Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Các vấn đề trong tổng hợp hữu cơ  (Đọc 142178 lần)

0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.

Offline chemter

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 352
Các vấn đề trong tổng hợp hữu cơ
« vào lúc: Tháng Năm 19, 2006, 12:33:04 AM »

Không cần nước nóng, củi, than và điện mà vẫn có thể sưởi ấm cơ thể. Đó là chất phát nhiệt do các chuyên gia thuộc ĐH Bách Khoa HN nghiên cứu và chế tạo.

 
Túi chứa chất phát nhiệt do ĐH Bách Khoa Hà Nội nghiên cứu, chế tạo
 

Được bọc trong những túi vải nhỏ, chất phát nhiệt này đặc biệt hữu dụng trong gia đình, bệnh viện, trong du lịch, thể thao, quốc phòng vì không phụ thuộc vào các nguồn năng lượng khác khi cần dùng ngay...

Theo Chủ nhiệm đề tài Nguyễn Dũng, Bộ môn Hoá hữu cơ (Khoa Công nghệ Hoá học), vật liệu phát nhiệt nói trên thực ra là một hỗn hợp bột kim loại với kích thước hạt nhỏ hơn 0,1mm, rẻ tiền và sẵn có tại Việt Nam.

Khi cần sưởi ấm hoặc chườm nóng một vùng nào đó của cơ thể, chẳng hạn bàn chân trong thời tiết lạnh giá, chỉ cần xé bao bì bảo vệ, lấy ra gói vải chứa bột kim loại rồi bỏ vào trong giày. Còn nếu muốn chườm nóng ở một vị trí trên cánh tay thì chỉ cần dùng băng dính để gắn túi vào vùng đó.

Khi tiếp xúc với không khí bên ngoài bao bì, hỗn hợp bột kim loại trong túi vải dễ dàng phản ứng với oxy và toả ra một lượng nhiệt đủ để chườm nóng và sưởi ấm vùng cơ thể đó. Vật liệu trên phát nhiệt tại nhiệt độ 42-45 độ C trong thời gian 4-6 giờ và chỉ dùng một lần.

Đây là phương trình phản ứng: Hỗn hợp bột kim loại X + O2 → Q (nhiệt lượng)

Hiện nhóm nghiên cứu đang hoàn chỉnh công nghệ tổng hợp vật liệu phát nhiệt này, tiến tới sản xuất ở quy mô thử nghiệm và đăng ký giải pháp hữu ích nhằm đưa vật liệu này thành sản phẩm hàng hoá phục vụ đời sống.

Ông Dũng cho biết đây là lần đầu tiên loại vật liệu phát nhiệt như vậy được chế tạo tại VN. Do được tổng hợp ở dạng khô nên dễ bảo quản, tiện lợi và không độc hại. Hiện hãng Kurashi Moa của Nhật Bản cũng có sản xuất loại hàng hoá này mang tên Kairo mini, dùng để sưởi ấm hoặc chườm nóng.

Minh Sơn


Cộng đồng Hóa học H2VN

Các vấn đề trong tổng hợp hữu cơ
« vào lúc: Tháng Năm 19, 2006, 12:33:04 AM »

Offline garfield

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 10
Các vấn đề trong tổng hợp hữu cơ
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Sáu 27, 2006, 12:15:25 PM »
Theo minh duoc biet Ionic liquids  (ILs) hien nay dang rat duoc quan tam va su dung nhu mot dung moi thay the cho cac loai dung moi huu co thong dung. Minh rat muon tim hieu them ve ILs, neu co anh chi nao biet thi vui long chia se voi minh nha! Thanks!

Offline cunu

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 11
Re: Ionic Liquids
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Sáu 27, 2006, 01:04:33 PM »
garfield à.
mình có tìm trên Google thấy có rất nhiều tài liệu về ILs đấy.
mình trích bài này, thấy nó cơ bản, có gì tụi mình bàn luận thêm nhé.
con chuyện này nũa, mình chưa dịch bài qua tiếng Việt, mọi người chịu khó đọc bằng tiếng Anh vậy.

Ionic Liquids

What are ionic liquids?
Ionic liquids are organic salts with melting points under 100 degrees, often even lower than room temperature. Recently they are employed more and more as substitute for the traditional organic solvents in chemical reactions. The most common ones are imidazolium and pyridinium derivatives, but also phosphonium or tetralkylammonium compounds can be used for this purpose. Lately, we have introduced the environmental friendly halogen-free ionic liquids .

What are their properties?
Very good dissolution properties for most organic and inorganic compounds
High thermal stability
No measurable vapor pressure
Non-flammable

What are their applications?
As solvent for synthetic and catalytic purposes, for example Diels-Alder cycloaddition reactions, Friedel-Craft acylation and alkylation, hydrogenation and oxidation reactions and Heck reactions.
As biphasic system in combination with an organic solvent or water in extraction and separation technologies.
As catalyst immobilization without need of special functionalization for the easy recycling of homogeneous catalysts.[4]
As electrolytes in electrochemistry.

What are their advantages?
Optimization of compound characteristics through a broad choice of anion and cation combination (tailor-made solvents).
Reaction rate enhancement, higher selectivities as well as higher yields.
Used as replacement for Volatile Organic Compounds (VOC) in chemical processes or extractions procedures.

References:
P. Wasserscheid, W. Keim Angew. Chem. 2000, 112, 3926-3945, Int. Ed. 2000, 39, 3772-3789.
T. Welton Chem. Rev. 1999, 99, 2071-2083.
R. Sheldon Chem. Commun. 2001, 2399-2407.
J. Dupont, R.F. de Souza, P.A.Z. Suarez Chem. Rev. 2002, 102, 3667-3692.

(ST)
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 27, 2006, 01:17:50 PM gửi bởi cunu »

Offline cunu

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 11
Re: Ionic Liquids
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Sáu 27, 2006, 01:15:01 PM »
     
What are Ionic Liquids?

Ionic liquids are highly solvating, non-coordinating medium in which a variety of organic and inorganic solutes are able to dissolve.  They are outstanding good solvents for a variety of compounds, and their lack of a measurable vapour pressure makes them a desirable substitute for VOCs.  Ionic liquids are attractive solvents as they are non-volatile, non-flammable, have a high thermal stability  and are relatively inexpensive to manufacture. They usually exist as liquids well below room temperature up to a temperature as high as 200oC.

The key point about ionic liquids is that they are liquid salts, which means they consist of a salt that exists in the liquid phase and have to be manufactured, they are not simply salts dissolved in liquid.   Usually one or both of the ions is particularly large and the cation has a low degree of symmetry results, these factors result in ionic liquids having a reduced lattice energy and hence lower melting points.

The first room temperature ionic liquid [EtNH3] [NO3], was discovered in 1914 but this did not initiate a huge amount of interest in ionic liquids until the development of binary ionic liquids from mixtures of aluminium (III) chloride and N-alkylpyridinium or 1,3-dialkylimidazolium chloride.

Examples of an alkylpyridinium cation is shown below:

             

Examples of dialkylimidazolium cations are shown below:

                   

Problems with Ionic Liquids:

Extracting the chemical product from the ionic liquid in pure form can pose a problem.  Water soluble compounds can easily be extracted with water and distillation can be used to separate compounds with high vapour pressure, however higher temperatures would be required to extract chemical products with low vapour pressures which will most likely result in the decomposition of the chemical product.

(ST)
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 27, 2006, 01:18:41 PM gửi bởi cunu »

Offline garfield

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 10
Re: Ionic Liquids
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Bảy 01, 2006, 01:04:28 PM »
Cam on ban cunu vi da chia se thong tin ve ILs voi  moi nguoi. Ban post bai bang tieng Anh cung duoc, khong sao ca. May hom nay minh cung tim hieu nhieu ve ILs tren mang va minh dang co y dinh se nghien cuu ve hop chat nay. Minh cam thay linh vuc nay kha hay va hinh nhu o VN rat it nguoi biet den. Neu ban thay co hung thu thi tui minh cung nhau chia se thong tin voi nhau hen! A, minh khong hieu sao may minh khong go tieng Viet duoc, nen ban thong cam nha!

Offline cunu

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 11
Re: Ionic Liquids
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Bảy 02, 2006, 01:49:47 AM »
garfield à, cho minh hỏi thăm: bạn đang làm gì mà quan tâm tới lĩnh vực này vậy.

Offline garfield

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 10
Re: Ionic Liquids
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Bảy 05, 2006, 10:32:18 AM »
Minh a', minh chi la sinh vien thui a`!!!~~

Offline NguyenDinhQuan

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 10
Hồi âm: Ionic Liquids
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Bảy 19, 2006, 03:28:50 PM »
Tôi xin được trình bày về chủ đề này dựa trên những hiểu biết và ghi nhớ vốn có , thời gian và điều kiện có hạn nên nếu có sai sót mong các bạn đóng góp ý kiến . Tôi sẽ bổ sung từ từ các bài báo khoa học và hình vẽ liên quan nếu các bạn cần tìm hiểu rõ hơn .

Ionic Liquid (IL) có thể dịch sang tiếng Việt là "chất lỏng ion" . Sở dĩ gọi như thế vì khác với các chất lỏng khác trong tự nhiên , IL là muối dạng lỏng ở điều kiện thường (quy định là <100oC) cấu thành bởi các cations (ion dương) và anion (ion âm) .

1/ Tính chất của Ionic Liquids :

Do đặc tính này , IL có những tính chất đặc biệt sau đây :

- Gần như không tồn tại áp suất hơi . Như các bạn cũng biết , ILs là muối dạng lỏng , cho nên các ion âm và dương tương tác với nhau rất mạnh , không tách ra khỏi pha lỏng ở điều kiện thông thường . Và hầu hết các ILs là muối hữu cơ có điểm phân hủy nhiều lắm là 300-350oC , nếu tiếp tục gia nhiệt thì muối sẽ phân hủy chứ không bay hơi .

- ILs có độ dẫn ion khá cao , ở nhiệt độ 25oC , các ILs có nhân cation (core) là 1,3-dialkyl-imidazolium có thể có độ dẫn ion khoảng vài chục mS/cm (Simend là đơn vị nghịch đảo của đơn vị điện trở kháng Ohm) .

- ILs là muối , cũng như nhiều muối hữu cơ khác , nhưng có khả năng hòa tan trong rất nhiều dung môi hữu cơ phân cực . Một số ILs hòa tan rất tốt trong nước , một số khác kỵ nước (hydrophobic) . Chính vì thế, tùy theo lựa chọn, ILs được sử dụng như dung môi cho nhiều phản ứng đặc biệt . Nhiều phản ứng cổ điển vốn đã biết khi khảo sát sử dụng ILs thì hiệu suất tăng lên đáng kể có khi đến 100% , ví dụ như phản ứng của CO2 với Alkylene Oxide sản xuất Alkylene Carbonate (một hợp chất có nhiều ứng dụng). ILs còn có tác dụng như xúc tác pha dẫn . Ví dụ như để có alkyl nitrile (CnHmCN) , ta có thể cho alkyl halogen (CnHmX) (X=Cl , Br, I) tác dụng với NaCN . Ai cũng biết rằng một bên là chất hữu cơ không tan trong nước , cho nên không thể xảy ra phản ứng trao đổi giữa nhóm thế halogen và anion CN- , nhưng nếu ta thêm vào hỗn hợp một lượng muối hữu cơ , ví dụ ammonium chloride, thì phản ứng sẽ xảy ra . Trong trường hợp này , muối hữu cơ ammonium là "cầu nối" tiếp xúc cho hai tác nhân khác nhau nằm trong hai pha lỏng .

ILs khá bền nhiệt mà lại không bay hơi trong điều kiện 2-300oC , đó là tiêu chuẩn lý tưởng để ILs trở thành một dung môi an toàn cho môi trường (green solvents)

2/ Cấu trúc của ILs [/b]

Dựa trên phân loại cations, thì ILs có 3 nhóm chính :

- Nhóm quaternary ammonium cation , đây là nhóm phổ biến nhất gồm các loại cation như imidazolium , morpholinium , pyrrolidinium , pipperidinium , ammonium , piperazinium , pyridinium ... Ở trạng thái hóa trị 3 , nitrogen vẫn còn một cặp electron nên trở thành một electron donor có khả năng phản ứng với các tác nhân nucleophilic để hình thành nitrogen mang điện tích dương .

- Nhóm phosphonium cation với nguyên tử mang điện dương là phospho (P) .

- Nhóm sulphonium cation với nguyên tử mang điện dương là nguyên tử lưu huỳnh (S)

Dựa trên phân loại anion thì ILs vô cùng đa dạng : acetate (CH3COO-) , trìluoro-acetate (CF3COO- ) , bis(trifluoromethanesulfonyl)imide ( CF3SO2)2N- ) hay viết tắt là TFSI hoặc NTf2, hexafluorophosphate (PF6- ) , tetrafluoroborate (BF4) , trifluoromethanesulfonate hay còn gọi là tripflet Tf3 (CF3SO3- ) ...

3/ Những dẫn xuất ILs đặc biệt : [/b]

a/ Muối Lithium lỏng :

Sở dĩ ILs là muối nhưng có dạng lỏng là bởi vì điện tích trên cation và anion bị phân bổ (delocalized ) . Điều này khiến cho tương tác tĩnh điện giữa anion và cation không đủ mạnh để tạo thành liên kết tinh thể ở nhiệt độ thường . Vì thế mà muối hữu cơ loại này có dạng lỏng .

Năm 2003 , giáo sư Watanabe , một chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu ứng dụng ILs thành chất dẫn ion cho các thiết bị năng lượng (pin - primary battery , pin nhiên liệu - fuel cell , pin sạc - secondary battery , pin năng lượng mặt trời - solar cell) và nhóm thí nghiệm tại ĐH Yokohama đã tổng hợp một loại ILs có cation là Lithium . Các bạn cũng biết , Lithium là nguyên tử kim loại nhỏ nhất , cho nên mật độ điện tích rất cao . Thế nhưng , GSư  Watanabe đã thiết kế cho anion của muối Lithium là một anion có kích thước rất lớn với nguyên tử mang điện âm là boran . Đó là một phát minh gây chấn động trong giới nghiên cứu pin lithium bởi vì nếu có thể áp dụng muối ILs này vào làm chất dẫn ion lithium trong pin thì thật lý tưởng ,giải quyết được bao nhiêu vấn đề (an toàn cháy nổ , hiệu suất phóng - nạp , tuổi thọ pin ) ... Vậy nhưng tiếc thay , độ dẫn ion lại rất kém nên không ứng dụng được như mong đợi . Dẫu sao , loại ionic liquid có cation là lithium này cũng là một phát minh hiếm có trong lĩnh vực ILs .

b/ Zwitterionic Liquid :

Trong quá trình tìm cách ứng dụng ILs như là chất dẫn ion vào các thiết bị năng lượng , ví dụ pin lithium , người ta khám phá ra một trở ngại rất lớn : sự cạnh tranh giữa hai cation , một là cation lithium , hai là cation của IL . Vì cation của IL có kích thước lớn , điện tích phân bố , nên dưới tác dụng điện trường , nó di chuyển và tiếp cận điện cực tốt hơn rất nhiều ion lithium (target cation) . Kết quả là trong ILs , độ dẫn của cation lithium vô cùng thấp , mặc dù tổng độ dẫn ion của hệ vẫn là rất cao .

Giáo sư Ohno của đại học Tokyo đã phát minh ra một loại muối hữu cơ có cation và anion liên kết hữu cơ với nhau trong một phân tử . Ông gọi muối này là zwitterionic compounds .

Tiếp theo đó , Ohno phát hiện ra là nếu cho zwitterionic compound tạo phức với muối lithium bis-trifluoromethanesulfonyl-imide thì một số phức sẽ ở dạng lỏng gọi là zwitterionic liquids . Thật sự đây là một muối kép trong đó một đơn vị được coi như một phân tử trung hòa bao gồm cation lithium và anion TFSI liên kết quanh zwitterionic .

Tại Úc , giáo sư Maria Forsyth cùng nhóm của bà liên tiếp công bố những ứng dụng của zwitterionic compound vào pin lithium kim loại cũng như các polymer electrolyte (chất dẫn ion dạng polymer hoặc polymer gel) . Zwitterionic compound có tác dụng tăng cường độ phân ly của lithium và anion trong muối tương ứng , khiến độ dẫn lithium cation trong hệ thống tăng lên đáng kể .

Tại Korea , Giáo sư Kim Hoon-sik (ĐH Kyunghee) cũng góp phần đáng kể vào ứng dụng zwitterionic compound . Ông phát hiện ra rằng muối bạc nitrate (AgNO3) có thể tạo phức với 1,3-(N propane sulfonate)-methyl-imidazolium và phức này nâng cao khả năng chọn lọc phân tách olefin và parafin có cùng số C của công nghệ màng muối bạc (membrane) .

--------------------

Những nghiên cứu về Ionic Liquids trong chừng 10 năm trở lại đây trở thành một đề tài nóng trong ngành hóa và công nghệ hóa khắp nơi trên thế giới . Vẫn còn đó rất nhiều "đất" để khám phá ra những ứng dụng của ILs , bên cạnh đó, lĩnh vực thiết kế và tổng hợp các loại ILs mới có tính chất đặc biệt là rất phong phú và đa dạng .
« Sửa lần cuối: Tháng Bảy 19, 2006, 03:39:59 PM gửi bởi NguyenDinhQuan »

Offline garfield

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 10
Hồi âm: Ionic Liquids
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Bảy 19, 2006, 04:07:21 PM »
xin cảm ơn anh NguyenDinhQuan, đọc bài viết của anh, em biết anh có vốn kiến thức khá rộng về ionic liquids. Nhân tiện, anh có thể giải thích rõ hơn cho em về tính ưa nước và kị nước của ionic liquids được không anh? ví dụ như giữa imidazolium, pyridinium, pyrrolidinium,... thì cái nào là ưa nước, cái nào kị nước ạ?

Offline NguyenDinhQuan

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 10
Hồi âm: Ionic Liquids
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Bảy 19, 2006, 04:40:25 PM »
Cám ơn bạn Garfield . Thật ra ILs là muối thì lẽ tất nhiên phải hòa tan trong nước hoặc ít nhất là không kỵ nước . Những ILs bạn vừa liệt kê cation đều là những muối ammonium và do đó tính kỵ nước không nằm trong cấu trúc của cation . Sở dĩ một số ILs kỵ nước là do cấu trúc của anion . Thông thường những anion có độ phân bổ điện tử rộng (kích thước lớn) và có nhiều nguyên tử fluor như TFSI (bis-trifluorosulfonyl imide) thì đều làm cho ILs kỵ nước .

ILs phổ biến được nhắc đến có anion là PF6- , BF4- và TFSI-- . Trong 3 loại này , BF4- tan được trong nước , PF6- tan có giới hạn (ít) trong nước , còn TFSI thì hoàn toàn không tan trong nước (hoặc tan rất ít ) .

Để thấy được điều này , ta hòa tan dung dịch aqueous của muối LiTFSI và EmimCl (1,3-ethyl-methyl-imidazolium chloride) vào nhau và khuấy . Một lúc sau hỗn hợp sẽ tách hai pha lỏng . Pha lỏng phía dưới là EmimTFSI và pha lỏng phía trên là dung dịch LiCl .

( Lại có câu hỏi là nếu mình nói do anion làm kỵ nước thì sao LiTFSI lại tan trong nước ? Đây là câu hỏi khá hay và câu trả lời là vì Li+ là canion có kích thước nhỏ , mật độ điện tử lớn nên bị hydrate hóa mạnh trong dung dịch nước , khiến cho liên kết Li và anion TFSI bị tan rã và cả hai cation Li và anion TFSI đều đi vào dung dịch nước . Còn trong trường hợp EmimTFSI , cả hai đều có kích thước đủ lớn để năng lượng hydrate hóa thấp hơn năng lượng liên kết ion , khiến cho muối EmimTFSI tách pha khỏi nước . )

Mình cũng có câu hỏi để chúng ta cùng suy nghĩ : vì sao nguyên tố fluor lại làm tăng tính kỵ nước của các hợp chất ?
« Sửa lần cuối: Tháng Bảy 19, 2006, 04:42:19 PM gửi bởi NguyenDinhQuan »

Offline hongchuyen

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 171
  • Sống trong đời sống cần có một tấm lòng...
Hồi âm: Ionic Liquids
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Bảy 21, 2006, 05:45:53 PM »
Câu hỏi thật khó !!!
Theo em, nghĩ cho cùng thì đây cũng rút cục là khả năng làm thay đổi tính solvat của hợp chất. Từ một hợp chất bị solvat nhiều ---> tính hoạt động hóa học kém, chuyển sang một dung môi mới có khả năng solvat yếu hơn ----> hoạt động hơn. Nói như vậy thì có vẻ như là rất giống với xúc tác chuyển pha - phases tranfer catalytic phải không anh "lovenico" ???. Mặc dù có nhiều xúc tác chuyển pha là ILs, nhưng nói một cách rõ ràng thì tất cả ILs có phải là PTCs hay không ? hay ngược lại ?
Tất cả những ions anh đưa ra đều khá lạ và ít phổ thông !!!  Một số rất ít trong số đó được nhắc đến trong Francis Carey's, và như ông ấy đã từng nói " ILs sẽ không là ILs nếu không có nước".
Anh Quan tiếp tục giảng đi, em thấy chủ đề này vô cùng thú vị.
Cám ơn anh.
You may fall on a hill, You may fall on a mountain, but the biggest fall You'll ever make is when You fall in love.

Offline i_love_chemistry

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
Thắc mắc - Nhóm chức nào đã tham gia phản ứng?
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Bảy 22, 2006, 09:36:36 AM »
Thành phần chủ yếu của tinh dầu dương cam cúc gồm chamazulene với hàm lượng 1 - 15%, trung bình 6%, các terpen hydrocacbon, apigenin, sesquiterpen ( farnesen, cardinen ) sesquiterpen alcol ( bisabolol ), một alcol ceton chưa no C15H24O2, oxid bisabolol C15H26O2, furfural và parafin.

Khi định tính bằng phản ứng hóa học tinh dầu dương cam cúc theo các bước sau:

[ Hòa tan 0.25 g dimethylaminobenzaldehyde trong 5 mL acid phosphoric, 45 mL acid acetic và 45 mL nước.
Chuyển 2.5 mL của dung dịch này và 0.1 mL của dung dịch thử cho vào ống nghiệm.
Đun cách thủy trong 2 phút, làm lạnh.
Thêm 5 mL dung môi hexan lắc đều, lớp nước có màu xanh rin hoặc xanh da trời rõ ràng. ]

Không rõ thành phần nào của dương cam cúc đã tham gia phản ứng này tạo ra lớp nước có màu xanh.

Các bạn có ý kiến gì thì cho mình biết với, cảm ơn rất nhiều.

Offline NguyenDinhQuan

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 10
Hồi âm: Ionic Liquids
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Bảy 24, 2006, 06:13:59 PM »
Cám ơn bạn hongchuyen . Đúng như câu hỏi của hongchuyen rằng ILs là phase-transfer catalyst , tạm dịch là "xúc tác giao pha" thì chính xác hơn là "chuyển pha" , nhưng liệu có phải ILs nào cũng có thể làm chức năng đó hay không .

Xúc tác giao pha trên nguyên tắc là "cầu nối" cho những phần tử thuộc hai pha khác nhau có thể tiếp xúc với nhau thông qua liên kết tương tác với xúc tác . Vậy thì mặc dù ILs có khả năng hòa tan rất nhiều hợp chất hữu cơ cũng như cả vô cơ , nhưng khi gặp giới hạn thì không đóng vai trò xúc tác giao pha được . Lấy lại ví dụ cổ điển trong sách Organic Chemistry của nhà xuất bản Wiley (tổng hợp hợp chất nitrile từ alkyl halogen) , thì chỉ những muối hữu cơ (muối rắn cũng như ILs) chỉ có thể làm xúc tác giao pha nếu muối này tan được trong nước lẫn trong dung môi hữu cơ . Còn nếu ta dùng những ILs không tan trong nước thì chắc chắn là phản ứng sẽ không xảy ra hoặc xảy ra với hiệu suất rất thấp .

Câu nói của Francis Carey's mà hongchuyen trích dẫn tôi chưa đọc sách này nên không biết . Tuy nhiên thật sự là mình không hiểu vì sao tác giả phát biểu như vậy . Trong định nghĩa về ILs thì đó là "molten salts at ambient temperature" tức là "muối dạng lỏng ở nhiệt độ thường" , tức là không có gì liên quan đến nước hoặc trạng thái solvation cả !

Nếu sách của Francis là một cuốn sách giáo khoa cổ điển thì rất có khả năng tác giả không đưa cập nhật về ILs , một khái niệm chỉ bắt đầu phổ biến vào khoảng thập niên 1950s với ILs đầu tiên là tetraalkylammonium alluminium tetrachloride (R4N+ AlCl-4).

« Sửa lần cuối: Tháng Bảy 24, 2006, 06:17:18 PM gửi bởi NguyenDinhQuan »

Offline hoakhtn

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 6
Hồi âm: Ionic Liquids
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2006, 10:16:16 AM »
cảm ơn anh NguyenDinhQuan nhiều, đọc thích quá, chắc anh am hiểu nhiều "chất lỏng ion" lắm nhỉ, nhờ anh hươngs dẫn thêm cho tụi em được biết thêm nữa nhé

Offline lmqcuong

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 101
Tổng hợp hữu cơ bằng DMC
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Tám 07, 2006, 11:21:33 PM »
      Carbonat dimemetil (DMC) là một hóa chất ít độc hại, an toàn khi sử dụng, được điều chế từ qui trình sạch và dễ dàng phân hủy sinh học. Đây là một hóa chất rất thân thiện với môi trường. Chính vì vậy DMC được sử dụng nhiều trong tổng hợp hữu cơ chẳng hạn như trong phản ứng metil hóa, phản ứng Metoxicarbonil hóa, nó có thể thay thế một số tác nhân metil hóa cổ điển nhiều độc hại và không an toàn, sản phẩm thu được sau khi phản ứng với DMC có tính chọn lọc cao và tránh được sự hình thành sản phẩm phụ. Ngoài ra, DMC còn được sử dụng làm dung môi trong tổng hợp hữu cơ.
      Một số phản ứng sử dụng DMC như phản ứng O-metil hóa, N-metil hóa, C-metil hóa,metoxicarbonil hóa.
      Đây là hóa chất rất có triển vọng trong tổng hợp hữu cơ.
      -----------------------------
      Đấy chỉ là những hiểu biết nhhỏ của mình về phương pháp tổng hợp mới này.Nếu có ý kiến thắc mắc hay đóng góp gì thì mình cùng nhau thảo luận nhé. :)