bởi Để dành »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Sáu 16, 2009, 07:37:31 PM »
Độ âm điện
Độ âm điện của một nguyên tử là khả năng hút electron của nguyên tử đó khi tạo thành liên kết hóa học. Như vậy độ âm điện của nguyên tử nguyên tố càng lớn thì tính phi kim nguyên tố đó càng mạnh và ngược lại, độ âm điện của nguyên tử nguyên tố càng nhỏ thì tính kim loại càng mạnh.

Trong hóa học có nhiều thang độ âm điện khác nhau do các tác giả tính toán dựa trên cơ sở khác nhau. Dưới đây giới thiệu độ âm điện một vài nguyên tố do nhà hóa học Linus Pauling thiết lập năm 1932:

Nhóm kim loại kiềm (nhóm IA):

H:2,2
Li:0,98
Na:0,93
K:0,82
Rb:0,82
Cs:0,79
Nhóm Halogen (nhóm VIIA):

F:3,98
Cl:3,16
Br:2,96
I:2,66
At:2,2

Sự biến đổi độ âm điện
Trong một chu kì theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân (từ trái qua phải), độ âm điện của nguyên tử các nguyên tố thường tăng dần.

Trong cùng một nhóm (từ trên xuống dưới) theo chiều tăng của điện tích hạt nhân, độ âm điện của nguyên tử các nguyên tố thường giảm dần.

Vậy độ âm điện của nguyên tử nguyên tố A biến đổi tuần hoàn theo chiều tăng của điện tích hạt nhân.

Electron hóa trị
Electron hóa trị hay electron ngoài cùng là những electron ở các orbital ngoài cùng và có thể tham gia vào các liên kết của nguyên tử. Electron hóa trị các nguyên tố nhóm chính nằm ở lớp ngoài cùng, trong nguyên tố nhóm phụ (kim loại chuyển tiếp) electron hóa trị có tại lớp ngoài cùng và lớp d kế cận.

Các electron hóa trị có thể hay không tham gia vào liên kết của nguyên tử, phụ thuộc vào trạng thái hóa học của nguyên tử, khi tham gia chúng được gọi là electron liên kết. Ví dụ, clo trong HCl có 1 electron hóa trị tham gia liên kết, nhưng ở HClO4 có 7 electron liên kết.

Electron hóa trị của các nhóm
Nhóm          Số Electron hóa trị
 1                     1
 2                     2
3-12              1 hay 2
 13                    3
 14                    4
 15                    5
 16                    6
 17                    7
 18                    8


Dung môi
Dung môi là môi trường (thường ở thể lỏng, hoặc thể khí) có tính năng hòa tan các chất rắn, lỏng hay khí khác. Dung môi có thể là các chất phân cực như nước, cồn,.. hoặc các chất không phân cực như dầu, dung môi hữu cơ. Dung môi có thể có độ nhớt rất khác nhau hoặc có thể có khả năng bay hơi dưới điều kiện bình thường cũng khác nhau. Tùy thuộc vào các ứng dụng cụ thể mà người ta dùng dung môi thích hợp. Các ứng dụng sinh hóa thường dùng dung môi là nước vì nước có tính tương hợp sinh học. Với các ứng dụng vật lý, dung môi thường dùng là dầu vì dầu rất ổn định trong môi trường làm việc.

Tốc độ phản ứng
Tốc độ phản ứng là độ thay đổi nồng độ của một trong các chất tham gia hoặc sản phẩm trong một đơn vị thời gian.

Thực nghiệm cho thấy rằng có những phản ứng xảy ra gần như ngay tức khắc, như phản ứng nổ, nhưng cũng có những phản ứng xảy ra rất chậm, thường là phản ứng giữa các hợp chất cộng hóa trị, nhất là những hợp chất hữu cơ.

Tốc độ phản ứng được xác định bằng độ biến thiên nồng độ của chất trong đơn vị thời gian, đơn vị là mol/ls hoặc mol/lh, mol/l.phút trong đó mol/l là đơn vị của nồng độ còn s, h , phút là đơn vị thời gian.

Người ta phân biệt tốc độ trung bình với tốc độ tức thời của phản ứng hóa học. Nếu phản ứng có dạng tổng quát aA + bB = mM + nN thì tốc độ phản ứng có thể được xác định bằng độ giảm nồng độ hoặc của chất A hoặc của chất B hay bằng độ tăng nồng độ hoặc của chất M hoặc của chất N nhưng với quy ước lấy độ biến thiên nồng độ của chất chia cho hệ số của chất đó ở trong phương trình phản ứng.

Tốc độ phản ứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bản chất và nồng độ của các chất phản ứng, áp suất (nếu trong phản ứng có chất khí tham gia),nhiệt độ, bản chất của dung môi (nếu phản ứng được thực hiện trong dung dịch, sự có mặt của chất xúc tác...


Cấu hình electron
Cấu hình electron, hay cấu hình điện tử, nguyên tử cho biết sự phân bố các electron trong lớp vỏ nguyên tử ở các trạng thái năng lượng khác nhau hay ở các vùng hiện diện của chúng.

Số lượng tử và lớp
Theo nguyên lý Pauli, 4 số lượng tử của từng cặp electron trong nguyên tử không được trùng nhau, giải thích cho sự phân bố của chúng trong các lớp khác nhau. Điều này cũng có nghĩa là, trên cùng một phân lớp, không có 2 electron có chiều tự quay giống nhau.

Số lượng tử chính n hình thành nên các lớp chính, trong mỗi lớp chính có n lớp phụ. Các electron trên cùng một lớp thì có mức năng lượng xấp xỉ nhau, và trên cùng một phân lớp thì có năng lượng bằng nhau. Tổng số electron ở mỗi lớp chính phụ thuộc vào bộ 4 số lượng tử n, l, m và s nhưng tối đa là 2n2 electron.

Lớp electron ngoài cùng (lớp hóa trị) của các nguyên tố chứa các electron hóa trị, các electron này quyết định các tính chất hóa học cũng như tính chất vật lý của chúng.

Điền electron vào các lớp
Các electron sẽ điền theo thứ tự vào các lớp có năng lượng từ thấp đến cao, bắt đầu là lớp 1s. Ngoài ra theo quy tắc Hund, các orbital có cùng mức năng lượng thì ban đầu được điền đơn, sao cho số electron độc thân là lớn nhất, sau đấy mới được điền đôi.

Sự điền electron vào các lớp không chỉ phụ thuộc vào vị trí hay khoảng cách của chúng đến hạt nhân mà còn phụ thuộc vào mức năng lượng của các lớp.

Ví dụ: titan có Z = 22, cấu hình theo thứ tự các lớp 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 3d4 4s0 nhưng do năng lượng của lớp 4s thấp hơn lớp 3d nên 4 electron còn lại sẽ điền đầy vào lớp 4s (2) trước, sau đấy mới đến lớp 3d (2), cấu hình đúng của titan là 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 3d2 4s2

Ngoại lệ:

-Nguyên tố lantan, Z = 57 lớp ngoài cùng 6s2 4f1, electron tự do cuối cùng điền vào 5d trước khi vào 4f, tương tự trong nguyên tử Ac thì 6d trước 5f.
-Trong nguyên tử Cr và Cu một electron trong lớp có năng lượng thấp 4s điền vào lớp có năng lượng cao hơn 3d, chúng có cấu hình lớp ngoài cùng là 3d5 4s1 và 3d10 4s1
-Các trường hợp ngoại lệ khác Nb, Mo, Tc, Ru, Rh, Pd, Ag, Ir, Pt, Au, Gd, các actini từ Ac đến Np và Cm

Liên hệ đến bảng tuần hòan
18 nhóm chính (nhóm mới) trong bảng tuần hoàn được phân ra dựa theo số electron trong các lớp ngoài cùng:

-lớp s: nhóm 1 (s1) - 2 (s2)
-lớp p: nhóm 13 (p1) - 18 (p6) (Trừ He)
-lớp d: nhóm 3 (d1) - 12 (d10)
Số chu kỳ bằng số lớp n, với ns là lớp s ngoài cùng.

Cấu hình electron của một số nguyên tố
Cấu hình electron của các nguyên tố thường được viết dưới dạng kèm theo cấu hình electron của các khí hiếm có số thứ tự nhỏ hơn đứng gần nó cộng với các lớp còn lại. Ví dụ, cấu hình electron của magiê (Z = 12): [Ne] 3s2 thì được hiểu 1s2 2s2 2p6 3s2.

Kí hiệu hóa học
Ký hiệu hóa học là ký hiệu quốc tế của một nguyên tố theo IUPAC. Những ký hiệu này được là viết tắt của tên nguyên tố theo tiếng La Tinh hay Hy Lạp. Một số nguyên tố được lấy tên theo các nhà khoa học phát hiện ra nó hay để ghi nhận sự cống hiến của họ cho khoa học và cho nhân loại.

Nếu ký hiệu gồm 2 chữ cái thì chữ đầu tiên được viết hoa, chữ còn lại viết thường.

Ví dụ:

H: tiếng La tinh Hydrogenium (tạo nước)
Ac: tiếng Hy Lạp Aktína (phóng xạ)
Es: lấy tên theo Albert Einstein
Cm: lấy tên theo Marie Curie

Chú ý: Co và CO là ký hiệu cho những chất khác nhau, Co là ký hiệu nguyên tố coban trong khi CO là hợp chất giữa cacbon và ôxy: mônôxít cacbon


« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 17, 2009, 04:29:01 PM gửi bởi Để dành »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Sáu 16, 2009, 07:59:59 PM »
Nồng độ
Nồng độ là khái niệm cho biết lượng hóa chất trong một hỗn hợp, thường là dung dịch.

Các khái niệm
Dung dịch bao gồm chất tan và dung môi. Chất tan càng nhiều trong một lượng dung môi cố định, thì nồng độ càng cao. Nồng độ đạt giá trị cao nhất, ở những điều kiện môi trường nhất định khi dung dịch bảo hòa, có nghĩa chất tan không thể hòa tan thêm vào dung dịch.

Nếu chất tan được thêm vào một dung dịch đã bão hoà, nó sẽ không tan nữa mà sẽ xảy ra hiện tượng phân cách pha (tiếng Anh: phase separation), dẫn đến các pha đồng tồn tại hoặc tạo huyền phù (còn gọi là thể vẩn). Điểm bão hoà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ môi trường, bản chất hoá học của dung môi và chất tan.

Nồng độ có thể tăng bằng cách thêm chất tan vào dung dịch, hoặc giảm lượng dung môi, ví dụ bằng cách cho bay hơi có điều kiện. Ngược lại, nồng độ có thể giảm bằng cách tăng thêm dung môi hay giảm chất tan.

Nồng độ có thể được biểu thị định tính hoặc định lượng.

Hệ thống định tính
Về mặt định tính, dung dịch có nồng độ tương đối thấp được miêu tả với các tính từ "loãng," trong khi dung dịch có nồng độ cao được miêu tả là "đậm đặc." Theo lệ thường, một dung dịch màu càng cô đặc thì có màu càng đậm.

Hệ thống định lượng
Hệ thống định lượng của nồng độ mang nhiều thông tin và hữu ích từ góc độ khoa học. Có nhiều cách khác nhau để biểu thị nồng độ một cách định lượng; các cách thông dụng nhất trong số đó được liệt kê bên dưới.

Lưu ý: Nhiều đơn vị nồng độ cần đo thể tích của một chất, số đo này lại thay đổi phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất xung quanh. Nếu không được ghi rõ, tất cả các trường hợp bên dưới đều được giả định ở được đo ở áp suất và nhiệt độ trạng thái chuẩn (nghĩa là 25 độ C ở 1 atmosphere).

Phần trăm khối lượng
Phần trăm khối lượng biểu thị khối lượng một chất có trong hỗn hợp theo phần trăm của chất đó trong toàn bộ hỗn hợp. Thí dụ: nếu một chai chứa 40 g ethanol và 60 g nước, nó chứa 40% ethanol theo khối lượng. Trong thương mại, các hoá chất lỏng đậm đặc như acid và base thường được ghi nhãn hiệu theo phần trăm khối lượng cùng với tỉ trọng. Trong các tài liệu cũ nó thường được gọi là phần trăm khối lượng-khối lượng (viết tắt w/w).

Phần trăm khối lượng- thể tích
Phần trăm khối lượng-thể tích, (thường được viết tắt % m/v hay % w/v) biểu thị khối lượng chất trong một hỗn hợp theo phần trăm thể tích của toàn bộ hỗn hợp. Phần trăm khối lượng-thể tích thường được dùng cho các dung dịch pha từ thuốc thử rắn. Nó là khối lượng chất tan (g) nhân với 100 và chia cho thể tích dung dịch (mL).

Phần trăm thể tích thể tích
Phần trăm thể tích thể tích hay % (v/v) biểu thị thể tích của chất tan theo mL trong 100 mL dung dịch kết quả. Nó thường dùng nhất khi pha 2 dung dịch lỏng. Thí dụ, bia có 5% ethanol theo thể tích nghĩa là mỗi 100 mL bia chứa 5 mL ethanol.

Nồng độ mol
Nồng độ mol thể tích (nồng độ phân tử gam), kí hiệu M, biểu thị số mol của một chất tan cho trước trong 1 lit dung dịch. Thí dụ: 4,0 lit dung dịch chứa 2,0 mol hạt tan tạo thành dung dịch 0,5 M, còn gọi là 0,5 phân tử gam ("0,5 molar"). Sử dụng mol có nhiều ưu điểm vì nó cho phép đo số tuyệt đối các hạt có trong dung dịch, bất kể khối lượng và thể tích của chúng.

Nồng độ molan
Nồng độ mol khối lượng (m) biểu thị số mol của một chất cho trước trong 1 kilogam dung môi. Thí dụ: 2,0 kg dung môi chứa 1,0 mol hạt tan, tạo thành dung dịch có nồng độ 0,5 mol/kg, còn gọi là "0,5 molal."

Ưu điểm của nồng độ mol khối lượng là nó không thay đổi theo nhiệt độ, và nó liên hệ với khối lượng dung môi hơn là thể tích dung dịch. Thể tích tăng khi nhiệt độ tăng dẫn đến giảm nồng độ mol thể tích. Nồng độ mol khối lượng luôn luôn hằng định bất kể các điều kiện vật lí như nhiệt độ và áp suát.

Molinity
Molinity là thuật ngữ hiếm dùng, biểu thị chỉ số mol một chất cho trước trong 1 kilogam dung dịch. Thí dụ: thêm 1,0 mol của các hạt hoà tan vào 2,0 kg chất tan, khối lượng tổng cộng là 2,5 kg; khi đó molinity của dung dịch là 1,0 mol / 2,5 kg = 0,4 mol/kg.

Lưu ý: molarity và molinity được tính dùng thể tích toàn bộ dung dịch, còn molality được tính chỉ dùng khối lượng của dung môi.

Nồng độ chuẩn
Nồng độ chuẩn là một khái niệm có liên hệ với nồng độ mol thể tích, thường được áp dụng cho các phản ứng và dung dịch axít-bazơ. Trong phản ứng axít-bazơ, đương lượng (equivalent) là lượng acid hoặc bazơ có thể nhận hoặc cho đúng 1 mol proton (ion H+). Nồng độ chuẩn cũng được dùng cho phản ứng oxi hoá-khử, trong đó đương lượng là lượng tác nhân oxi hoá hoặc khử có thể nhận hoặc cung cấp một mol electron.

Nếu như nồng độ mol thể tích đo số hạt trong một lit dung dịch, nồng độ chuẩn đo số đương lượng trong một lit dung dịch.

Trong thực hành, điều này chỉ có nghĩa là nhân nồng độ mol thể tích của dung dịch với hoá trị của chất tan ion. Đối với phản ứng oxi hoá-khử thì hơi phức tạp hơn một chút.

Thí dụ: 1 M axít sulfuric (H2SO4) là 2 N trong phản ứng acid-bazơ vì mỗi mol axít surfuric cung cấp 2 mol ion H+. Nhưng 1 M axít sulfuric là 1 N trong phản ứng kết tủa sulfate, vì 1 mol axít sulfuric cung cấp 1 mol ion sulfate.

Lưu ý: Đối với phản ứng axít-bazơ, nồng độ chuẩn luôn bằng hoặc lớn hơn nồng độ mol thể tích; còn đối với phản ứng oxi hoá-khử thì nó luôn bằng hoặc bé hơn nồng độ mol thể tích.

Tỉ lệ mol
Tỉ lệ mol χ (chi) là số mol chất tan tính theo tỉ lệ với tổng số mol trong dung dịch. Thí dụ: 1 mol chất tan hoà tan trong 9 mol dung môi sẽ có tỉ lệ mol 1/10 hay 0,1.

Nồng độ chính tắc(Formal)
Nồng độ chính tắc (F) là một cách đo nồng độ tương tự như nồng đổ mol thể tích. Nó hiếm được dùng. Nó tính toán dựa trên lượng hoá chất của công thức cấu tạo trong một lit dung dịch. Sự khác biệt giữa các nồng độ chính tắc và mol thể tích là nồng độ chính tắc biểu thị số mol của công thức hoá học nguyên thuỷ trong dung dịch, mà không xét đến các thực thể thực sự tồn tại trong dung dịch. Nồng độ mol thể tích, trái lại, là nồng độ các thực thể trong dung dịch.

Thí dụ: nếu hoà tan calcium carbonate (CaCO3) trong 1 lit nước, hợp chất phân li thành các ion Ca2+ và CO32-. CO32- tiếp tục phân li thành HCO3- và H2CO3. Thực tế không có CaCO3 còn lại trong. Vì vậy, mặc dù ta thêm 1 mol CaCO3 vào dung dịch, dung dịch lại không chứa 1 M chất này; tuy vậy, ta vẫn có thể nói dung dịch chứa 1 F CaCO3.

Huyền phù

Huyền phù (Nổi lơ lửng, từ phù có nghĩa là nổi và huyền là treo hay đeo lơ lửng) là một hệ gồm pha phân tán là các hạt rắn lơ lửng trong môi trường phân tán lỏng (hỗn hợp dị thể).

Nếu để yên một huyền phù thì ngược lại với dung dịch, chất rắn có kích thước không nhỏ lắm sẽ lắng xuống đáy tạo thành một lớp cặn (sa lắng hay trầm tích). Chất lỏng phía trên có thể được chiết ra (lắng gạn) và tách chất rắn ra khỏi chất lỏng.

Ở các phần tử có kích thước nhỏ có thể tăng nhanh quá trình sa lắng bằng phương pháp ly tâm vì kích thước các phần tử rắn càng nhỏ thì sự sa lắng càng chậm.

Huyền phù đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực kĩ thuật như vật liệu sơn, vécni, giấy, vật liệu xây dựng...

Ví dụ
-Cát được khuấy lên trong nước biển.
-Lớp cảm ứng ánh sáng trên phim và giấy ảnh (thường được gọi một cách sai lầm là nhũ tương)
-Mực tàu
-Dung dịch giữ thành trong thi công cọc nhồi bê tông

Năng suất tỏa nhiệt
Năng suất tỏa nhiệt hay nhiệt đốt cháy (ΔHc0) của một chất, thông thường là các dạng nhiên liệu hay thực phẩm, là lượng nhiệt được giải phóng trong quá trình đốt cháy một lượng cụ thể của chất đó. Năng suất tỏa nhiệt là đặc trưng cho từng chất. Nó được đo theo các đơn vị đo năng lượng trên mỗi đơn vị chất đó, thông thường là khối lượng, chẳng hạn như kcal/kg, kJ/kg, J/mol, Btu/m³. Năng suất tỏa nhiệt nói chung được xác định bằng cách sử dụng nhiệt lượng kế. Nó cũng có thể được tính như là khác biệt giữa nhiệt hình thành (ΔfH0) của các sản phẩm và của các chất tham gia phản ứng.

Giá trị được gọi là năng suất tỏa nhiệt trên (hay năng suất tỏa nhiệt tổng thể hay năng lượng tổng thể) được xác định bằng cách đưa tất cả mọi sản phẩm của sự cháy ngược trở lại nhiệt độ ban đầu trước khi cháy, và cụ thể là ngưng tụ bất kỳ loại hơi nào đã sinh ra. Điều này có nghĩa là người ta coi năng suất tỏa nhiệt trên như là nhiệt nhiệt động lực học của sự cháy từ thay đổi enthalpy đối với phản ứng để đạt được nhiệt độ thông thường của các chất trước và sau khi cháy. Trong trường hợp này, nước sinh ra trong quá trình cháy được coi là lỏng.

Giá trị được gọi là năng suất tỏa nhiệt dưới (hay năng suất tỏa nhiệt thực) được xác định bằng cách trừ nhiệt hóa hơi của nước sinh ra từ sự cháy ra khỏi năng suất tỏa nhiệt trên. Điều này có nghĩa là người ta coi bất kỳ lượng nước nào sinh ra đều ở dạng hơi. Năng lượng cần thiết để hóa hơi nước vì thế không được coi là nhiệt.

Phần lớn các ứng dụng có sự đốt cháy nhiên liệu đều sinh ra hơi nước và đó là phần không được sử dụng, và vì thế làm lãng phí lượng nhiệt của nó. Trong những ứng dụng như thế, năng suất tỏa nhiệt dưới là giới hạn có thể sử dụng được. Cụ thể, điều này liên quan tới khí tự nhiên, do hàm lượng hiđrô cao của nó nên sinh ra nhiều nước. Năng suất tỏa nhiệt trên là thích đáng đối với khí ga đốt cháy trong các nồi hơi ngưng tụ để ngưng tụ hơi nước sinh ra từ sự cháy, thu lại nhiệt mà nếu khác đi đã bị bỏ phí.

« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 17, 2009, 04:33:58 PM gửi bởi Để dành »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Sáu 16, 2009, 08:28:12 PM »
Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, hay bảng tuần hoàn Mendeleev, hay ngắn gọn bảng tuần hoàn, là một phương pháp liệt kê các nguyên tố hóa học thành bảng, liên quan mật thiết với định luật tuần hoàn.

Các nguyên tố được sắp xếp theo cấu trúc electron. Do cấu trúc electron là yếu tố quyết định các tính chất hóa học của các nguyên tố, việc sắp xếp này tạo nên sự thay đổi đều đặn của các tính chất hóa học theo các hàng và cột.

Mỗi nguyên tố được liệt kê bởi số nguyên tử và ký hiệu hóa học. Bảng tuần hoàn tiêu chuẩn cho biết các dữ liệu cơ bản nhất. Còn có nhiều các trình bày khác cho từng mục đích cụ thể hơn.

Sắp xếp
Các cố gắng ban đầu để liệt kê các nguyên tố nhằm thể hiện quan hệ giữa chúng thông thường là sắp xếp theo trật tự của nguyên tử lượng. Sự hiểu biết sâu sắc cơ bản của Mendeleev trong phát minh ra bảng tuần hoàn là sắp đặt các nguyên tố để minh họa sự tuần hoàn của các tính chất hóa học (thậm chí nếu như điều đó có nghĩa là một số nguyên tố nhất định không theo trật tự khối lượng, ví dụ Argon có nguyên tử lượng là 39,948(1) trong khi Kali là nguyên tố xếp sau nó lại chỉ có nguyên tử lượng là 39,0983(1).), và để lại các lỗ hổng cho các nguyên tố "bị bỏ sót" (chưa tìm thấy vào thời kỳ đó). Mendeleev sử dụng bảng của mình để dự đoán các tính chất của các "nguyên tố bị bỏ sót" này, và nhiều trong số chúng sau này đã được phát hiện ra là phù hợp khá tốt với các dự đoán.

Với sự phát triển của các học thuyết về cấu trúc nguyên tử (ví dụ thuyết của Henry Moseley) nó trở thành rõ ràng là Mendeleev đã sắp xếp các nguyên tố theo trật tự tăng của số nguyên tử (tức là số lượng proton trong hạt nhân). Trật tự này gần như là đồng nhất với kết quả thu được từ trật tự tăng của nguyên tử lượng.

Nhằm minh họa các thuộc tính tuần hoàn, Mendeleev đã bắt đầu các hàng mới trong bảng của mình sao cho các nguyên tố với các tính chất tương tự nhau nằm trong cùng một cột đứng ("nhóm").

Với sự phát triển của các lý thuyết trong cơ học lượng tử hiện đại về cấu hình electron trong phạm vi nguyên tử, nó trở thành rõ ràng là mỗi hàng ngang ("chu kỳ") trong bảng tuần hoàn tương ứng với sự điền đầy lớp lượng tử của các electron. Trong bảng ban đầu của Mendeleev, mỗi chu kỳ đều có độ dài như nhau. Các bảng ngày nay có các chu kỳ dài hơn tăng dần lên về về phía cuối bảng, và nhóm các nguyên tố trong các khối s, p, d và f để thể hiện sự hiểu biết của con người về cấu hình electron của chúng.

Trong các bảng in ra, mỗi nguyên tố thường được thể hiện bằng ký hiệu nguyên tố và số nguyên tử; nhiều phiên bản còn liệt kê cả nguyên tử lượng và các thông tin khác, như cấu hình electron vắn tắt của chúng, độ âm điện và các hóa trị phổ biến nhất. Vào thời điểm năm 2005, bảng tuần hoàn chứa 116 nguyên tố hóa học mà sự phát hiện ra chúng đã được xác nhận. Trong số đó, 94 nguyên tố được tìm thấy trong tự nhiên trên Trái Đất, phần còn lại là các nguyên tố tổng hợp đã được tạo ra một cách nhân tạo trong các máy gia tốc hạt.

Tính tuần hoàn của các tính chất hóa học
Giá trị chính của bảng tuần hoàn là khả năng dự đoán các tính chất hóa học của nguyên tố, dựa trên vị trí của nó trong bảng tuần hoàn. Cũng cần lưu ý là các tính chất hóa học đó thay đổi đáng kể khi chuyển từ cột này sang cột kia hơn là khi thay đổi từ hàng này sang hàng kia.

Nhóm và chu kì
Nhóm
Một nhóm, còn gọi là một họ, là một cột thẳng đứng trong bảng tuần hoàn.

Các nhóm được coi là phương thức quan trọng nhất trong phân loại các nguyên tố. Trong cùng một nhóm, các nguyên tố có các tính chất rất giống nhau và thể hiện một xu hướng rõ ràng (mạnh dần lên hay yếu dần đi) trong các tính chất dọc theo chiều tăng của nhóm — các nhóm này được đặt các tên gọi chung, chẳng hạn nhóm các kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, kim loại chuyển tiếp, halogen và khí hiếm. Một số nhóm trong bảng tuần hoàn thể hiện sự giống nhau ít hơn và/hoặc các xu hướng theo chiều đứng cũng ít hơn (ví dụ các nhóm 14 và 15). Các thuyết về cấu trúc nguyên tử trong cơ học lượng tử hiện đại giải thích rằng các nguyên tố trong cùng một nhóm có cấu hình electron như nhau trong lớp hóa trị của chúng, và đây là yếu tố lớn nhất trong việc xem xét sự giống nhau của chúng về các tính chất hóa học.

Chu kì
Một chu kỳ là một hàng ngang trong bảng tuần hoàn gồm những nguyên tố có cùng số lớp electron. Trong một chu kì theo chiều tăng của Z, bán kính nguyên tử giảm dần, độ âm điện và năng lượng ion hóa tăng dần, do đó khả năng nhường e của nguyên tố giảm, đồng thời khả năng nhận e của nguyên tố tăng dần. Do đó trong một chu kì thì tính kim loại giảm còn tính phi kim tăng dần.

Mặc dù nhóm là cách thức thông dụng nhất để phân loại các nguyên tố, nhưng ở đây có một vài vùng trong bảng tuần hoàn mà các xu hướng theo chiều ngang và sự giống nhau trong các tính chất lại là đáng kể hơn so với các xu hướng theo chiều đứng. Điều này có thể là đúng trong khối d (hay "các kim loại chuyển tiếp"), và đặc biệt là trong khối f, trong đó các nguyên tố thuộc các nhóm lanthanoid và actinoid tạo ra hai nhóm cùng gốc giống nhau một cách đáng kể theo chiều ngang. Số chu kỳ cũng chỉ ra là có bao nhiêu lớp điện tử có trong nguyên tố thuộc chu kỳ đó.

Ví dụ
Khí hiếm
Tất cả các nguyên tố của nhóm 18 (8 hay 0 nếu không kể đến các nguyên tố chuyển tiếp), là các khí hiếm (khí quý), có lớp hóa trị được điền đầy. Ngày nay người ta không gọi chúng là khí trơ nữa, vì đã tìm thấy hợp chất của Xe. Helium là nguyên tố trơ nhất trong các khí hiếm và khả năng phản ứng trong nhóm này tăng dần lên theo chu kỳ: có thể làm cho các khí hiếm nặng nhất phản ứng do chúng có các lớp electron lớn hơn. Tuy nhiên, khả năng phản ứng của chúng về tổng thể vẫn là rất thấp và kém.

Halogen
Trong nhóm 17, (7 nếu loại đi các kim loại chuyển tiếp) được biết đến như là nhóm các halogen, các nguyên tố đều chỉ còn thiếu 1 electron là điền đầy lớp điện tử hóa trị. Vì thế, trong các phản ứng hóa học chúng có xu hướng thu thêm điện tử (xu hướng thu thêm điện tử gọi là độ âm điện). Thuộc tính này là rõ nét nhất ở Flo (nguyên tố có độ âm điện lớn nhất trong tất cả các nguyên tố) và nó giảm dần theo sự tăng lên của chu kỳ.

Kết quả là tất cả các halogen tạo ra các axit với Hidro, chẳng hạn axit flohiđric, axit clohiđric, axit brômhiđric và axit iốthiđric, tất cả đều trong dạng HX. Độ axit của chúng tăng lên theo sự tăng của chu kỳ, do ion I- lớn là ổn định hơn trong dung dịch khi so với ion F- nhỏ.

Kim loại chuyển tiếp
Trong các kim loại chuyển tiếp (các nhóm từ 3 đến 12), sự khác nhau giữa các nhóm là không quá lớn, và các phản ứng diễn ra ở trạng thái hỗn hợp, tuy nhiên, vẫn có thể thực hiện các dự đoán có ích tại đây được.

Các nhóm Lantan và Actini
Các tính chất hóa học của nhóm Lantan (các nguyên tố từ 57 đến 71) và nhóm Actini (các nguyên tố từ 89 đến 103) là rất giống nhau trong nội nhóm hơn là giống các kim loại chuyển tiếp khác, và việc tách hỗn hợp các nguyên tố này có thể là rất khó. Nó là quan trọng trong sự làm tinh khiết hóa học cho urani (số nguyên tử bằng 92), một nguyên tố quan trọng trong năng lượng nguyên tử.

Thiên hà nguyên tố
Thiên hà nguyên tố là cách bố trí mới của bảng tuần hoàn bày ra các nguyên tố hóa học thành hình thiên hà, do Philip Stewart vẽ vào tháng 11 năm 2004. Các nguyên tố có nhiều đặc tính tuần hoàn, phần nhiều vì số điện tử hóa trị. Vào năm 1951, Edgar Longman làm thấy rõ rằng, nếu mà xếp các nguyên tố theo đường xoắn ốc bầu dục, thì thấy rõ được những kiểu mẫu về đặc tính. Điều này cho ông Stewart, lúc đó chỉ 12 tuổi, một ý niệm coi giống thiên hà xoắn ốc. Ông Stewart muốn nó bổ sung cách bố trí bảng tuần hoàn thường.

Á kim
Á kim gồm những nguyên tố hóa học B, Si, Ge, As, Sb, Te, Po; chúng nằm giữa kim loại và phi kim trong bảng tuần hoàn. Phụ thuộc vào điều kiện môi trường chúng có thể có các tính chất của kim loại như dẫn điện hay phi kim cách điện. Si và Ge là 2 chất bán dẫn quan trọng. Ở điều kiện bình thường, á kim có dạng rắn.

Chu kì tuần hoàn

Các nguyên tố trong bảng tuần hoàn được xếp theo các nhóm và chu kỳ tuần hoàn, trong đấy chu kỳ là các hàng ngang và gồm các nguyên tố có cùng số lớp trong lớp vỏ electron. Trong mỗi chu kỳ từ trái sang phải: số nguyên tử tăng, bán kính nguyên tử giảm, độ âm điện tăng. Ngoại trừ chu kỳ 1 chỉ gồm 2 nguyên tố, các chu kỳ còn lại chứa nguyên tố của các nhóm chính, từ chu kỳ 4 trở đi còn có nguyên tố trong 10 nhóm phụ. Chu kỳ 6 còn có 14 nguyên tố trong nhóm Lantan, chu kỳ 7 nhóm Actini.

Khối d
Khối d của bảng tuần hoàn các nguyên tố bao gồm các nhóm bảng tuần hoàn có các nguyên tố trong đó, ở trạng thái tĩnh nguyên tử (atomic ground state) thì electron có năng lượng cao nhất nằm ở một quỹ đạo d. Các nguyên tố khối d thường được gọi là kim loại chuyển tiếp. Tất cả các nguyên tố khối đều là các kim loại cứng có tỷ trọng cao, đa số chúng nóng chảy trên 1000°C.

Nhóm tuần hoàn
Nhóm tuần hoàn là khái niệm dùng để chỉ nhóm các nguyên tố được xếp thành 1 hàng dọc trong bảng tuần hoàn. Các nguyên tố thuộc 1 nhóm có cùng số electron hóa trị và vì thế có cùng tính chất hóa học. Hiện tại có tổng cộng 18 nhóm, trong đó có 8 nhóm chính (1 - 2 và 13 - 18), 10 nhóm phụ 3 - 12. Trong mỗi nhóm, từ trên xuống dưới: số nguyên tử tăng, độ âm điện giảm, tính kim loại tăng.

Ngoài ra còn có các nhóm Actini và nhóm Lantan gồm các kim loại có tính chất hóa học giống nhau. Các nguyên tố chưa được tìm thấy có số thứ tự từ 121 đến 138 được xếp vào nhóm siêu Actini, chúng là những kim loại không bền và có tính phóng xạ.


Sự lai hóa

 Là sự tổ hợp của một số obitan trong một nguyên tử thành những obitan mới có dạng khác các obitan ban đầu nhưng có khả năng xen phủ cao hơn và do đó có thể tạo liên kết bền hơn. Khái niệm này được nhà hoá học Hoa Kì Paolinh L.C (L. C. Pauling) đưa ra (1939). Có nhiều kiểu LH khác nhau. Các kiểu LH giữa các obitan s và p là:

1. Kiểu LH sp là sự tổ hợp của một obitan s và một obitan p tạo thành hai obitan lai hoá sp có cùng một trục đối xứng nên còn gọi là kiểu LH thẳng. Vd. kiểu LH giữa obitan 2s và một obitan 2p của nguyên tử C trong phân tử CO2, một phân tử đường thẳng.

2. Kiểu LH sp2 là sự tổ hợp của một obitan s và hai obitan p tạo thành ba obitan lai hoá sp2. Trục đối xứng của ba obitan lai hoá sp2 nằm trên mặt phẳng và tạo với nhau những góc 120o, nên kiểu LH sp2 còn gọi là LH tam giác. Vd. kiểu LH giữa obitan 2s và hai obitan 2p của nguyên tử C trong ion CO32- là kiểu sp2 và ion CO32- có hình tam giác đều.

3. Kiểu LH sp3 là sự tổ hợp của một obitan s và ba obitan p tạo thành bốn obitan lai hoá sp3. Trục đối xứng, của bốn obitan lai hoá sp3 tạo nên với nhau ở trong không gian những góc 109o28', nghĩa là các obitan đó hướng tới các đỉnh của một tứ diện đều, nên kiểu LH này còn gọi là LH tứ diện. Vd. kiểu LH giữa obitan 2s và ba obitan 2p của nguyên tử C trong phân tử CH4 là kiểu LH sp3 và phân tử CH4 có hình tứ diện đều.



« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 21, 2009, 03:45:48 PM gửi bởi Để dành »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Sáu 16, 2009, 08:46:06 PM »
Chất hoạt động bề mặt
Chất hoạt động bề mặt (tiếng Anh: Surfactant, Surface active agent) đó là một chất làm ướt có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của một chất lỏng. Là chất mà phân tử của nó phân cực: một đầu ưa nước và một đuôi kị nước.

Đặc điểm
Chất hoạt hóa bề mặt được dùng để làm giảm sức căng bề mặt của một chất lỏng. Nếu có nhiều hơn hai chất lỏng không hòa tan thì chất hoạt hóa bề mặt làm tăng diện tích tiếp xúc giữa hai chất lỏng đó. Khi hòa chất hoạt hóa bề mặt vào trong một chất lỏng thì các phân tử của chất hoạt hóa bề mặt có xu hướng tạo đám (micelle, được dịch là mixen), nồng độ mà tại đó các phân tử bắt đầu tạo đám được gọi là nồng độ tạo đám tới hạn. Nếu chất lỏng là nước thì các phân tử sẽ chụm đuôi kị nước lại với nhau và quay đầu ưa nước ra tạo nên những hình dạng khác nhau như hình cầu (0 chiều), hình trụ (1 chiều), màng (2 chiều). Tính ưa, kị nước của một chất hoạt hóa bề mặt được đặc trưng bởi một thông số là độ cân bằng ưa kị nước (tiếng Anh: Hydrophilic Lipophilic Balance-HLB), giá trị này có thể từ 0 đến 40. HLB càng cao thì hóa chất càng dễ hòa tan trong nước, HLB càng thấp thì hóa chất càng dễ hòa tan trong các dung môi không phân cực như dầu.

Phân loại
Tùy theo tính chất mà chất hoạt hóa bề mặt được phân theo các loại khác nhau. Nếu xem theo tính chất điện của đầu phân cực của phân tử chất hoạt hóa bề mặt thì có thể phân chúng thành các loại sau:

-Chất hoạt hóa ion: khi bị phân cực thì đầu phân cực bị ion hóa.
 -Chất hoạt hóa dương: khi bị phân cực thì đầu phân cực mang điện dương, ví dụ: Cetyl    trimêtylamôni brômua (CTAB).
  -Cetyl trimetylammonium bromua (CTAB)
  -Cetyl pyridinium clorua (CPC)
  -Polyethoxylated tallow amin (POEA)
  -Benzalkonium clorua (BAC)
  -Benzethonium clorua (BZT)
 -Chất hoạt hóa âm: khi bị phân cực thì đầu phân cực mang điện âm
  -Natri dodecyl sulfat (SDS), amoni lauryl sulfat, và các muối ankyl sulfat khác
  -Natri laureth sulfat, hay natri lauryl ete sulfat (SLES)
  -Ankyl benzen sulfonat
  -Xà phòng và các muối của axit béo
 -Chất hoạt hóa phi ion: đầu phân cực không bị ion hóa, ví dụ: Ankyl poly(êtylen ôxít).
  -Ankyl poly(etylen oxit)
  -Copolymers của poly(etylen oxit) và poly(propylen oxit) (trong thương mại gọi là các   Poloxamer hay Poloxamin)
  -Ankyl polyglucozit, bao gồm:
  -Octyl glucozit
  -Decyl maltosit
 -Các rượu béo
  -Rượu cetyl
  -Rượu oleyl
 -Cocamit MEA, cocamit DEA
-Chất hoạt hóa lưỡng cực: khi bị phân cực thì đầu phân cực có thể mang điện âm hoặc mang điện dương tùy vào pH của dung môi, ví dụ: Dodecyl đimêtylamin ôxít.

  -Dodecyl betain
  -Dodecyl dimetylamin ôxít
  -Cocamidopropyl betain
  -Coco ampho glycinat

Than họat tính
Than hoạt tính – là một chất gồm chủ yếu là nguyên tố carbon ở dạng vô định hình (bột), một phần nữa có dạng tinh thể vụn grafit (ngoài carbon thì phần còn lại thường là tàn tro, mà chủ yếu là các kim loại kiềm và vụn cát). Than hoạt tính có diện tích bề mặt ngoài rất lớn, nếu tính ra đơn vị khối lượng thì là từ 500 đến 2500 m2/g (lấy một ví dụ cụ thể để so sánh thì: một sân quần vợt có diện tích rộng khoảng chừng 260 m2), do vậy mà nó là một chất lý tưởng dùng để lọc hút nhiều loại hóa chất.

Bề mặt riêng rất lớn của than hoạt tính là hệ quả của cấu trúc xơ rỗng mà chủ yếu là do thừa hưởng từ nguyên liệu hữu cơ xuất xứ, qua quá trình chưng khô (sấy) ở nhiệt độ cao, trong điều kiện thiếu khí. Phần lớn các vết rỗng - nứt vi mạch, đều có tính hấp thụ rất mạnh và chúng đóng vai trò các rãnh chuyển tải (kẽ nối). Than hoạt tính thường được tự nâng cấp (ví dụ, tự rửa tro hoặc các hóa chất tráng mặt), để lưu giữ lại được những thuộc tính lọc hút, để có thể thấm hút được các thành phần đặc biệt như kim loại nặng.

Thuộc tính làm tăng ý nghĩa của than hoạt tính là: nó là chất không độc (kể cả một khi đã ăn phải nó), giá thành sản xuất rẻ (được tạo từ gỗ thành than hoạt tính và từ nhiều phế chất hữu cơ khác, ví dụ: từ vỏ, xơ dừa), và đồng thời cũng xử lý chất thải rất dễ sau khi đã dùng (bằng cách đốt). Nếu như các chất đã được lọc là những kim loại nặng thì việc thu hồi lại, từ tro đốt, cũng rất dễ.

Ứng dụng:

-Trong y tế (Carbo medicinalis – than dược): để tẩy trùng và các độc tố sau khi bị ngộ độc thức ăn,
-Trong công nghiệp hóa học: làm chất xúc tác và chất tải cho các chất xúc tác khác,
-Trong kỹ thuật thì làm một thành phần của cái lọc khí (trong đầu lọc thuốc lá, cũng như trong tủ mát và máy điều hòa nhiệt độ),
-Trong xử lý nước (hoặc lọc nước trong gia đình): để tẩy các chất bẩn vi lượng.
Tác dụng cực tốt trong phòng tránh tác hại của Tia đất.

Chất chống oxi hóa
Chất chống oxi hóa là một loại hóa chất giúp ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình oxi hóa chất khác. Sự oxi hóa là loại phản ứng hóa học trong đó electron được chuyển sang chất oxi hóa, có khả năng tạo các gốc tự do sinh ra phản ứng dây chuyền phá hủy tế bào sinh vật. Chất chống oxi hóa ngăn quá trình phá hủy này bằng cách khử đi các gốc tự do, kìm hãm sự oxi hóa bằng cách oxi hóa chính chúng. Để làm vậy người ta hay dùng các chất khử (như thiol hay polyphenol) làm chất chống oxi hóa.

Dù phản ứng oxi hóa thuộc loại cơ bản trong đời sống nhưng có thể ngăn chận nó, chẳng hạn động thực vật duy trì hệ thống rất nhiều loại chất chống oxi hóa như glutathione, vitamin C, vitamin E, enzyme catalase, superoxide dismutase. Chất chống oxi hóa yếu hay còn gọi là chất ức chế có thể phá hủy tế bào.

Chất gây rối loạn nội tiết
Chất gây rối loạn nội tiết (đôi khi được gọi là Chất hoạt tính hóc môn ) là những chất có khả năng tác động tương tự tác động của các hóc-môn do hệ thống nội tiết trong đến cơ thể động vật và người sản sinh ra. Chính vì vậy chúng có thể can thiệp vào các chức năng sinh lý do các những hóc-môn của cơ thể thực hiện. Nhiều nghiên cứu cho thấy tác động của những chất này đến cơ thể động vật và cho rằng tác động có hại tương tự cũng có thể xảy ra với con người.

Chất bảo quản
Chất bảo quản là các hóa chất tự nhiên hay tổng hợp được thêm vào sản phẩm như thực phẩm, dược phẩm, sơn, các mẫu phẩm sinh học v.v để ngăn ngừa hoặc làm chậm lại sự thối rữa, hư hỏng gây ra bởi sự phát triển của các vi sinh vật hay do các thay đổi không mong muốn về mặt hóa học. Chúng có thể sử dụng như là một hóa chất duy nhất mà cũng có thể trong tổ hợp với nhiều loại hóa chất có các tác dụng khác.

Gỗ
Các chất bảo quản cũng có thể thêm vào gỗ để ngăn chặn sự phát triển của các loài nấm mốc cũng như để ngăn ngừa côn trùng và mối. Thông thường đồng, các borat và các hóa chất gốc dầu mỏ hay được sửdụng. Để có thêm thông tin về các chất bảo quản gỗ, xem thêm các bài xử lý gỗ, gỗ xẻ và creosot.

Thực phẩm
Các phụ gia thực phẩm có tính chất bảo quản thông thường được sử dụng một mình hoặc gắn liền với các phương pháp bảo quản thực phẩm khác. Đôi khi người ta còn phân biệt giữa các biện pháp bảo quản kháng khuẩn với chống ôxi hóa, trong đó bảo quản kháng khuẩn hoạt động trên nguyên tắc ngăn chặn sự phát triển của các loại vi khuẩn, nấm mốc và côn trùng, còn bảo quản chống ôxi hóa hoạt động trên nguyên tắc ngăn chặn quá trình ôxi hóa các thành phần trong thực phẩm. Các chất kháng khuẩn thông dụng trong chế biến thực phẩm là nitrat natri, nitrit natri, các muối sulfit, (điôxít lưu huỳnh, bisulfat natri, sulfat hiđrô kali v.v) và EDTA đinatri (axít êtylenđiamintêtraaxêtic). Các chất chống ôxi hóa bao gồm BHA (2-tert-butyl-4-hiđrôxyanisol hay 3-tert-butyl-4-hiđrôxyanisol) và BHT (2,6-đi-tert-butyl-4-mêtylphenol). Các chất bảo quản khác còn bao gồm cả fomalđêhít (thông thường trong dung dịch và chủ yếu để bảo quản các mẫu sinh học), glutaralđêhít, điatômit (giết côn trùng), êtanol và mêtylcloroisothiazôlinon. Lợi ích và độ an toàn của nhiều phụ gia thực phẩm nhân tạo, trong đó có cả chất bảo quản là chủ đề gây tranh cãi giữa các viện khoa học chuyên môn hóa về khoa học thực phẩm và độc tính học.

Một số phương pháp bảo quản thực phẩm sử dụng muối ăn, đường hay dấm. Các loại hóa chất này được coi là thực phẩm nhiều hơn là phụ gia thực phẩm.

Tại châu Âu, tất cả các phụ gia thực phẩm đều có ký hiệu bằng "số E" (xem thêm Danh sách các phụ gia thực phẩm). Các chất bảo quản và điều chỉnh độ chua thì có các ký hiệu từ E200–E299.

Chất bảo quản và sức khỏe
Do không phải phụ gia thực phẩm nào có mã số E cũng được các quốc gia cho phép sử dụng. Vì thế các chất bảo quản được chia ra thành 3 nhóm như sau:

Nhóm bị cấm
Có độ độc hại cao, ví dụ: E103 (Chrysoin resorcinol hay p-(2,4-đihiđrôxy phênylazo) benzen sulfonat natri) bị cấm tại nhiều quốc gia– nó là phẩm màu và chất bảo quản dùng cho sơn màu, nhưng không cho thực phẩm.

Nhóm được cho phép
Ví dụ: E104 (Vàng quinolin)– phẩm thông dụng màu vàng cho đồ uống.

Nhóm thực phẩm
Có độ độc hại thấp đối với sức khỏe

Chất biến đổi gỉ thép
Chất biển đổi gỉ thép là một hợp chất hoá học có tác dụng biển đổi gỉ thép thành màng bảo vệ chống ăn mòn, nhưng không gây hoặc ít gây phản ứng ăn mòn thép.

Gỉ thép là hiện tượng phổ biến và có thể gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình xây dựng. Nếu không được làm sạch gỉ trước khi đổ bê tông hoặc sơn phủ sẽ dẫn đến sự suy giảm lực liên kết giữa cốt thép và bê tông hoặc giữa thép và lớp sơn phủ bảo vệ, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ tăng tốc độ ăn mòn và phá hủy sớm kết cấu bê tông cốt thép và kết cấu thép.

Chất biến đổi gỉ vô cơ
Chất biến đổi gỉ vô cơ có thành phần chính là các axit vô cơ, chất phụ gia và hóa chất khác. Đặc điểm chung của loại chất biến đổi gỉ này là có khả năng phản ứng hóa học hòa tan gỉ thép nhưng ít hoặc không phản ứng với thép. Chất biến đổi gỉ phổ biến nhất thường gặp là axit phốtphoric.

Chất biến đổi gỉ hữu cơ
Chất biến đổi gỉ hữu cơ có thành phần chính là các axit hữu cơ. Cũng giống như các axit vô cơ, các axit hữu cơ cũng có khả năng tham gia phản ứng hóa học với gỉ thép tạo thành các hợp chất không tan. Bên cạnh đó, một số chất hữu cơ còn có khả năng tham gia các phản ứng hóa học khác, chẳng hạn với oxy trong không khí để tự liên kết thành màng polyme. Do đó cũng có khả năng chống ăn mòn và bảo vệ thép.

Chất biến đổi gỉ hỗn hợp
Chất biến đổi gỉ hỗn hợp có thành phần gồm cả các loại hóa chất gốc vô cơ lẫn các chất hữu cơ. Đây là hệ chất biến đổi gỉ tiên tiến kết hợp được ưu nhược điểm của cả hai loại chất biến đổi gỉ gốc vô cơ và hữu cơ. Trong thành phần chất biến đổi gỉ hỗn hợp, thông thường có một hàm lượng rất nhỏ các axit vô cơ, chủ yếu là các axit hữu cơ, bên cạnh đó là các muối, dung môi, phụ gia khác. Các axit vô cơ có tác dụng tham gia phản ứng hòa tan nhanh gỉ thép, hòa tan một phần thép tạo gốc để các axit hữu cơ tác dụng với các muối sắt hòa tan dễ dàng hơn, đồng thời bám chắc hơn vào bề mặt thép.

Cơ chế tác dụng
Về cơ chế tác dụng cho thấy gỉ thép trước khi xử lý có cấu trúc xốp, không đồng nhất. Sau khi xử lý bằng chất biến đổi gỉ có cấu trúc mịn, đồng nhất do lớp gỉ thép tương tác với chất biến đổi gỉ tạo thành các phần tử có kích thước nhỏ, có liên kết sắp xếp thành lớp màng liên tục. Chất biến đổi gỉ có khả năng tác dụng với gỉ thép và chuyển hóa gỉ thép thành những hợp chất trơ, bền vững có tính chất như một lớp màng bảo vệ trên bề mặt thép thông qua các phản ứng hóa học phức tạp vì vậy nó có khả năng biến đổi gỉ và bảo quản thép xây dựng. Các kết quả ứng dụng cho thấy chất biến đổi gỉ có tiềm năng ứng dụng to lớn, dễ sử dụng, chi phí thấp, hiệu quả xử lý cao, thời gian bảo quản thép sau khi xử lý biến đổi gỉ đối với môi trường xâm thực nhẹ khoảng 6 tháng, môi trường vùng biển khoảng 1 tháng. Chất biến đổi gỉ có thể sử dụng để làm sạch gỉ cốt thép trước khi đổ bê tông, trước khi sơn phủ và dùng để bảo quản thép xây dựng.


« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 17, 2009, 04:32:53 PM gửi bởi Để dành »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Sáu 17, 2009, 07:31:23 PM »
Sự điện li
Từ trên ta khẳng định được rằng, khi tan trong nước, do tác dụng của nước, phân tử chất điện li phân li thành những ion dương và ion âm:

  Ion dương   Ion âm
Axit  hiđro và gốc axit
Bazơ  kim loại " hiđroxit
Muối  kim loại " gốc axit


Người ta gọi:

Sự điện li là sự phân li thành ion âm và ion dương của phân tử chất điện li khi tan trong nước.

Các ion dương được gọi là Cation, và các ion âm là anion.

Thí dụ: …. Là các cation
             …. Là các anion.

Sự điện li được biểu diễn bằng phương trình gọi là phương trình điện li, để viết đúng phương trình điện li cần lưu ý: Vì phân tử trung hoà về điện nên về số trị tổng điện tích của cation phải bằng tổng điện tích của anion.

Chất điện li mạnh, chất điện li yếu
Vì các ion di chuyển tự do trong dung dịch nên chúng có thể va chạm với nhau và tái tạo lại phân tử chất điện li, quá trình này ngược lại với quá trình điện li. Sự điện li là một quá trình thuận nghịch.

Khi cần nêu rõ tính thuận nghịch của quá trình này, người ta thay dấu (=) bằng hai mũi tên ngược chiều trong phương trình điện li.

Như vậy trong dung dịch chất điện li, ngoài các ion còn có những phân tử không phân li. Khi nghiên cứu dung dịch các chất điện li khác nhau trong cùng điều kiện về nồng độ và nhiệt độ, người ta nhận thấy rằng trong một số dung dịch hầu hết phân tử đều phân li, trong một số dung dịch khác chỉ một số phân tử phân li.

Người ta gọi:

Chất điện li mạnh là những chất tan trong nước phân li gần như hoàn toàn.

Chất điện li yếu là những chất tan trong nước chỉ phân li một phần.

Những axit thường gặp như  là chất điện li mạnh (axit mạnh). Các axit  là chất điện li yếu (axit yếu).

Các bazơ tan  …. đều là chất điện li mạnh.

Hầu hết các muối tan đều là chất điện li mạnh, trừ một số rất ít muối như … là chất điện li yếu.

Bằng máy đo thật nhạy người ta đã chứng minh được rằng nước nguyên chất cũng rất điện, nước điện li một phần rất nhỏ.

Đã xác định được là, cứ 10 tỉ phân tử  thì có 18 phân tử điện li, nước là một chất điện li rất yếu.

Nồng độ mol/l của các ion
Người ta gọi nồng độ mol/l của ion A là số mol A chứa trong một lít dung dịch.

Thí dụ: Tính nồng độ mol/l của  trong các dung dịch sau đây:
a. Trong 0,2 lít dung dịch có hoà tan 0,4mol .
b. Trong 0,5 lít dung dịch có hoà tan 4,48 l  (đo ở đktc)

Giải:
a) 0,4mol  phân li cho 0,4 mol  , do đó:
[H+ ] = 0,4: 0,2 = 2 (mol/l).

b) nHCl = 4,48: 22,4 = 0,2 (mol).
0,2 mol HCl phân li cho 0,2 mol H+ do đó
[H+ ] = 0,2 : 0,5 = 0,4 (mol /l).
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 17, 2009, 08:30:26 PM gửi bởi Commander »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Re: Hóa học
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Sáu 17, 2009, 08:23:31 PM »
Người ta gọi:
Chất điện li mạnh là những chất phân li gần như hoàn toàn.
Chất điện li yếu là những chất chỉ phân li một phần.
Hai định nghĩa này không chính xác, vì nếu theo 2 định nghĩa trên sẽ không biết "phân li hoàn toàn", "phân li một phần" là hoàn toàn hay một phần với cái gì.
Chẳng hạn, đem 1 kg muối NaCl cho vào 1 lít nước khuấy đều, chỉ một phần muối có thể tan ra, như vậy NaCl chỉ phân li một phần so với 1 kg trên nhưng nó vẫn là chất điện ly mạnh!
Định nghĩa chính xác, khi xét dung môi là H2O phải là:
Chất điện li mạnh là những chất khi tan trong nước thì phân li gần như hoàn toàn.
Chất điện li yếu là những chất khi tan trong nước thì chỉ phân li một phần.
Đọc hai định nghĩa đúng này sẽ thấy, phân li hoàn toàn hay một phần là so với cái lượng đã tan ra chứ không phải so với cái lượng đem hòa tan.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

 

Bác sĩ trực tuyến tu dien thuoc

drug dictionary thuocsi.com umeken beautiful places in the world trathuoc.com

Tư vấn