Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Hỏi đáp chung!  (Đọc 49420 lần)

0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.

Offline luckystar

  • Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng !
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 128
  • Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ !
Re: Các nguyên tắc hóa học cơ bản trong SX hóa học
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Mười 26, 2007, 09:01:41 AM »
Ngoài xúc tác hoá học còn có các xúc tác vi sinh, nét đặc biệt của xúc tác vi sinh là hoạt động ở nhiệt độ thấp và có độ chọn lọc rất cao tức là chỉ cho phản ứng diễn ra theo một chiều xác đinh, hạn chế tạo ra sản phẩm phụ. Những ngành sử dụng một lượng lớn xúc tác là sản xuất phân bón, hoá dầu và sản xuất các hợp chất cao phân tử.
Chất xúc tác dòng trong công nghiệp hoá học phải có một số đặc trưng sau:
- Hoạt độ xúc tác cao, tức là khả năng làm tăng nhanh tốc độ phản ứng hoá học.
- Độ bền hoá học, nhiệt và cơ học cao, tức là ít bị ngộ độc bởi tạp chất có trong nguyên liệu mà không bị phá huỷ khi làm việc ở nhiệt độ cao và không bị vỡ vụn khi bị va chạm.
- Có độ chọn lọc cao, tức là có khả năng điều khiển phản ứng theo chiều mong muốn, khi quá trình có nhiều phản ứng phụ.
- Có độ xốp lớn để tăng diện tích tiếp xúc giữa chất tham gia phản ứng và chất xúc tác.
- Giá thành rẻ và dễ tái sinh sau khi bị ngộ độc.
4. Tăng diện tích tiếp xúc
Có nhiều quá trình hoá học diễn ra trong hệ dị thể hoặc giữa chất rắn với chất lỏng, hoặc giữa chất lỏng với chất khí... Trong những trường hợp như vậy phản ứng hoá học diễn ra trên ranh giới tiếp xúc giữa hai pha, do đó tăng diện tích tiếp xúc giữa chúng sẽ làm tăng mạnh tốc độ của quá trình sản xuất. Các biện pháp thường áp dụng như sau:
-   Các chất rắn thường được đập, nghiền đến một kích thước nhỏ thích hợp.
-   Tăng diện tích tiếp xúc bằng cách:
+ Các chất lỏng được đưa vào thiết bị dưới dạng giọt nhỏ hoặc dòng chảy hoặc tưới chất lỏng chảy trên các vật đệm rồi chất khí đi ngược chiều với dòng chất lỏng (ví dụ: hấp thụ SO3 để chế tạo H2SO4).
+ Khuấy trộn là một biện pháp làm tăng diện tích tiếp xúc giữa các chất tham gia phản ứng. Khuấy trộn có thể thực hiện bằng các máy khuấy hoặc sục khí qua chất lỏng. Do làm tăng quá trình khuếch tán của sản phẩm ra khỏi bề mặt chất phản ứng và khuếch tán của chất phản ứng tới bề mặt ấy.
+ Làm tăng quãng đường đi, tăng tiếp xúc giữa các chất trong thiết bị bằng cách xếp các chất rắn thành nhiều lớp và cho chất khí, chất lỏng đi qua các lớp....

II. Thực hiện các quá trình liên tục tuần hoàn kín
Quá trình liên tục là những quá trình được thực hiện như sau: Nguyên liệu liên tục được đưa vào thiết bị và sản phẩm cũng được lấy ra liên tục. Quá trình sản xuất theo kiểu này chỉ ngừng lại khi có nhu cầu sửa chữa thiết bị hay vệ sinh máy móc. Điều kiện kỹ thuật sản xuất của quá trình liên tục luôn luôn ổn định ở mọi giai đoạn. Ví dụ quá trình sản xuất H2SO4, luyện gang, tổng hợp NH3, sản xuất HNO3 từ NH3 v.v...
Qúa trình liên tục ngày nay được ứng dụng rất rộng rãi trong các SXHH. Quá trình liên tục so với quá trình gián đoạn có các ưu điểm sau:
- Không có sự ngừng hoạt động của thiết bị, do đó năng suất làm việc của thiết bị cao.
- Tạo được mức độ ổn định và cân bằng của quá trình, do vậy có khả năng điều khiển được quá trình sản xuất.
- Trong các điều kiện như nhau giảm được diện tích thiết bị, giảm diện tích nhà máy do đó giảm chi phí xây dựng.
- Tạo khả năng cơ khí hoá cao quá trình sản xuất. Đối với các quá trình phản ứng chỉ đạt hiệu suất thấp nếu thực hiện một lần qua thiết bị phản ứng, thì người ta áp dụng quy trình tuần hoàn kín để sử dụng lại nguyên liệu chưa phản ứng hết. Ví dụ quá trình tổng hợp amoniac. Việc làm này không chỉ có ý nghĩa tiết kiệm nguyên liệu mà còn có tác dụng chống ô nhiễm môi trường.
-Tuy vậy sản xuất quy mô nhỏ thì quá trình gián đoạn lợi hơn về mặt kinh tế, còn với quy mô lớn thì quá trình liên tục lợi hơn.   
III. Liên hiệp giữa các xí nghiệp, giữa các ngành sản xuất có liên quan mật thiết với nhau
Trong sản xuất hoá học các ngành nói chung và các xí nghiệp nói riêng có mối liên quan hữu cơ với nhau, sản phẩm của nhà máy này là nguyên liệu cho nhà máy khác, sự phát triển của sản xuất này đòi hỏi những sản xuất khác cùng phát triển hay làm xuất hiện một sản xuất mới. Do vậy sự liên hiệp trong sản xuất hoá học là rất quan trọng. Nó hỗ trợ cho nhau phát triển, nó làm giảm bớt chi phí vận chuyển do vậy làm giảm chi phí sản xuất. ở các nước phát triển và có nền công nghiệp hoá học phát triển người ta đã xây dựng những liên hợp xí nghiệp khổng lồ.
ở nước ta, tuy nền công nghiệp hoá học của chúng ta còn rất bé nhỏ, nhưng chúng ta cũng đã có những liên hợp xí nghiệp loại nhỏ, ví dụ khu liên hiệp hoá chất Việt Trì và tương lai không xa là khu công nghiệp Dung quất-Quảng Ngãi.
IV. Cơ khí hoá và tự động hoá, điều khiển từ xa các quá trình sản xuất
Trong công nghiệp hoá học hiện đại để tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có trong thiên nhiên cũng như nhân tạo, người ta không những áp dụng các quá trình liên tục, tuần hoàn kín mà còn tìm cách cơ khí hoá, tự động hoá các quá trình sản xuất. Một đặc trưng nổi bật của công ngiệp hoá học là các phản ứng hoá học xảy ra trong các thiết bị thường ở các điều kiện nhiệt độ và áp suất cao, các điều kiện ấy lại đòi hỏi nghiêm ngặt và ổn định, do vậy con người không thể trực tiếp điều khiển các qúa trình ấy. Ngoài ra trong sản xuất hoá học các nguyên liệu cũng như các sản phẩm đều là các hoá chất có thể gây ra những tai nạn lao động và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người sản xuất. Cho nên có thể nói rằng, cơ khí hoá và tự động hoá các quá trình sản xuất hoá học là một yêu cầu khách quan không phải chỉ vì mục đích kinh tế mà còn vì an toàn đối với đời sống con người. Có thể tự động hoá từng bộ phận, từng thiết bị hoặc tự động hoá toàn bộ. Tự động hoá toàn bộ là mức độ tự động hoá cao tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất từ khâu kiểm tra, điều chỉnh chế độ làm việc của các thiết bị đến kiểm tra chất lượng sản phẩm.
Một nền sản xuất hoá học được cơ khí hoá và tự động hoá sẽ làm nhẹ và tiết kiệm lao động. Tăng năng suất lao động, tạo điều kiện giảm giá thành sản phẩm.
Ví dụ việc tự động hoá và cơ khí hoá sản xuất xôđa đã làm giảm tiêu tốn về hơi và điện xuống 50%; Việc tự động hoá các thiết bị phản ứng trong sản xuất amôniac cho khả năng làm giảm hệ số tiêu toán về nguyên liệu xuống 1% và tăng năng suất lao động lên 5%.
Ngày nay với những tiến bộ nhanh chóng của ngành máy tính điện tử, người máy đang mở ra những triển vọng rất to lớn cho việc tự động hoá các quá trình sản xuất hoá học. Dùng người máy và điều khiển từ xa con người sẽ có thể thực hiện được qúa trình sản xuất trong những điều kiện rất khắc nghiệt mà con người không thể trực tiếp kiểm tra được. Những tiến bộ nhảy vọt của ngành máy tính điện tử, người máy trong tương lai chắc chắn sẽ tạo ra những cuộc cách mạng kỹ thuật trong ngành sản xuất hoá học.
III.5. Tận dụng các chất phế thải công nghiệp, chống ô nhiễm môi trường
Trong một sản xuất hoá học bất kỳ, ngoài sản phẩm chính còn có các sản phẩm phụ mà ta gọi là phế thải của sản xuất. Các chất phế thải này có thể sinh ra ngay trong phản ứng chính hoặc do phản ứng phụ, hoặc cũng có thể do phản ứng chính không xảy ra hoàn toàn, hoặc do trong nguyên liệu ban đầu có lẫn tạp chất v.v... nói chung do kết quả tổng hợp của các yếu tố trên.
Ví dụ: Trong sản xuất axit sunfuric phản ứng chính của quá trình đốt cháy quặng pirit (4FeS2 + 11O2 = 2Fe2O3 + 8SO2) sinh ra chất phế thải là Fe2O3; quá trình làm sạch hỗn hợp khí SO2 tạo ra bụi hay xỉ cũng là những phế thải.
Việc sử dụng các phế thải sao cho có lợi về mặt kinh tế là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá một sơ đồ sản xuất có hiệu quả chống ô nhiễm cho các vùng xung quanh xí nghiệp sản xuất. Công nghệ càng kém hoàn thiện, kỹ thuật sản xuất càng thấp thì phế thải bị bỏ đi càng nhiều. Ví dụ: khí thải công nghiệp luyện kim mầu có hàm lượng SO2 thấp, trước đây người ta không sử dụng được, cho thải vào không khí đã gây bẩn môi trường xung quanh, làm hại sức khoẻ con người và thực vật. Nhưng ngày nay nhờ việc sử dụng các PP tiên tiến hơn, phần lớn các khí thải của công nghệp luyện kim màu đã được sử dụng để sản xuất H2SO4. Các xỉ của lò cao, lò hơi trước đây bỏ đi, nay cũng được sử dụng làm bê tông xỉ trong xây dựng. Xỉ lò thép Tômat chứa 22% P2O5 và xỉ của sản xuất mangan sau khi nghiền nhỏ được dùng làm phân bón rất tốt. Xỉ lò cao đốt bằng than gỗ dùng chế tạo các vật liệu cách điện có chất lượng cao. Từ bụi của quá trình đốt quặng pirit sắt và tinh chế SO2 người ta chế tạo được selen, telu. Từ bụi của sản xuất kẽm đã chế tạo được cađimi.
Để chống ô nhiễm môi trường không phải chỉ tìm cách sử dụng các phế thải mà còn phải tìm cách làm sạch các chất bỏ đi, ví dụ làm sạch các nguồn nước thải, khí thải v.v...
Nền sản xuất hoá học hiện đại dùng rất nhiều chất xúc tác quý, sau một thời gian làm việc các chất này mất hoạt tính, người ta đã tìm cách tái sinh lại để phục hồi hoạt tính của chúng và tiếp tục dùng lại trong quá trình sản xuất.
Trong sản xuất hoá học có nhiều quá trình toả ra một lượng nhiệt khá lớn, người ta cũng tìm ra cách sử dụng năng lượng này vào các việc bổ ích một cách thích hợp như sưởi ấm, sản xuất hơi nước và nước ấm cho đời sống hàng ngày.

Cộng đồng Hóa học H2VN

Re: Các nguyên tắc hóa học cơ bản trong SX hóa học
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Mười 26, 2007, 09:01:41 AM »

Offline vatly-vatly

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 7
Re: Có ai biết về dung dịch mạ Cr không vậy?
« Trả lời #31 vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2007, 06:38:06 PM »
không nên mạ crom :

hai bác ạ, không nên mạ crom nữa vì lý do an toàn y tế . Hiện có rất nhiều bệnh gây ra do crom đã được phát hiện và người ta đang tìm vật liệu thay thế

Offline tungantrung

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 11
Re: Có ai biết về dung dịch mạ Cr không vậy?
« Trả lời #32 vào lúc: Tháng Mười Một 13, 2007, 10:56:12 PM »
không nên mạ crom :

hai bác ạ, không nên mạ crom nữa vì lý do an toàn y tế . Hiện có rất nhiều bệnh gây ra do crom đã được phát hiện và người ta đang tìm vật liệu thay thế
Bác tìm được chưa ạ? Tìm rồi thì bảo em để em học hỏi vật liệu mới luôn !

Offline vatly-vatly

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 7
Re: Có ai biết về dung dịch mạ Cr không vậy?
« Trả lời #33 vào lúc: Tháng Mười Một 14, 2007, 01:21:01 PM »
 ;D

Mình giả thiết là câu hỏi của bạn là thực lòng chứ không hàm ý mỉa mai !
 :o

Theo mình biết : đã có giải pháp !
Giải pháp này không phải do mình tìm ra  :-* . Giải pháp này do cộng đồng khoa
học vật liệu tìm ra .

Chúc bạn một ngày vui.

Offline toquochuy

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 20
Nhiên liệu sinh học
« Trả lời #34 vào lúc: Tháng Mười Một 15, 2007, 01:09:43 AM »
Có ai có tài liệu về Nhiên Liệu sinh học không giúp minh với. Minh đang rất cấn  tìm về phần các ứng dụng và hiện trạng của nhiên liệu sinh học

Offline thienma

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
đầu dò NPD
« Trả lời #35 vào lúc: Tháng Mười Một 16, 2007, 07:49:30 AM »
xin giúp mình với.Mình đang thực hiện đề tài về đầu dò NPD (cấu tạo nguyên tắc hoạt động ,ứng dụng ).các bạn có tài liệu xin giúp mình với :D ;D

Offline toquochuy

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 20
Re: Nhiên liệu sinh học
« Trả lời #36 vào lúc: Tháng Mười Một 28, 2007, 10:45:20 PM »
1 . Tình hình nghiên cứu, sử dụng và su thế phát triển nhiên liệu sinh học trên thế giới.
Tháng 6 năm 2003, Hội nghị thượng đỉnh EU về năng lượng đã kêu gọi cộng đồng EU tăng cường sự dụng nhiên liệu sinh học , đến năm 2005 chiếm 2-3%, năm 2010 chiếm 5,57% và năm 2020 là 20%.
Tháng 8 năm 2004, Hội nghị các nước châu Á mở rộng tổ chức ở Thái Lan đã ra tuyên bố 8 điển về sự hợp tác chia sẻ kinh nghiệm cùng nhau phát triển nhiên liệu sinh học dùng cho giao thông vận tải.
Tại hội nghị quốc tế về năng lượng do APEC tổ chức từ ngày 27-29 tháng 4 năm 2005 tại Canada, nhiên liệu sinh học đã được chọn để sử dụng cho ngành năng lượng cũng như nganh giao thông vận tải của các nước OPEC trong lộ trình sản xuất nhiên liệu thay thế cho xăng dầu.
Việc nghiên cứu sử dụng nhiên liệu sinh học giời đã trở thành xu thể phát triển tất yếu ở nhiều quốc gia trên toàn cầu để dần thay thế cho xăng dầu trong thế kỷ mới.Dự báo ở cuối thể kỷ 21, năng lượng tái tạo (mặt trời, gió, địa nhiệt, thủy điện nhỏ, nhiên liệu sinh học) sẽ chiếm trên 50% của năng lượng thương mại.
Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, dẩm bảo an ninh năng lượng lâu dài và phát triển bền vững, nhiều quốc gia trong vòng 2-3 thập kỷ qua qua đã tập trung nghiên cứu sử dụng nhiên liệu sinh học, thay thế một phần xăng dầu tiến tới xây dựng ngành “xăng dầu sạch” ở quốc gia mình. Hiện có khoảng 50 nước trên thế giới khai thác và sử dụng nhiên liệu sinh học ở các mức độ khác nhau. Năm 2003 toàn thế giới đã sản xuất khoảng 38 tỷ lít ethanol thì đến năm 2005 đã sản xuất được 50 tỷ lít ethanol (trong đó 75% la nhiên liệu sinh học), và dự kiến đến 2012 là khoảng 80 tỷ lít ethanol. Diesel sinh học nguồn gốc động thực vật được sản xuất năm 2005 đạt 4 triệu tấn và dự kiến đến năm 2010 sẽ tăng đến 20 triệu tấn.
Braxin là quốc gia đi tiên phong trong việc sử dụng ethanol làm nhiên liệu thay thế. Từ năm 1970, để đối phó với cuộc khủng hoảng dầu mỏ, chương trình quốc gia Pro-alcohol ra đời. Ban đầu pha 5% ethanol trong xăng để tăng trị số Octan, ngày nay đã pha đến 25%. Các phương tiện vận tải của Brazil có thể dùng xăng, ethanol độc lập hoặc dùng hỗn hợp xăng ethanol. Ngoài 3 triệu ô tô chạy bằng ethanol tuyệt đối còn có 17 triệu ô tô chạy xăng pha 25% ethanol. Hàng năm sản xuất 13-14 triệu m3 ethanol dùng trong nước và xuất khẩu, tương đương với 200000 thùng dầu mỗi ngày. Cả nướccos trên 6,5 triệu ha đất trồng mía. Ngành mía –ethanol hàng năm có doanh thu trên 8 tỷ USD.
Tại Mỹ, Chính phủ nước này đã áp dụng nhiều chính sách như giảm thuế 0,5 USD/galon nhiên liệu sinh học; giảm thuế sau nhập khẩu; hỗ trrowj nhà sản xuất nhỏ. Kết quả là trong 2005, Mỹ đã sản cuất được 15 triệu m3 nhiên liệu sinh học. Hiện 30% xăng tại Mỹ được pha nhiên liệu sinh học. Chính phủ Mỹ cũng tại điều kiện phát triển công nghiệp quy mô công nghiệp tập trung tạo thành các vùng nhiên liệu đáp ứng yêu cầu sản xuất nhiên liệu sinh học.
Ở châu Âu, nhiều công ty đã nghiên cứu sản xuất diesel sinh học từ dầu đậu nành, dầu hạt cải, dầu hướng dương. Các nước Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Áo, Đan Mạch đã đầu tư rất nhiều vào các chương trình nhiên liệu sinh học.
Trung Quốc là nước nhập khẩu dầu lớn sau Mỹ, năm 2004 nhập gần 100 triệu tấn dầu thô. Hiện tại quốc gia này có khoảng 24 triệu ô tô và dự đoán đến năm 2020 có khoảng 100 triệu ô tô nên lượng xăng dầu sử dụng rất lớn. Vì vậy, nhiều năm nay đã có chương trình phát triển sản xuất ethanol từ ngũ cốc và pha 10% ethanol vào xăng. Từ năm 2002 đã thí điểm sử dụng xăng pha ethanol ở 5 thành phố: Trịnh Châu, Lạc Dương, Nam Dương tỉnh Hà Nam, Cáp Nhĩ Tân tỉnh Hắc Long Giang. Hiện tại 80% thị phần nhiên liệu xăng pha ethanol được sử dụng tại tỉnh Hắc Long Giang, Tế Lâm, Liễu Ninh và Hà Nam. Đến cuối năm 2005 có thêm 27 thành phố tại tỉnh Sơn Đông, Hồ Bắc, Giang Tô và Hà Bắc bắt buộc sử dụng xăng pha ethanol. Lượng xăng dầu sử dụng ở các khu vực thí điểm đến 25% tổng mức xăng dầu tiêu thụ quốc gia. Theo chương trình phát triển xăng pha ethanol trong kế hoạch 5 năm 2005-2010 của Ủy ban cải cách và phát triển, Trung Quốc sẽ sản xuất trên 1,1 triệu tấn ethanol mỗi năm. Nhà máy sản xuất ethanol lớn nhất thế giới công suất trên 600000 tấn/năm băt đầu hoạt động tại tỉnh Sơn Đông.
Ấn Độ là quố gia bắt buộc sử dụng thí điểm xăng chứa 5% ethanol tại 9 bang và 4 tiểu vùng kể từ ngày 1-1-2003. Các bang còn lại sẽ sử dũngawng pha ethanol ỏ giai đoạn 2. Quyết định này thể hiện nỗ lực của Chinhhs phủ Ấn Độ nhằm giảm sự phụ thuộc vạo dầu mỏ nhập từ nước ngoài (1 triệu thùng/ngày) và đem lại lợi ích cho ngành trồng mía (diện tích mía 4,6 triệu ha).
Thái Lan đã thành lập Ủy ban quốc gia về ethanol nhiên liệu để chỉ đọa thực hiện, thúc đẩy chủ trương phát triển nhiên liệu sinh học. Dự án Hoàng gia sản xuất xăng pha ethanol được triển khai từ năm 1985 với sự tham gia của các trường đại học, Viện nghiên cứu và các doanh nghiệp. Ngày 26-12-2000, Chính phủ Thái Lan đã phê duyệt chính sách xúc tiến mạnh mẽ sản xuất và sử dụng ethanol là nhiên liệu là nhiên liệu thay thế. Để phục vụ cho chương trình sản xuất và sử dụng ethanol là nhiên liệu sinh học, các chính sách nhằm tăng cường diện tích trồng mía và sắn cho sản xuất cồn đã được ban hành. Niên vụ 2002-2003, Thái Lan có khoảng 20 triệu tấn sắn tươi. Thái Lan đang phấn đấu đến năm 2015 sử dụng trên 2,5 triệu m3 ethanol chiếm khoảng 10% lượng xăng dậu sự trong nước.
Malaysia và Philipin là các quốc gia có thế mạnh về nghiên cứu và sản xuất diesel sinh học từ cây có dầu tại Đông Nam Á. Malaysia sản xuất sinh học từ dầu cọ dã có sản phẩm bán dang Châu Âu. Philipin đã ban hành Luật về nhiên liệu sinh sinh học vào ngày 12-1-2007. Theo đó, xăng và dầu diesel của Philipin sẽ pahir pha 1% nhiên liệu sinh học. Tỷ lệ pha trộn này tăng lên 2-5 % sau 2 năm và dự tính sẽ tăng lên 4% sau 4 năm.

Offline toquochuy

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 20
Nhiên liệu sinh học (tiếp)
« Trả lời #37 vào lúc: Tháng Mười Một 30, 2007, 09:37:45 AM »
2. Tình hình nghiên cứu, phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam.
2.1. Các kết quả bước đầu về nghiên cứu sử dụng nhiên liệu sinh học ở Việt Nam.
Nhu cầu sử dụng năng lượng vủa Việt Nam ngày càng gia tăng nhanh chóng, tương thích với tốc độ gia tăng kinh tế và phát triển dân số. Sản lượng năng lượng nước ta tiếp tục tăng cao. Năm 2005 dã tiêu thụ gần 27 triệu tấn dầu quy đổi, dự đoán tăng lên đến gần 37 triệu tấn vào năm 2010 và 51 triệu tấn vào năm 2020. Trong đó, ngành công nghiệp có tỷ lệ sử dụng năng lượng cao nhất cjieems 46%, vận tải chiếm 35%, thương mại dịch vụ chiếm 12%, nông nghiệp chiếm 1% và các ngành khác chiếm 6%.
Việt Nam là một nước được thiên nhiên ưu đãi, hội đủ các ngồn tài nghuyên năng lượng. Tuy nhiên, khả năng khai thác, chế biến và sử dụngnguoongjf tài nguyên năng lượng còn hạn chế. Theo phân tích tình hình kinh tế và các nguồn cung cấp năng lượng, dự kiến trong thời gian tới (đén năm 2020) nước ta tiếp tục nhập khẩu các sản phảm dầu mỏ, trong khi già dầu luôn có áp lực rất lớn đến nền kinh tế.
Để giả quyết vấn đề này, nhiều công trình nghiên cứu về nhiên liệu sinh học đã được tiến hành: ản xuất diesel từ đậu tương, vừng, dầu phế thải; sản xuất ethanol từ dỉ mật, mía, ngô, lúa, sắn,… Việc nghiên cứu và sản xuất nhiên liệu sạch sử dụng cho giao thông vận tải dã được giao cho một số cơ quan như Petrolimex, Petro Việt Nam, Đại học Kĩ thuật Đà Nẵng và đã có két quả bước đầu đáng khích lệ.
Một số cơ quan nghiên cứu, trong đó có Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh đã pha chế, thử nghiệm để chứng minh ethanol có thể thay thế xăng dùng làm nhiên liệu cho động cơ đốt trong, hoặc nghiêncwus Metyl este dùng lam diesel sinh học trong phòng thí nghiệm.
Viện nghiên cứu Rược Bia NGK cũng đã trển khai đề tài nghiên cứu sử dụng ethanol làm nhiên liệu thay thế cho một số loại động cơ và cho những kết quả khả quan về sản xuất và sử dụng loại nhiên liệu này.
Công ty APP trong vài năm gần đây dã pha chế, sử dụng sản xuất mỡ bôi trơn trên cơ sở sủ dụng dầu mỡ thực vật hóa học. Bộ khoa học và Công nghệ dã giao cho Công ty APP chủ trì đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh họccos pha ethanol và một số hợp chất có nguồn gốc thực vật”. Công ty dã nghiên cứu thành công trong phòng thí nghiệm và dang chuẩn bị thử nghiệm cho các phương tiện giao thông ở quy mô lớn.
Viện Công nghệ thực phẩm dã được giao chủ chì đề tài cấp Nhà nước nghiên cứu sản xuất ethanol nhiên liệu từ phế thải nông nghiệp enzyme và vi sinh vật.
Công ty phụ gia dầu mỏ (APP) Sài Gòn Petro, công ty CP mía đường Lam Sơn Thanh Hóa,… đã tham dự nhiều hội nghị quốc tế về nhiên liệu sinh học và có kế hoạch để pha chế thử nghiệm. tiến tới sản xuất ở quy mô phu hợp và đưa vào thử nghiệm sử dụng.

Offline toquochuy

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 20
Nhiên liệu sinh học (tiếp tiếp)
« Trả lời #38 vào lúc: Tháng Mười Một 30, 2007, 09:41:35 AM »
2.2. Tình hình sản xuất cồn nhiên liệu sinh học ở Việt Nam.
a) Sản xuất cồn từ rỉ mật.
Năm 2007, Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có nguồng nguyên liệu là 550.000 tấn rỉ mật, có thể sản xuất được 155 triệu lít cồn/năm. Các cơ sở sản xuất cồn nhiên liệu từ rỉ mật có tổng công suất là 60 triệu lít/năm, bao gồm: Lam Sơn công suất 6 triệu lít/năm, Quảng Ngãi công suất 3 triệu lít/năm, Tuy Hòa công suất 6 triệu lít/năm, Hiệp Hòa công suất 6 triệu lít/năm, Long Mỹ Phát công suất 6 triệu lít/năm, Sơn Hà công suất 6 triệu lít/năm, …
Các nhà máy cồn Lam Sơn và Tuy Hòa có công nghệ thiết bị hiện đại, hệ thốngchwng cất bao gồm 5 tháp, sản xuất cồn thực phẩm, còn các nhà máy khác tùy theo yêu cầu thị trường cung ứng các loại cồn thực phẩm, nhien liệu hoặc làm nguyên liệu để sản xuất cồn thực phẩm. Nhà máy có công suất lớn nhất là nhà máy cồn Lam Sơn thuộc công ty Cp mía đường Lam Sơn có công suất 25 triệu lít/năm, phát huy 60% công suất, do thiếu nguyên liệu. Mặt khác, việc sử lý môi trường do sản xuất cồn từ dích hèm, bã hèm cũng rất tốn kém và triệt để cũng là khó khăn cho nhà sản xuất.
Về giá, Giá thành sản xuất cồn tại các nhà máy sản xuất đường cũng thường xuyên biến động phụ thuộc vào giá mật rỉ cà chi phí nhiên vật liệu. Tuy nhiên, nếu sản xuất cồn tinh luyện giá thành bình quân khoảng 6.000 đ/lít và cồn thô khoảng 3.500 đ/lít. Có năm giá bán cồn nâng lên khoảng 7.900 đ/lít cồn tinh luyện và cồn thô vào khoảng 5.000 đ/lít. Các biệt có những năm giá bán cồn nâng lên khoảng 10.000 – 11.000 đ/lít (năm 2005) và sản lượng do các nhà máy sản xuất ra  không đáp ứng nhu cầu (chủ yếu la nhập khầu). Việc xuất khẩu cồn tập trung vào các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan.
Việc xuất khẩu cồn đã đem lại việc làm cho các đơn vị sản xuất thùng phi, lực lượng vận tại, cho thuê kho xitec tại các cảng biển.
Đối với tiêu dùng nội địa, lượng cồn sản xuất đã dáp ứng các nhu cầu cho y tế, phục vụ công nghiệp bảo quản, chế biến gỗ…
b) Sản xuất cồn từ tinh bột.
Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện có nhà mày cồn tinh luyện Xuân Lộc thuộc Tổng công ty  mía đường II, công suất 6 triệu lít/năm, công nghệ thiết bị của Hãng Tomsa (Tây Ban Nha) nguyên liệu từ Sắn của, sắn lát, ngô và thóc gạo. Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu thị trường tiêu dùng các laoij cồn thực phẩm nhiều nhưng sản xuất chưa đáp ứng do nhiều nước có nhu cầu nhập khẩu tinh bột sắn, vì vậy nguồn nguyên liệu cũng vì thế mà rất khó khăn nên gia mua nguyên liệu cho sản xuất cồn còn cao. Cả nước hiện  nay ngoại nhà máy cồn Xuân Lộc có hai nhà máy rượu Hà Nội và Bình Tây là sản xuất cồn thực phẳm nguyên liệu từ tinh bột.
Công ty Cổ phần sinh học Việt Nam đã đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất  cồn công nghiệp với công suất 66.000m3 cồn/năm tại tỉnh Đăk Lăk. Để đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định, công ty đã có kế hoạch triển khai trồng cây  tinh bột Tiboca trên 4.000 ha đất dự án.
Công ty đường Biên Hòa và công ty Fair Energy Asia Ltd của Singapo đã ký kết bản ghi nhớ ngày 15-8 hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất cồn sinh học, công suất 50.000 tấn cồn nguyên liệu/năm. Nhà máy sẽ được xây dựng tại cụm công nghiệp phái Tây sông Vàm Cỏ Đông thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh.
Công ty Petrosetco (Việt Nam) và Itochu (Nhật Bản) đang tiến hành dự án khoảng 80-100 triệu SUD để xây dựng nhà máy cồn có công xuất 100 triệu lít ethanol mỗi năm từ nguồng nguyên liệu sắn lát. Nhà máy dự định sẽ được đặt tại Khu công nghiệp Hiệp Phước, TP HCM. Dự kiến 99,8% sản phẩm sẽ được cung cấp cho thị trường để pha vào xăng sinh học.

Offline toquochuy

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 20
Re: Than hoạt tính - Cấu tạo, tính năng và tác dụng
« Trả lời #39 vào lúc: Tháng Mười Hai 02, 2007, 11:25:44 AM »
Tôi cũng đã biết cấu tạo và các tĩnh chất của thân hoaatj tính nhưng có một vấn đề mà tôi vẫn băn khoan.
 Đó là: Ở quà trình hoạt hóa.Khi Ôxy hóa tại sao nó lại tạo thành lỗ xốp mà nó không cháy từ ngoài vào trong?

Offline Công Nghệ Hóa Học

  • Chủ tịch tập đoàn LPG
  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 96
  • Heal the World - Make a better place
    • congnghehoahoc.org
Re: Than hoạt tính - Cấu tạo, tính năng và tác dụng
« Trả lời #40 vào lúc: Tháng Mười Hai 03, 2007, 09:51:27 PM »
Điều này đã được giải đáp phần nào trong quy trình hoạt hoá than. Khi ta dùng CO2 để tác dụng với C thì bản thân khí CO sinh ra đã góp phần làm xốp C hoạt tính. Nếu hoạt hoá dùng hơi nước (ở nhiệt độ khoảng 750 = 800 độ C) thì Oxy trong nước sẽ làm tác nhân cho pư cháy này và than sẽ cháy ở bề mặt tạo ra những mao quản nhỏ, sau đó than sẽ cháy dần, tức là đục sâu mao quản chứ không cháy từng lớp từ ngoài vào trong. Do phần trả lời quá ngắn nên mình không nói rõ hơn được, bạn nên tìm tài liệu chế hoá than để đọc thêm.
Thân mếm!

Offline toquochuy

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 20
Re: Than hoạt tính - Cấu tạo, tính năng và tác dụng
« Trả lời #41 vào lúc: Tháng Mười Hai 05, 2007, 10:48:01 PM »
Cảm ơn Công nghệ hóc học dã trả lời bài của tôi. Tôi sẽ tìm thêm tài liệu về than hoạt tinh để đọc.Nhưng tôi vẫn thắc mắc về sự hình thành các mao quản mà không cháy từng lớp từ ngoài vào trong. Nếu bạn có thể nói rõ hơn cho mình thì tốt biết mấy. Cảm Ơn nhiều!

Offline dinhthuyhang

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 24
Re: Than hoạt tính - Cấu tạo, tính năng và tác dụng
« Trả lời #42 vào lúc: Tháng Mười Hai 07, 2007, 09:22:38 PM »
Tớ nghe nói người ta có thể chế tạo than hoạt tính từ vỏ quả dừa. Hình như phải nấu với axit, sau đó nấu với kiềm, cuối cùng là tro hóa. Bạn nào bít rõ quy trình thì mách tớ với.
Tks

Offline hsnguyen

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 3
Re: đầu dò NPD
« Trả lời #43 vào lúc: Tháng Mười Hai 18, 2007, 05:07:09 PM »
Đầu dò FID: Toàn bộ tên tiếng anh cụ thể của loại đầu dò này là: Hydrogen Flame Ionization Detector
Nguyên tắc cụ thể của đầu dò FID là:
Đúng theo tên gọi của đầu dò, các hợp chất Hydrocarbon của bạn sau khi ra khỏi cột sẽ bị cháy trong ngọn lửa Hydo và được ion hóa tại đây. Trong từ trường áp bởi điện thế khoảng 200V, các ion này sẽ bay vào điện cực góp (có cấu trúc hình ống). Khi ion va vào điện cực góp, dòng điện rất nhỏ (khoảng nA) sẽ sinh ra. Dòng điện này sau đó sẽ được khuyếch đại lên khoảng mA (tùy thuộc vào độ nhạy mà bạn chọn). Đây chính là tín hiệu mà máy phân tích sẽ ghi lại cường độ của nó. Nói chung, trong đầu dò FID có những phần cần thiết như sau:
Đầu tiên là Ống nối cột phân tích và đầu dò FID, hay còn gọi là Glass Insert.
Trong đầu dò FID:
Điện cực góp: Hình ống (nguyên nhân của việc giảm độ nhạy của thiết bị là tại đây, sau một thời gian sử dụng các chất sẽ bám lên bề mặt trong của điện cực). Liên hệ với thầy cô để được hướng dẫn xử lý trường hợp này.
Lượng tối thiểu có thể phát hiện: 3*10^-12 g/sec (mẫu diphenyl)
Khoảng tuyến tính làm việc: 10^5
Nhiệt độ tối đa sử dụng là 399C
Bộ kích cháy (ignitor) Điện trở xoắn filament (như dây tóc bóng đèn) và 2 dòng khí: không khí và hydrogen. (Khi kích hoạt cháy cho loại đầu dò này chú ý tỉ lệ H2: Khong khí >1)
Đầu đốt: thạch anh (quarzt)
Khi chạy đường nền: biên độ dao động cho phép +-10mV (phụ thuộc vào chất lượng khí mang)
Có 3 đường khí đi vào đầu dò FID:
1)Hydrogen (nếu lấy từ bộ sinh khí Hydrogen generator phải loại ẩm)
2)Không khí (tốt nhất phải cho qua bộ Zero air để loại bỏ các hợp chất nhiễm bẩn)
3)Khí bổ trợ (make up gas) chỉ dùng với cột capillary vì thực tế khi chạy, tốc độ dòng khí mang trong cột mao quản thấp, nếu đi vào đầu dò FID đang cháy bởi dòng khí H2 và không khí sẽ tạo ra dòng chảy rối, sinh ra nhiễu (noise) lớn, giảm độ nhạy của thiết bị. Dòng khí bổ trợ này ngoài việc giảm dòng chảy rối còn có tác dụng pha loãng chất phân tích, đưa nồng độ chất phân tích phù hợp với khoảng làm việc của máy.
Và phần không thể thiếu trong đầu dò FID là khối gia nhiệt (heater block), nó có tác dụng duy trì quá trình đẳng nhiệt trong hệ thống. Bạn tưởng tượng là chất phân tích trong lò cột ở nhiệt độ cao, khi đi vào đầu dò bị nguội lạnh nó sẽ ngưng kết lại trong đầu dò nhất là tại collector electrode và nó sẽ làm giảm độ nhạy của thiết bị sau một thời gian sử dụng. Nên thông thường nhiệt độ của đầu dò luôn được chỉnh cao hơn trong lò cột để chất phân tích của bạn không bám lại trong đầu dò
Tôi suy nghĩ nên tôi tồn tại!!

Offline hsnguyen

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 3
Re: đầu dò NPD
« Trả lời #44 vào lúc: Tháng Mười Hai 18, 2007, 05:09:22 PM »
Detector NPD:Nguyen tac hoat dong cua NPD la khong dot chay mau ma chi tao truong plasma de ion hoa mau thoi ma. H2 + Air co td tao truong plasma xquanh dau bead cua detetor. ty le giua H2/air tot nhat la tu 1/20-1/30.
Tôi suy nghĩ nên tôi tồn tại!!