Loading

Like H2VN trên Facebook
nha thuoc truc tuyen

Tác giả Chủ đề: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học  (Đọc 31487 lần)

0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.

Offline hunken

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 60
    • Email
BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« vào lúc: Tháng Một 17, 2007, 12:40:58 PM »
Ken tạo ra topic này mong pà con góp sức xây dựng để ta hiểu biết thêm về các ngtố trong bảng hệ thống tuần hoàn  ;D ;D
Tình yêu là quyển sách dày mà đọc từ trang đầu đến trang cuối ta không hiểu gì cả ....

Cộng đồng Hóa học H2VN

BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« vào lúc: Tháng Một 17, 2007, 12:40:58 PM »

Offline hunken

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 60
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Một 17, 2007, 12:45:43 PM »
Mở màn luôn bắt đầu từ Hidro
Thuộc tính
Hiđrô là nguyên tố hóa học nhẹ nhất với đồng vị phổ biến nhất chứa một prôton và một điện tử. Ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn nó là dạng khí không màu, không mùi, nhị nguyên tử (phân tử), H2 dễ bắt cháy, có hóa trị 1, có nhiệt độ sôi 20,27 K (-252,87°C) và nhiệt độ nóng chảy 14,02 K (-259,14°C).

Hiđrô là nguyên tố phổ biến nhất trong vũ trụ. Nó hiện diện trong nước và trong mọi hợp chất hữu cơ cũng như các cơ thể sống. Nó có thể có phản ứng hóa học với phần lớn các nguyên tố hóa học khác. Các ngôi sao trong chuỗi chính là sự tràn ngập của hiđrô trong trạng thái plasma. Nó được sử dụng trong sản xuất amôniắc (NH3), cũng như làm khí nâng trong các khinh khí cầu hay làm nguồn năng lượng.

Trong phòng thí nghiệm, hiđrô được điều chế bằng phản ứng của axít với kim loại, như kẽm chẳng hạn. Để sản xuất công nghiệp có giá trị thương mại nó được điều chế từ ga thiên nhiên. Điện phân nước là biện pháp đơn giản nhưng không kinh tế để sản xuất hàng loạt hiđrô. Các nhà khoa học đang nghiên cứu để tìm ra những phương pháp điều chế mới như sử dụng tảo lục hay việc chuyển hóa các dẫn xuất sinh học như glucôda hay sorbitol ở nhiệt độ thấp bằng các chất xúc tác mới.

Dưới áp suất cực cao, chẳng hạn như tại trung tâm của các sao khí khổng lồ, các phân tử hiđrô mất đặc tính của nó và hiđrô trở thành một kim loại lỏng (xem hiđrô kim loại). Dưới áp suất cực thấp, như trong khoảng không vũ trụ, hiđrô có xu hướng tồn tại dưới dạng các nguyên tử riêng biệt, đơn giản vì không có cách nào để chúng liên kết với nhau; các đám mây H2 tạo thành và được liên kết trong quá trình hình thành các ngôi sao.

Nguyên tố này đóng vai trò sống còn trong việc cung cấp năng lượng trong vũ trụ thông qua các phản ứng prôton-prôton và chu trình cacbon - nitơ. (Chúng là các phản ứng nhiệt hạch giải phóng năng lượng khổng lồ thông qua việc tổ hợp hai nguyên tử hiđrô thành một nguyên tử hêli.)

Hiđrô nguyên tử
Hiđrô nguyên tử là nguyên tử của nguyên tố hiđrô. Nó bao gồm một điện tử có điện tích âm quay xung quanh prôton mang điện tích dương là hạt nhân của nguyên tử hiđrô. Điện tử và prôton liên kết với nhau bằng lực Culông.
Lịch sử
Hiđrô (trong tiếng Pháp hay tiếng Hy Lạp có nghĩa là "sinh ra nước") lần đầu tiên được Henry Cavendish phát hiện như một chất riêng biệt năm 1766. Cavendish tình cờ tìm ra nó khi thực hiện các thí nghiệm với thủy ngân và các axít. Mặc dù ông đã sai lầm khi cho rằng hiđrô là hợp chất của thủy ngân (và không phải của axít), nhưng ông đã có thể miêu tả rất nhiều thuộc tính của hiđrô rất cẩn thận. Antoine Lavoisier đặt tên cho nguyên tố này và chứng tỏ nước được tạo ra từ hiđrô và ôxy. Một trong những ứng dụng đầu tiên của nó là khinh khí cầu. Hiđrô thu được bằng cách cho axít sulfuric loãng tác dụng với sắt. Đơteri, một trong các đồng vị của hiđrô, được Harold C. Urey phát hiện bằng cách chưng cất một mẫu nước nhiều lần. Urey nhận giải Nobel cho phát minh của mình năm 1934. Trong cùng năm đó, đồng vị thứ ba, triti, đã được phát hiện.

Sự phổ biến và sản xuất
Hiđrô là nguyên tố phổ biến nhất trong vũ trụ, chiếm 75% các vật chất thông thường theo khối lượng và trên 90% theo số lượng nguyên tử. Nguyên tố này được tìm thấy với một lượng khổng lồ trong các ngôi sao và các hành tinh khí khổng lồ. Tuy vậy, trên Trái Đất nó có rất ít trong khí quyển (1 ppm theo thể tích). Nguồn chủ yếu của nó là nước, bao gồm hai phần hiđrô và một phần ôxy (H2O). Các nguồn khác bao gồm phần lớn các chất hữu cơ (hiện tại là mọi dạng của cơ thể sống), than, nhiên liệu hóa thạch và khí tự nhiên. Mêtan (CH4) là một nguồn quan trọng của hiđrô.

Hiđrô có thể điều chế theo nhiều cách khác nhau: hơi nước qua than (cacbon) nóng đỏ, phân hủy hiđrôcacbon bằng nhiệt, phản ứng của các bazơ mạnh (kiềm) trong dung dịch với nhôm, điện phân nước hay khử từ axít loãng với một kim loại (có khả năng đẩy hiđrô từ axít) nào đó.

Việc sản xuất thương mại của hiđrô thông thường là từ khí tự nhiên được xử lý bằng hơi nước nóng. Ở nhiệt độ cao (700-1.100°C), hơi nước tác dụng với mêtan để sinh ra mônôxít cacbon và hiđrô.

CH4 + H2O → CO + 3 H2
Lượng hiđrô bổ sung có thể thu được từ mônôxít cacbon thông qua phản ứng nước-khí sau:

CO + H2O → CO2 + H2
Hợp chất
Là nhẹ nhất trong mọi chất khí, hiđrô liên kết với phần lớn các nguyên tố khác để tạo ra hợp chất. Nó có độ điện âm 2,2 vì thế nó tạo ra hợp chất ở những chỗ mà nó là nguyên tố mang tính phi kim loại nhiều hơn (1) cũng như khi nó là nguyên tố mang tính kim loại nhiều hơn (2). Các chất loại đầu tiên gọi là hiđrua, trong đó hiđrô hoặc là tồn tại dưới dạng ion H- hay chỉ là hòa tan trong các nguyên tố khác (chẳng hạn như hiđrua palađi). Các chất loại thứ hai có xu hướng cộng hóa trị, khi đó ion H+ là một hạt nhân trần và có xu hướng rất mạnh để hút các điện tử vào nó. Các dạng này là các axít. Vì thế thậm chí trong các dung dịch axít người ta có thể tìm thấy các ion như hiđrôni (H3O+) cũng như prôton.

Hiđrô kết hợp với ôxy tạo ra nước, H2O và giải phóng ra năng lượng, nó có thể nổ khi cháy trong không khí. Ôxít đơteri, hay D2O, thông thường được nói đến như nước nặng. Hiđrô cũng tạo ra phần lớn các hợp chất với cacbon. Vì sự liên quan của các chất này với các loại hình sự sống nên người ta gọi các hợp chất này là các chất hữu cơ, việc nghiên cứu các thuộc tính của các chất này thuộc về hóa hữu cơ
Đồng vị
Hiđrô là nguyên tố duy nhất có các tên gọi khác nhau cho các đồng vị của nó. (Trong giai đoạn đầu của nghiên cứu phóng xạ, các đồng vị phóng xạ nặng khác nhau cũng được đặt tên, nhưng các tên gọi này không được sử dụng, mặc dù một nguyên tố, radon, có tên gọi mà nguyên thủy được dùng chỉ cho một đồng vị của nó). Các ký hiệu D và T (thay vì H2 và H3) đôi khi được sử dụng để chỉ đơteri và triti, mặc dù điều này không được chính thức phê chuẩn. (Ký hiệu P đã được sử dụng cho phốtpho và không thể sử dụng để chỉ proti.)

H1: Đồng vị phổ biến nhất của hiđrô, đồng vị ổn định này có hạt nhân chỉ chứa duy nhất một prôton; vì thế trong miêu tả (mặc dù ít) gọi là proti.
H2: Đồng vị ổn định có tên là đơteri, với thêm một nơtron trong hạt nhân. Nó chiếm khoảng 0,0184-0,0082% của toàn bộ hiđrô (IUPAC); tỷ lệ của nó tới proti được xác định liên quan với nước tham chiếu tiêu chuẩn của VSMOW.
H3: Đồng vị phóng xạ tự nhiên có tên là triti. Hạt nhân của nó có hai nơtron và một prôton. Nó phân rã theo phóng xạ bêta và chu kỳ bán rã là 12,32 năm.
H4: Hiđrô-4 được tổng hợp bằng cách tấn công triti với hạt nhân đơteri chuyển động cực nhanh. Nó phân rã thông qua bức xạ nơtron và có chu kỳ bán rã 9,93696x10-23 giây.
H5: Năm 2001 các nhà khoa học phát hiện ra hiđrô-5 bằng cách tấn công các mục tiêu hiđrô bằng các ion nặng. Nó phân rã thông qua bức xạ nơtron và có chu kỳ bán rã 8,01930x10-23 giây.
H6: Hiđrô-6 phân rã thông qua ba bức xạ nơtron và có chu kỳ bán rã 3,26500x10-22 giây.
H7: Năm 2003 hiđrô-7 đã được tạo ra tại phòng thí nghiệm RIKEN ở Nhật Bản bằng cách cho va chạm dòng các nguyên tử hêli-8 cao năng lượng với mục tiêu hiđrô lạnh và phát hiện ra các triton - hạt nhân của nguyên tử triti - và các nơtron từ sự phá vỡ của hiđrô-7, giống như phương pháp sử dụng để sản xuất và phát hiện hiđrô-5.
Cảnh báo
Hiđrô là một chất khí dễ bắt cháy, nó cháy khi mật độ chỉ có 4%. Nó có phản ứng cực mạnh với clo và flo, tạo thành các axít hiđrôhalic có thể gây tổn thương cho phổi và các bộ phận khác của cơ thể. Khi trộn với ôxy, hiđrô nổ khi bắt lửa
Tình yêu là quyển sách dày mà đọc từ trang đầu đến trang cuối ta không hiểu gì cả ....

Offline hunken

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 60
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Một 17, 2007, 12:49:58 PM »
còn ai giỏi av thì zô đây coi http://periodic.lanl.gov/elements/1.html
hix thật ra cũng ko biết trong đó nói gì do hoc av ko được tốt cho lắm  :-\
Tình yêu là quyển sách dày mà đọc từ trang đầu đến trang cuối ta không hiểu gì cả ....

Offline rong nho

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 8
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Một 17, 2007, 05:14:06 PM »
hồi lúc nhỏ tui được bít có 108 ng tố, trong bảng HTTH thế nhưng bi giờ nghe nói đã phát hiện ra các nguyên tố mới nhân tạo, và có tính phóng xạ (với lượng rất ít chỉ để nghiên cứu, và tên gọi thì khác so với các nguyên tố trứoc đây), có bạn nào bít thông tin hiện nay đã thống kê được bi nhiêu ng tố không??? ???
 

Offline hunken

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 60
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Một 20, 2007, 09:09:58 PM »
bi giờ hình như là có 108 nguyên tố zồi
Tình yêu là quyển sách dày mà đọc từ trang đầu đến trang cuối ta không hiểu gì cả ....

Offline netthubuon

  • Đại diện web hoahoc.org
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 131
  • Đại diện web hoahoc.org
    • www.hoahoc.org
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Một 21, 2007, 04:33:18 AM »
hình như là hơn rồi bác ơi, em nhớ ko nhầm là khoảng hơn 110 nguyên tố cơ, nhưng à mấy nguyên tố cuối họ chưa tìm ra được rõ như những nguyên tố kia của bảng tuần hoàn. hình như là khoảng 4 nguyên tố cưới cùng.
Bạn Có Yêu Hóa Học ?
Hãy cùng trao đổi với tôi qua ních Ym: netthubuon hoặc số điện thoại: 0979817885 !

Offline longraihoney

  • LONGRAIHONEY
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 208
  • Cùng longrai học Vô Cơ nhá
    • LONGRAIHONEY
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Một 21, 2007, 08:54:32 AM »
từ năm 2005 đã có 118 nguyên tố với những cái tên CHÍNH THỨC chứ ko còn là Unp hay Unn gì nữa rồi ... còn tới bây giờ thì Z hơn trăm rưỡi rồi ;D
Vô cơ vô cơ vô cơ ...

Offline Hoàng _ Royal

  • Iridium
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 217
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Một 21, 2007, 06:00:31 PM »
   Ai mún tìm hỉu về bản THHH thì vào http://theodoregray.com/PeriodicTable/index.html hoặc http://www.webelements.com/... ;D
   Còn bác nào mún tìm hỉu về orbital nguyên tử thì mời vào http://winter.group.shef.ac.uk/orbitron/AOs/4d/index.html ;D
   Về kl kalium td với nước: http://www.webelements.com/webelements/elements/media/moov/K_H2O.mov ;D
   Và đây là núi lửa nhân tạo: http://www.webelements.com/webelements/elements/media/moov/volcano.mov ;D
   Còn đây là một vài cái film khác về các nguyên tố: http://theodoregray.com/PeriodicTable/Elements/WithVideos/index.html ;D
   Cái này là phim về nguyên tố đồng: http://www.webelements.com/webelements/elements/media/moov/rainbow.mov

Mọi người thấy sao ;D
   
H2VN is my house & Iridium is my home

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Năm 15, 2007, 09:51:26 AM »
   Ai mún tìm hỉu về bản THHH thì vào http://theodoregray.com/PeriodicTable/index.html hoặc http://www.webelements.com/... ;D
   Còn bác nào mún tìm hỉu về orbital nguyên tử thì mời vào http://winter.group.shef.ac.uk/orbitron/AOs/4d/index.html ;D
   Về kl kalium td với nước: http://www.webelements.com/webelements/elements/media/moov/K_H2O.mov ;D
   Và đây là núi lửa nhân tạo: http://www.webelements.com/webelements/elements/media/moov/volcano.mov ;D
   Còn đây là một vài cái film khác về các nguyên tố: http://theodoregray.com/PeriodicTable/Elements/WithVideos/index.html ;D
   Cái này là phim về nguyên tố đồng: http://www.webelements.com/webelements/elements/media/moov/rainbow.mov

Mọi người thấy sao ;D
   
Tui chưa váo nhưng cũng thanks trước nha
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline s.ost

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 68
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Sáu 18, 2007, 09:40:35 AM »
không xạo đâu nhưng theo tui biết có những nguyên tố có tính phóng xạ rất cao chỉ xuất hiện trong một tích tắcc nhỏ trong các quá trình thí nghiệm hạt nhân, bên vật lý chỉ cần thấy hạt nhân mới là công nhận nguyên tố mới rồi nhưng hóa học phải thí nghiệm để kiểm tra tính chất hóa học của nó nữa mới công nhận  ;)
Do your best just keep on laughing one thing's true there's always brand new day
i'm gonna live today like my lát day

Offline ..::: Bùi Nhật An :::..

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 512
  • Simple is the Best
    • Mr.An's site!
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Sáu 26, 2007, 04:43:02 PM »
Uhm! Không tới 150 nguyên tố hóa học đâu! Thực chất đã tìm ra đến nguyên tố thứ 118 (Uuo) nhưng chỉ có 117 nguyên tố thôi, vì nguyên tố 117 vẫn chưa tổng hợp được, mặc dù nó đã xuất hiện và cả đặt tên (Uus)!
History is made by those who break the rule!

Offline ta_là_ai?

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 17
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Bảy 07, 2007, 09:14:17 PM »
bảng tuần hoàng:món ăn ngon vậy mình tham gia với nha
 

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Chín 23, 2007, 07:58:13 PM »
Các cố gắng ban đầu để liệt kê các nguyên tố nhằm thể hiện quan hệ giữa chúng thông thường là sắp xếp theo trật tự của nguyên tử lượng. Sự hiểu biết sâu sắc cơ bản của Mendeleev trong phát minh ra bảng tuần hoàn là sắp đặt các nguyên tố để minh họa sự tuần hoàn của các tính chất hóa học (thậm chí nếu như điều đó có nghĩa là một số nguyên tố nhất định không theo trật tự khối lượng, ví dụ Agon có nguyên tử lượng là 39,948(1) trong khi Kali là nguyên tố xếp sau nó lại chỉ có nguyên tử lượng là 39,0983(1).), và để lại các lỗ hổng cho các nguyên tố "bị bỏ sót" (chưa tìm thấy vào thời kỳ đó). Mendeleev sử dụng bảng của mình để dự đoán các tính chất của các "nguyên tố bị bỏ sót" này, và nhiều trong số chúng sau này đã được phát hiện ra là phù hợp khá tốt với các dự đoán.

Với sự phát triển của các học thuyết về cấu trúc nguyên tử (ví dụ thuyết của Henry Moseley) nó trở thành rõ ràng là Mendeleev đã sắp xếp các nguyên tố theo trật tự tăng của số nguyên tử (tức là số lượng proton trong hạt nhân). Trật tự này gần như là đồng nhất với kết quả thu được từ trật tự tăng của nguyên tử lượng.

Nhằm minh họa các thuộc tính tuần hoàn, Mendeleev đã bắt đầu các hàng mới trong bảng của mình sao cho các nguyên tố với các tính chất tương tự nhau nằm trong cùng một cột đứng ("nhóm").

Với sự phát triển của các lý thuyết trong cơ học lượng tử hiện đại về cấu hình electron trong phạm vi nguyên tử, nó trở thành rõ ràng là mỗi hàng ngang ("chu kỳ") trong bảng tuần hoàn tương ứng với sự điền đầy lớp lượng tử của các electron. Trong bảng ban đầu của Mendeleev, mỗi chu kỳ đều có độ dài như nhau. Các bảng ngày nay có các chu kỳ dài hơn tăng dần lên về về phía cuối bảng, và nhóm các nguyên tố trong các khối s, p, d và f để thể hiện sự hiểu biết của con người về cấu hình electron của chúng.

Trong các bảng in ra, mỗi nguyên tố thường được thể hiện bằng ký hiệu nguyên tố và số nguyên tử; nhiều phiên bản còn liệt kê cả nguyên tử lượng và các thông tin khác, như cấu hình electron vắn tắt của chúng, độ âm điện và các hóa trị phổ biến nhất. Vào thời điểm năm 2005, bảng tuần hoàn chứa 116 nguyên tố hóa học mà sự phát hiện ra chúng đã được xác nhận. Trong số đó, 94 nguyên tố được tìm thấy trong tự nhiên trên Trái Đất, phần còn lại là các nguyên tố tổng hợp đã được tạo ra một cách nhân tạo trong các máy gia tốc hạt.
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Chín 23, 2007, 08:00:03 PM »
Giá trị chính của bảng tuần hoàn là khả năng dự đoán các tính chất hóa học của nguyên tố, dựa trên vị trí của nó trong bảng tuần hoàn. Cũng cần lưu ý là các tính chất hóa học đó thay đổi đáng kể khi chuyển từ cột này sang cột kia hơn là khi thay đổi từ hàng này sang hàng kia.
Nhóm và chu kỳ

Nhóm

Một nhóm, còn gọi là một họ, là một cột thẳng đứng trong bảng tuần hoàn.

Các nhóm được coi là phương thức quan trọng nhất trong phân loại các nguyên tố. Trong cùng một nhóm, các nguyên tố có các tính chất rất giống nhau và thể hiện một xu hướng rõ ràng (mạnh dần lên hay yếu dần đi) trong các tính chất dọc theo chiều tăng của nhóm — các nhóm này được đặt các tên gọi chung, chẳng hạn nhóm các kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, kim loại chuyển tiếp, halogen và khí trơ. Một số nhóm trong bảng tuần hoàn thể hiện sự giống nhau ít hơn và/hoặc các xu hướng theo chiều đứng cũng ít hơn (ví dụ các nhóm 14 và 15). Các thuyết về cấu trúc nguyên tử trong cơ học lượng tử hiện đại giải thích rằng các nguyên tố trong cùng một nhóm có cấu hình electron như nhau trong lớp hóa trị của chúng, và đây là yếu tố lớn nhất trong việc xem xét sự giống nhau của chúng về các tính chất hóa học.

Chu kỳ

Một chu kỳ là một hàng ngang trong bảng tuần hoàn gồm những nguyên tố có cùng số lớp electron. Trong một chu kì theo chiều tăng của Z, bán kính nguyên tử giảm dần, độ âm điện và năng lượng ion hóa tăng dần, do đó khả năng nhường e của nguyên tố giảm, đồng thời khả năng nhận e của nguyên tố tăng dần. Do đó trong một chu kì thì tính kim loại giảm còn tính phi kim tăng dần.

Mặc dù nhóm là cách thức thông dụng nhất để phân loại các nguyên tố, nhưng ở đây có một vài vùng trong bảng tuần hoàn mà các xu hướng theo chiều ngang và sự giống nhau trong các tính chất lại là đáng kể hơn so với các xu hướng theo chiều đứng. Điều này có thể là đúng trong khối d (hay "các kim loại chuyển tiếp"), và đặc biệt là trong khối f, trong đó các nguyên tố thuộc các nhóm lanthanoid và actinoid tạo ra hai nhóm cùng gốc giống nhau một cách đáng kể theo chiều ngang. Số chu kỳ cũng chỉ ra là có bao nhiêu lớp điện tử có trong nguyên tố thuộc chu kỳ đó.
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline tuanle

  • Astatin
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 563
  • Astatin
    • Andy's Site
    • Email
Re: BẢng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười Một 06, 2007, 01:45:09 AM »
 Bảng tuần hoàn”Bảng tuần hoàn là một biểu tượng của khoa học, không chỉ đối với ngành hóa học, và đồng thời phản ánh những sự thật sâu sắc về các nguyên tố. Nó giúp đơn giản hóa việc học hóa hiệu quả. Tất cả những thông tin bạn cần đều nằm trong bảng tuần hoàn. Kiến thức như nằm im trong bảng, đợi chờ bạn đến khám phá và sử dụng hữu ích”. Sau đây là một số cột mốc đáng nhớ của quá trình hình thành và phát triển bảng tuần hoàn.

Người đóng góp: Aristotle
Thời gian: Năm 330 trước công nguyên
Những đóng góp: Học thuyết 4 yếu tố: đất, không khí, lửa và nước.
   
Người đóng góp:Antoine Lavoisier
Thời gian: 1770 đến 1789
Những đóng góp: Viết một danh sách tổng quát đầu tiên  bao gồm 33 nguyên tố. Phân biệt và chia thành 2 loại: kim loại và phi kim
Chú giải: Một vài nguyên tố của Lavoisier sau này được phát hiện là hợp chất hoặc hỗn hợp

Người đóng góp: Jons Jakob Berzelius
Thời gian: Năm 1828
Những đóng góp:Phát triển thêm bảng khối lượng các nguyên tố. Giới thiệu các chữ cái tượng trưng cho các nguyên tố.
   
Người đóng góp: Johann Dobereliner
Thời gian: Năm 1829
Những đóng góp:Phát triển các nhóm gồm có ba nguyên tố với những tính chất tương tự nhau. Li, Na và  Ka tạo thành một nhóm. Ca, Strongti và Ba tạo thành một nhóm. Cl, Br và Iốt tạo thành một nhóm.
Chú giải: Báo trước sự ra đời các khái niệm, ý tưởng về nhóm.

Người đóng góp: John Newlands
Thời gian: 1864
Những đóng góp: Có sự hiểu biết nhiều hơn về các nguyên tố (hơn 60 nguyên tố) qua việc sắp xếp theo thứ tự về khối lượng và chú ý được sự giống nhau giữa nguyên tố 1 và 9, 2 và 10,... Ông đặt ra  "Quy tắc bát tử".
Chú giải: Quy tắc bát tử của Newlands đã xác định được nhiều sự giống nhau ở giữa các nguyên tố, nhưng không dự báo trước các nguyên tố chưa tìm thấy, vì ông đã không chừa chỗ trống cho các nguyên tố này. Vì vậy, có thể nói ông là người đã tiên đoán được khái niệm chu kì.

Người đóng góp: Lothar Meyer
Thời gian: 1869
Những đóng góp: Biên soạn bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học với 56 nguyên tố sắp xếp theo khối lượng nguyên tử.
Chú giải: Meyer và Mendeleev cùng lúc đưa ra bảng hệ thống tuần hoàn của họ

Người đóng góp: Dimitri Mendeleev
Thời gian: 1869
Những đóng góp: Đưa ra bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học dựa trên khối lượng các nguyên tử nhưng sắp xếp “có tính chu kì” hơn khi các nguyên tố có cùng tính chất được đặt ngay phía dưới chất kia. Những nguyên tố chưa được tìm ra trong thời gian đó đã được để trống và những tính chất của nó được dự đoán trước (các nguyên tố như Gali, Scandi và Germani).
Chú giải: Bảng tuần hoàn của Mendeleev có tầm quan trọng vì nó giúp dự đoán trước các tính chất của nguyên tố theo "định luật tuần hoàn": tính chất của các nguyên tố thay đổi tuần hoàn với khối lượng nguyên tử của chúng.

Người đóng góp: William Ramsay
Thời gian: 1894
Những đóng góp: Khám phá ra khí hiếm
Chú giải: Năm 1894, Ramsay đã tách ra Oxi, Nito, nước và CO2 từ một mẫu không khí và khám phá ra có một khí nặng hơn Hidro 19 lần, không có phản ứng và phát ra một quang phổ chưa được biết đến. Ông gọi khí này là Argon. Năm 1895, ông khám phá ra Heli, là sản phẩm của sự phân rã Urani và có quang phổ phù hợp với quang phổ của một nguyên tố phát ra từ mặt trời được khám phá vào năm 1868 (Helios là vị thần mặt trời của Hi Lạp). Ông tiếp tục khám phá ra neon, krypton, xenon và qua đó khám phá ra sự hiện diện của một nhóm mới trong bảng Tuần hoàn. Ramsay nhận giả Nobel năm 1904.

Người đóng góp:Henry Mosele
Thời gian: 1914
Những đóng góp:Xác định được số nguyên tử của mỗi nguyên tố. Ông giúp định nghĩa thêm về định luật tuần hoàn: tính chất của các nguyên tố biến đổi tuần hoàn với số nguyên tử của chúng.
Chú giải: Sự định nghĩa thêm của Moseley về Định luật tuần hoàn đã giải thích được cách sắp xếp của các nguyên tố Te và I, tương tự với Ar và Ka, Co và Ni.

Người đóng góp: Seaborg
Thời gian: 1940
Những đóng góp: Tổng hợp thêm các nguyên tố có tính phóng xạ (nguyên tố xếp sau Urani trong bảng tuần hoàn).
Chú giải: Năm 1940, Urani được bắn phá bởi hạt nơtron trong máy gia tốc xyclotron và tạo ra Ne (Z=93). Pluto (Z= 94) được tạo ra từ Urani và đơteri (đồng vị của H). Những nguyên tố mới này là một phần của họ Actini trong bảng tuần hoàn. Seaborg nhận giải Nobel vào năm 1951

Tuanle
hoahocvietnam.com
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 06, 2007, 01:56:11 AM gửi bởi tuanle1991 »
Đăng kí thi hóa offline do H2VN tổ chức tại đây : http://community.h2vn.com/index.php/topic,12132.0.html

Hỏi đáp thắc mắc về cuộc thi tại đây : http://community.h2vn.com/index.php/topic,12131.0.html

 

Bác sĩ trực tuyến tu dien thuoc

drug dictionary thuocsi.com umeken beautiful places in the world trathuoc.com

Tư vấn