Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Kiến thức về Hóa dầu  (Đọc 65650 lần)

0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.

Offline tinhnguyenvien_0525

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 54
    • http://360.yahoo.com/tinhnguyenvien_0525
Dung Quat
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Sáu 05, 2007, 01:41:02 PM »
Nhà máy lọc dầu Dung Quát đang đẩy mạnh tiến độ thi công. Mặt dù đang có vẻ hơi chậm tiến độ nhưng tôi tin rằng nó sẽ hoàn thành được kế hoạch.Và sớm đưa vào hoạt động nhằm thúc đẩy nền kinh tế khu vực Nam Trung Bộ và Của cả nước phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Để biết thêm thông tin về khu kinh tế Dung Quất hãy vô trang này nhé
http://www.dungquat.com.vn
tinhnguyenvien
"Mọi chuyện sẽ tốt đẹp nếu chúng ta có lòng quyết tâm và ý chí vươn lên trong cuộc sống"

Cộng đồng Hóa học H2VN

Dung Quat
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Sáu 05, 2007, 01:41:02 PM »

Offline tinhnguyenvien_0525

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 54
    • http://360.yahoo.com/tinhnguyenvien_0525
Thành phần hoá học của xăng
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Sáu 07, 2007, 01:47:46 AM »
Thành phần hóa học của xăng rất phức tạp. Và khi nghiên cứu về thành phần hoá học của dầu mỏ cũng như các phân đoạn hay sản phẩm của nó thì người ta thường chia thành phần chúng ra làm hai phần chính là hydrocacbon và phi hydrocacbon.
1. Thành phần hydrocacbon của xăng
a.Họ parafinic
     Công thức hóa học chung là CnH2n+2, bao gồm các chất có số nguyên tử như đã nêu trên, chúng tồn tại dưới 2 dạng: mạch thẳng (n-parafin) và mạch phân nhánh (i-parafin), với các isoparaffin thì mạch chính dài, mạch nhánh ngắn, chủ yếu là gốc metyl.
b.Olefin
    Các hydrocacbon olefine có công thức chung là CnH2n, được tạo thành từ các quá trình chuyển hóa, đặc biệt là quá trình cracking, giảm nhớt, cốc hoá . . . Các olefine này cũng bao gồmhai loại n-parafin và iso-parafin.
c.Họ naphtenic
   Hydrocacbon naphtenic là các hydrocacbon mạch vòng no với công thức chung là: CnH2n và các vòng này thường 5 hoặc 6 cạnh, các vòng có thể có nhánh hoặc không có nhánh, hàm lượng của họ này chiếm một số lượng tương đối lớn, trong đó các hợp chất đứng đầu dãy thường ít hơn các đồng đẳng của nó, những đồng phân này thường có nhiều nhánh và nhánh lại rất ngắn chủ yếu là gốc metyl (-CH3)
d.Họ aromatic
     Các hợp chất này trong xăng thường chiếm một hàm lượng nhỏ nhất trong ba họ và các hợp chất đầu dãy cũng ít hơn các hợp chất đồng đẳng của nó.
2. Thành phần phi hydrocacbon của xăng
     Trong xăng, ngoài các hợp chất hydrocacbon kể trên còn có các hợp chất phi hydrocacbon như các hợp chất của oxy, nitơ, lưu huỳnh. Trong các hợp chất này thì người ta quan tâm nhiều đến các hợp chất của lưu huỳnh vì tính ăn mòn và ô nhiễm môi trường.
      Trong xăng, lưu huỳnh chủ yếu tồn tại chủ yếu ở dạng mercaptan (RSH), hàm lượng của nó phụ thuộc vào nguồn gốc của dầu thô có chứa ít hay nhiều lưu huỳnh và hiệu quả quá trình xử lý HDS.
Các hợp chất của các nguyên tử khác có hàm lượng chủ yếu ở dạng vết, trong đó nitơ tồn tại chủ yếu ở dạng pyridin còn các hợp chất của oxy thì rất ít và chúng thường ở dạng phenol và đồng đẳng.
tinhnguyenvien
"Mọi chuyện sẽ tốt đẹp nếu chúng ta có lòng quyết tâm và ý chí vươn lên trong cuộc sống"

Offline tinhnguyenvien_0525

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 54
    • http://360.yahoo.com/tinhnguyenvien_0525
Re: Nhà máy lọc dầu dung quất (hoada_0525) --> edit chemter
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2007, 06:42:18 PM »
Nhà máy trong giai đoạn đẩy mạnh tốc độ thu công. Mình tin tửong nhất định nó sẽ được vận hành đúng dự kiến!
tinhnguyenvien
"Mọi chuyện sẽ tốt đẹp nếu chúng ta có lòng quyết tâm và ý chí vươn lên trong cuộc sống"

Offline minh27

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 9
Re: Nhà máy lọc dầu dung quất (hoada_0525) --> edit chemter
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Chín 19, 2007, 03:25:31 PM »
nhà máy lọc dầu Dung Quất , theo ý kiến đánh giá của nhiều người, không kinh tế tí nào ! thế này nhá, nó không gần nguồn dầu của nước ta, biển lại nông, mà khu vực miền Trung năm nào cũng có bão to. Dự án được điều chỉnh nhiều quá, tiền tăng cứ vòn vọt. Khi nó xây xong, dân ta vẫn phải mua xăng dắt do khấu hao.

Offline quatest1

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 16
Phòng thử nghiệm Xăng - Dầu khí
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Mười 24, 2007, 09:22:19 PM »

Phòng thử nghiệm Xăng - Dầu khí

 

Lĩnh vực hoạt động của phòng:

Kiểm nghiệm chất lượng của sản phẩm Xăng và Dầu

 

Các trang thiết bị chính:

- Thiết bị xác định trị số Octan: Waukesha Dreser CFR F-2U (theo ASTM D2699)

-  Thiết bị chưng cất tự động: TANAKA AD-6 (theo D86)

- Thiết bị xác định áp suất hơi nước bão hòa: KOEHLER (theo D323)

- Thiết bị đo độ ổn định Oxy hóa của xăng: KOEHLER (theo D525)

- Thiết bị kiểm tra độ ăn mòn tấm đồng: KOEHLER (theo D130)

- Thiết bị xác định S và Pb: OXFORD LAB- X3500 (theo D4294)

- Dụng cụ đo tỷ trọng: AMARELL (theo D287)

Offline [Dr.].Tung

  • programmer
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • programmer
Kiến thức về Hóa dầu
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Mười Hai 08, 2007, 12:56:01 PM »
I. Thành phần của dầu mỏ & khí thiên nhiên :

              Khí thiên nhiên chủ yếu là khí Metan chiếm 94 - 98% thể tích ;Các Parafin có mạch Cacbon từ  C2 ® C5 thuộc loại khí dầu mỏ , ngoài ra khí thiên nhiên còn có 2 loại khí khác :

        -   Khí đồng hành là khí trong các mỏ dầu :ngoài Metan chủ yếu còn có các hyđrocacbon khác từ C2 ® C5 (khí đồng hành có sẵn trên bề mặt của dầu).

        -   Khi chế biến ,dầu mỏ được tạo thành trong quá trình chế biến gồm :các hyđrocacbon khong no là những nguyên liệu quí trong công nghiệp tổng hợp hữu cơ.

      Ngoài các thành phần trên còn có :Hyđro ,các hợp chất có hại (các hợp chất của lưu huỳnh) ,CO2 ,N2 ,hơi ẩm.

      * Thành phần của dầu : chủ yếu là các hyđrocacbon , ngoài ra còn có nhựa ,các chất hữu cơ chứa lưu huỳnh ,nitơ và các tạp chất vô cơ khác.

    -  Hyđrocacbon của dầu mỏ có thành phần rất pức tạp , chủ yếu gồm 3 loại no , naphten , vòng thơm .Chúng có nhiều đồng phân.

  Chất lượng dầu mỏ được đánh giá theo lượng hyđrocacbon nhiệt sôi có trong dầu mỏ . Quí nhất là dầu mỏ có nhiều hyđrocacbon dễ sôi có trọng lượng riêng thấp gọi là dầu nhẹ.

   
II.Xử lý dầu thô:

              Tùy theo mục đích sử dụng mà khí được xử lý khác nhau.

 
1.Làm sạch khí:
 

                a) Tách hơi nước:hơi nước có hại.

    -   Khi hạ nhiệt độ hơi nước có thể đóng băng làm vỡ đường ống hoặc với các hyđrocacbon thành các hydrat       (CH4.7H2O , C2H6.7H2Ov.v...) bịt kín đường ống hoặc thiết bị.

    -   Hơi nước được tách bằng chất hút nước thể rắn ( Canxiclorua hạt ,NaOH rắn v.v...) hoặc lỏng (dung dịch       Canxiclorua dietylengly ).

    b) Khử khí H2S và các hợp chất chứa lưu huỳnh khác:

-    H2S ăn mòn thiết bị .

-    Các hợp chất lưu huỳnh khi đốt sẽ tạo thành SO2 dễ ăn mòn thiết bị dụng cụ , nhũng chất làm xúc tác nhiễm độc. Ðể loại nó người ta dùng chất hấp thụ rắn và lỏng (rắn :Fe(OH)3 , than hoạt tính ) , ( lỏng : muối bazơ mạnh với acid yếu như cacbonat , photphat của natri hoặc kali ).

 Na2CO3   +  H2S     D   NaHCO3­   +   NaHS

    Hay dùng bazơ hữu cơ yếu :

                   2(CH2CH2OH)NH2    +    H2S   D    [(CH2CH2OH)NH­3]2S

                                                         

 

Dung dịch hấp thụ được tưới từ trên tháp hấp thụ kiểu đệm (1) , còn khi cần làm sạch đi ngược chiều từ dưới lên .

Ở thiết bị hấp thụ ra dung dịch được bơm (2) qua thiết bị truyền nhiệt (3) , sau đó qua thiết bị truyền nhiệt (4) để nâng nhiệt độ đến nhiệt độ tái sinh , rồi đi vào tháp tái sinh được bơm qua bơm (6) qua các thiết bị nhiệt trao đổi nhiệt (3) và các thiết bị làm lạnh (7) để tuần hoàn trở lại thiết bị hấp thụ (1).

 
2.Tách xăng khí :

là quá trinh hyđrocacbon dễ bay hơi tồn tại trong không khí dưới dạng hơi. Kếi quả được hai sản phẩm :

-   Hyđrocacbon có mạch cacbon từ  C2 ® C5 .

-   Hyđrocacbon hơi có mạch Cacbon  > C4  .

Xăng là hổn hợp các hyđrocacbon ở thể hơi.

                      Có 3 phương pháp chủ yếu để tách xăng khí :

-   Ngưng tụ xăng khí .

-   Hấp thụ .

-   Hấp phụ.

                    + Ngưng tụ xăng khí:hỗn hợp khí được xử đến áp suất 15® 20 atm rồi làm lạnh băng nước thường .Tùy theo nhiệt độ & áp suất làm lạnh ,mức độ tách xăng khí  có thể cao thấp khác nhau ,xăng khí không tách được hoàn toàn .

 

                    + Hấp thụ : phương pháp này tách xăng khí được hoàn toàn .

Người ta dùng sản phẩm dầu mỏ ở thể lỏng ,có nhiệt độ khoảng 100 ®  2000C làm dung môi hấp thụ .Trước đây người ta dùng hấp thụ gián đoạn ; hiện nay thông dụng sử dụng tháp hấp thụ liên tục ,nó gồm có 3 phần :

                    -Vùng làm lạnh I có cấu tạo bằng nước.

        -Vùng khử hấp thụ III có cấu tạo ống chùm ,gia nhiệt bằng hơi nước hỗn hợp vào vùng II & than hoạt tính sau khi qua vùng I, cũng đi vao vùng II theo chiều ngược nhau. Than Hấp thu ûkhí  nóng tiếp tục đi xuống vùng III .Khí nhẹ ra khỏi vùng hấp phụ được lấy ra ở phần trên của tháp hấp phụ một phần khí tuần hoàn trở lại theo đường ống (1) để đưa than đa tái sinh theo đường ống (2) lên đỉnh tháp xăng khí sau khi tách ra , có chứa khí propan & metan dễ tạo nên ụ túi khí trong ống dẫn nhiên liệu  ở các động cơ đốt trong do vậy cần phải tách chúng ra để xăng được ổn định được thực hiện bằng phương pháp chưng dưới áp suất cao .

       
3 - Tách khí thành các cấu tử riêng biệt hay các nhóm cấu tử:
 

             Quá trình tách các hỗn hợp khí được thực hiện theo phương pháp hấp thụ, hấp thụ chọn lọc và phương pháp chưng cất ( vấn đề này được xét trong phần tổng hợp chất hữu cơ).

 

Sơ đồ cấu tạo tháp hấp thụ liên tục.

   I. Vùng làm lạnh

  II. Vùng Hấp thụ

III. Vùng khử hấp phụ
 
III.Chế biến  dầu:

              Dầu được dùng chủ yếu để:

    - Làm nhiên liệu động cơ.

    - Làm nguyên liệu trong công nghiệp hóa chất

    - Tạo ra nhiều sản phẩm dùng trong nhiều ngành khác.

              Dầu có nhiều loại khác nhau, nên phải dùng nhiều phương pháp lý hóa khác nhau để chế biến dầu.

              Quá trình chế biến dầu bao gồm các công đoạn chủ yếu sau:

    - Xử lý dầu trước khi chế biến.

    - Chưng phân đoạn để tách mazut với các phần chưng cất khác.

    - Chưng madút.

    - Ðiều chế xăng bằng cách crắcking, madút và các phần chưng.

    - Tổng hợp các cấu tử có chỉ số óctan cao của nhiên liệu động cơ.

    - Tinh chế các sản phẩm dầu mỏ.

 
1. Xử  lý dầu sơ bộ trước khi chế biến:

Trước khi chế biến, dầu phải được loại các tạp chất.

 - Trước hết phải tách khí đồng hành, nó là sản phẩm có giá trị. Sau đó dầu được đưa sang bể lắng để tách các tạp chất cơ học ( cát, đất, sét), nước và các muối khoáng (NaCl, MgCl2, CaCl2) trong thiết bị lắng, nước và các tạp chất cơ học được lấy ra ở đáy bể, nước tạo với dầu thành các hạt nhũ tương ( 0,1 ® 100 mm) do đó biện pháp lắng không kết quả đối với nước; cần phải phá nhũ tương trên dòng điện xoay chiều: dầu được đưa vào thiết bị khử nước, có các điện cực chịu điện áp cao ((30000 ® 40000 V) dưới tác dụng của điện cực xoay chiều, các hạt nhũ tương bị phá hủy kết hợp với nhau tạo thành hạt lớn lắng xuống đáy.

Ðể tách muối được hoàn toàn hơn, người ta trộn dầu với nước nóng. Sau khi xử lý bằng nhiệt và điện, khí dầu được đưa về xí nghiệp chế biến. Trước tiên họ phân loại và trộn thành phần tương đối đên, rồi xử lý bằng kiềm hoặc Amôniac để trung hòa axít, Sunfua và các tạp chất.

 
2. Chưng cất:

Hệ thống chưng cất phổ biến trong công nghiệp chế biến dầu là hệ thống chưng chân không - áp suất thường. Hệ thống này chia làm 2 giai đoạn:

- Chưng cất ở áp suất thường.

- Chưng chân không.

            a)Chưng ở áp suất thuờng:

 

            Tháp chưng làm việc ở áp suất thường. Trong công nghiệp, tùy theo thành phần dầu thô và sản phẩm định lấy mà lưu trình chưng cất khác nhau.

           Sơ đồ lưu trình công nghệ chưng cất dầu mỏ ở áp suất thường.

1: Bể chứa dầu thô; 2: Bơm; 3: Thiết bị trao đổi nhiệt; 4: Lò đốt; 5: Tháp chưng;
6: Thiết bị ngưng tụ; 7: Thùng chứa xăng.

 

Dầu thô ở bể chứa (1) được bơm qua các thiết bị trao đổi nhiệt (3) nâng nhiệt độ lên 180oC rồi vào lò đốt (4), đốt bằng dầu mazut. Khi dầu lên đến nhiệt độ 320oC ® 325oC thì đưa qua tháp chưng (5). Ở đó dầu nhẹ bay hơi lên, tiếp xúc với dầu lỏng đi xuống thực hiện quá trình trao đổi nhiệt, làm các cấu tử dễ bay hơi tiếp tục bay hơi, càng xuống thấp, dầu lỏng càng nhiều cấu tử khó bay hơi.

Hơi xăng ở đỉnh tháp chưng ra, sau khi qua thiết bị ngưng tụ (6).

Từ tháp chưng ở áp suất thường lấy ra được một số sản phẩm:

-  Trên cùng là xăng lấy ra ở đỉnh dùng làm nhiên liệu đốt trong.

-  Rồi đến lydroin là loại dầu dùng làm nhiên liệu cho động cơ phản lực.

-  Dầu hỏa lấy được trong khoảng nhiệt độ 180oC ® 280oC

-  Dưới nữa là dầu nặng ( dầu Xôla ) khoảng nhiệt độ 250oC ® 350oC dùng cho động cơ Diezen, cho crắcking.

-  Cuối cùng là madút, lấy ở đáy tháp chưng với nhiệt độ là 275oC.

 
b) Chưng chân không:

 

Tháp chưng chân không dùng để chưng mazut. Chưng chân không nhằm hạ nhiệt độ sôi của mazu1t, để mazut khỏi bị phân hủy, P=60 mm Hg ( p để làm việc)

Từ tháp chưng chân không, lấy ra được các loại dầu bôi trơn và nhựa đường; gồm các loại dầu bôi trơn:

-   Dầu công nghiệp để bôi trơn các máy móc và dầu truyền động.

-   Dầu bôi trơn cho động cơ đốt trong dùng để bôi trơn píttông - xilanh của các động cơ.

-   Dầu máy nén tuabin.

-   Dầu đặc biệt.

Phần còn lại sau khi chưng là opiđron ( hắc ín)

 
3. Tinh chế các sản phẩm dầu mỏ :

            Trong sản phẩm dầu mỏ có chứa chứa một số tạp chất có hại cần phải loại bỏ :

            - Các hợp chất của lưu huỳnh ,khi cháy tạo thành SO2có tác dụng ăn mòn thiết bị và đầu độc xúc tác.

-  Các axit hữu cơ có tác dụng ăn mòn thiết bị .

-  Các tạp chất có nhựa , có khả năng kết tủa và làm nhiên liệu khó cháy

-  Các hợp chất không no làm sản phẩm dầu mỏ kém bền .

 

a) Tinh chế bằng kiềm :

Ðây là phương pháp phổ biến nhất dể tinh chế xăng ;lidroin và dầu hỏa.Phương pháp này loại được H2S,mecaptan , phenon,các axit napta nic.

Phương pháp nay dùng dung dịch kiềm đậm đặc và metanol 30% ® 40%:

-   Kiềm chỉ tách được H2S .Metanol tách hoàn toàn mecaptan .

Quá trình được thực hiện ở 40oC và áp suất là 5®7 atm .Dung dịch kiềm và metanol được đưa vào trích ly (1)  cùng với xăng thô.

Xăng sạch được lấy ra ở đỉnh tháp ,dung dịch cácmecaptan cùng kiềm được lấy ra ở đáy tháp được bơm (2) bơm sang tháp chưng (3) để tách kiềm .Dung dịch kiềm lấy ra ở đáy tháp được đưa trở lại tháp (1) .Hỗn hợp mecaptan ở đỉnh tháp ra qua thiết bị ngưng tụ (4) vào thiết bị phân ly (5).Mecaptan được lấïy ra ở phía trên ,còn dung dịch loãng mecaptan  được đưa vào tháp chưng metanol (6) để thu hồi metanol ,đưa trở lại tháp (1).

 

b)Tinh chế bằng axit và hấp phụ :

Xử lý bằng axit H2SO4 có thể tách được các tạp chất có nhựa ,phá hủy H2S và  mecaptan ;Các Sunfua SR' và Disunfua RSSR' thì tan trong acid ;còn lại các hợp chất không no thì tạo thành các axit sunfonic RSO2OH.

Dùng axit có nồng độ khác nhau ; thường 96% và oleum .

Xử lý bằng axit có nhiều nhược điểm :

-   Acid mắc.

-   Mất nhiềt sản phẩm dầu mỏ .

-   Tạo nhiều bã thải .

Do vậy ngày nay ta dùng phương pháp này để làm sạch dầu bôi trơn.

 

* Hấp phụ:

 Phương pháp hấp phụ được dùng để làm sạch dầu bôi trơn, xăng và dầu hỏa. Chất hấp thụ phổ biến nhất là: đất sét, than hoạt tính, silicugen.

 Sau đây trình bày sơ đồ làm sạch kết hợp hai phương pháp axít - hấp phụ:


Ðầu tiên được đưa vào thiết bị trộn (1) cùng với axit để xử lý. Quá trình khuấy được thực hiện bằng không khí nén - một phần cặn gudron tách ra ở đây. Dung dịch dầu  - axít sang thiết bị (2) lắng tách hết gudron.

Sau đó bơm (3) đưa dầu vào thiết bị hỗn hợp (4) để trộn với chất hấp phụ ở dạng bột mịn. Từ (4) ra hỗn hợp dầu - chất hấp phụ được đưa vào thiết bị bốc hơi (5). Hỗn hợp được tuần hoàn qua lò đốt (6). Sau đó hỗn hợp được bơm sang thiết bị làm sạch (7) rồi vào thùng chứa có máy khuấy ( 8) . Từ đây hỗn hợp  qua hệ thống máy ép (9) và thu được dầu tinh chế.

c) Chiết chọn lọc bằng dung môi:

            Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây; chủ yếu để tinh chế dầu bôi trơn, xăng, dầu hỏa.

Nguyên lý của phương pháp này là: dung môi không hòa tan dầu mà chỉ hòa tan các tạp chất cần loại bỏ ( nhựa, hợp chất Sunfua, hợp chất không no).

Tùy theo tính chất của dầu, tạp chất và mức độ tinh chế mà chọn các dung môi khác nhau. Thường dùng dung môi fufurol, phenol, nitrobenzen và nhiều dung môi hữu cơ khác.

 

   IV. Chế biến các sản phẩm dầu mỏ:

     Các phương pháp chế biến các sản phẩm dầu mỏ được dùng hiện nay: crắcking, refoming.

 
1. Crắcking:

            Crắcking là quá trình cắt các phân tử Hydro Cacbon mạch dài thành những phân tử có mạch ngắn hơn, nhẹ hơn.

C - C - C ... C - C - C - C ®  C = C - C -... +  C - C - C ...

Quá trình crắcking có đặc điểm là nó chủ yếu làm thay đổi số lượng nguyên tử Cacbon trong phân tử Hydro Cacbon mà không làm thay đổi cấu trúc hóa học của chúng.

Có hai loại crắcking: crắcking nhiệt, crắcking xúc tác.

 

a) Crắcking nhiệt:

-   Crắcking nhiệt thực hiện ở nhiệt độ tương đối thấp và áp suất cao thì tăng sản lượng xăng ( trên 60% xăng được lấy bằng phương pháp này).

-   Crắcking nhiệt thực hiện ở nhiệt độ cao trên 700oC và áp suất thường để tạo ra hợp chất thơm và các Hydro Cacbon no ở thể khí.

 

Tùy theo tính chất của nguyên liệu và loại sản phẩm định điều chế mà có những qui trình crắcking nhiệt khác nhau:

-   Áp suất cao (12 ® 70 atm) và nhiệt độ tương đối thấp ( dưới 540oC).

-   Áp suất thấp (2 ® 5 atm) và nhiệt độ dưới 600oC.

-   Áp suất thường và nhiệt độ cao  > 670 - 720oC.

            Với nguyên liệu là Hydro Cacbon nhẹ ,bền nhiệt thì quá trình phải thực hiện ở nhiệt độ và áp suất cao còn với nguyên liệu là Hydro Cacbon nặng thì điều kiện không nghiêm ngặt bằng.

               Sơ đồ lưu trình crắcking nhiệt dầu mazut ở áp suất cao.

1,7. Tháp chưng; 2,10. Lò đốt; 3. Tháp phản ứng; 4. Van giảm áp; 5. Thiết bị bay hơi;

 6. Thiết bị làm lạnh; 8. Thiết bị ngưng tụ; 9. Thiết bị phân ly.

 

            Nguyên liệu sau khi được gia nhiệt đi vào tháp chưng (1) làm việc ở áp suất 10atm. Hơi từ thiết bị (5) sang chưng nguyên liệu thành phân đoạn nhẹ và nặng.

-   Phân đoạn nặng có nhiệt độ cao, lấy ra ở đáy tháp rồi đưa vào lò đốt (2), nhiệt độ đun 480(C, p = 45 atm; ở điều kiện này, các hyđrocacbon  bắt đầu bị phân hủy. Sau đó đưa sang thiết bị phản ứng (3) có áp suất 20 atm, nhiệt độ 480(C, quá trình crắcking kết thúc tại đây. Qua van (4), sản phẩm đi vào thiết bị bay hơi (5), tại đây các sản phẩm tách thành cặn và hơi. Cặn crắcking được đưa vào thiết bị làm lạnh (6). Hơi được đưa vào tháp (1).

-  Quá trình crắcking thực hiện qua lò đốt (2) là crắcking nhẹ.

-   Phân đoạn nhẹ là hơi ở đỉnh tháp chưng (1) ra, được đưa vào tháp chưng (7) điều kiện giống tháp chưng (1). Hơi lấy ra ở đỉnh tháp là xăng và khí, được đưa qua thiết bị ngưng tụ ( 8) rồi vào thiết bị phân ly (9) để tách xăng và khí crắcking.

-   Phần lỏng lấy ra ở đáy tháp (7) là gazon và dầu hỏa.

 

b) Crắcking xúc tác:

            Mục đích của crắcking xúc tác các sản phẩm dầu mỏ là tăng sản lượng và chất lượng xăng.

            Chất lượng xăng cũng như nhiên liệu cho động cơ qui định bởi hai yếu tố:

-   Giảm hàm lượng các Hyđrocacbon  no mạch thẳng vì chúng có chỉ số octan thấp.

-   Giảm hàm lượng các Hyđrocacbon  không no vì khi cháy chúng tạo nên nhiều nhựa và tro cho động cơ.

Xăng crắcking xúc tác bền hơn xăng crắcking nhiệt vì hàm lượng Hydro Cacbon không no thấp, chỉ số octan cao...

 

2. Refoming:


            Phương pháp crắcking xúc tác tuy không tạo ra cặn nhưng cũng tạo ra khí và cốc. Ðể tránh sự hao hụt vì tạo khí và cặn... Người ta dùng refoming, là phương pháp biến đổi trực tiếp cấu tạo phân tử của các sản phẩm dầu mỏ điều chế được bằng phương pháp crắcking mà không làm trọng lượng phân tử của chúng thay đổi nhiều.
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 03, 2012, 03:43:00 PM gửi bởi anhtuan_h2vn »
Thiên tài được hình thành từ 1% trí thông minh,còn 99% còn lại là sự siêng năng,cần cù.

Offline thanhtugia

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 12
Công nghệ lọc dầu (Phần 1)
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Năm 03, 2008, 10:11:26 AM »
Công nghệ lọc dầu: Quá trình chưng cất dầu thô (P.1)
27.01.2008 15:53
 


Chưng cất là quá trình tách một dung dịch bằng cách đun sôi nó, rồi ngưng tụ hơi bay ra để được 2 phần: Phần nhẹ là distillat có nhiệt độ sôi thấp, chứa nhiều chất dễ sôi, còn phần nặng còn lại là cặn chưng cất (redue).
QUÁ TRÌNH CHƯNG CẤT DẦU THÔ
1. Cơ sở lý thuyết của quá trình chưng cất
1.1 Sự sôi của dung dịch
Sự sôi của chất nguyên chất: Một chất lỏng sẽ sôi ở nhiệt độ mà tại đó áp suất hơi bão hoà của nó bằng áp suất môi trường đè lên mặt thoáng. Ví dụ như nước sẽ sôi ở 1000C tại P = 1 atm (760mmHg).
Nhiệt độ sôi của Butan
Áp suất, atm    Nhiệt độ,oC
1    0
3.41    36
4.80    50
Ta gọi chất có áp suất hơi bão hoà lớn, có nhịêt độ sôi thấp là chất dễ sôi. Chất khó sôi có áp suất hơi bão hoà bé, có nhiệt độ sôi cao.
Thành phần pha hơi sinh ra khi đun sôi một dung dịch: Pha hơi sinh ra khi chất lỏng nguyên chất sôi là pha hơi đơn chất. Pha hơi sinh ra khi một dung dịch sôi là một hỗn hợp của tất cả các hợp phần của dung dịch và có thành phần phụ thuộc vào thành phần của dung dịch lỏng theo định luật Konovalov.
 
Định luật Konovalov: Khi sôi một dung dịch lỏng cho ra một pha hơi giàu chất dễ sôi hơn so với dung dịch lỏng.
1.2 Nguyên lý của quá trình chưng cất
Chưng cất là quá trình tách một dung dịch bằng cách đun sôi nó, rồi ngưng tụ hơi bay ra để được 2 phần: Phần nhẹ là distillat có nhiệt độ sôi thấp, chứa nhiều chất dễ sôi, còn phần nặng còn lại là cặn chưng cất (redue).
 
Như vậy, phép chưng cất có thể thu được Distillat có thành phần mong muốn bằng cách chưng cất nhiều lần.
Nhưng  chưng  cất  nhiều  lần  như  vậy  rất  phiền  phức,  tốn  thời  gian  mà không kinh tế. Để khắc phục nhược điểm này ta dùng hệ thống chưng cất có cột chưng cất. Cột  chưng  cất  có  số  đĩa  lý  thuyết  càng  lớn,  thì  có  khả  năng  cho  một distillat có thành phần khác càng nhiều so với dung dịch trong bình đun, tức là distillat rất giàu chất dễ bay hơi. Dùng cột chưng cất có nhiều đĩa lý thuyết có thể thu được distillat là chất dễ bay hơi gần như tinh khiết.
2. Cơ sở lý thuyết chưng cất dầu mỏ
Nhằm phân  tách dầu thô thành các phân đoạn thích hợp dựa vào nhịêt độ sôi của các cấu tử và không làm phân huỷ chúng.
2.1 Chưng cất đơn giản
Chưng cất bay hơi dần dần: Chủ yếu dùng trong phòng thí nghiệm để xác định đường cong chưng cất Enghen. Chưng cất bay hơi một lần: Cho phép nhận được phần chưng cất lớn hơn so với bay hơi một lần.
 
Chưng cất bay hơi nhiều lần: Cho phép quá trình tách các phân đoạn theo mong muốn.
 
 
2.2 Chưng cất phức tạp
Chưng  cất  có  hồi  lưu:  Để  nâng  cao  khả  năng  phân  chia hỗn  hợp  lỏng, người ta tiến hành cho hồi lưu một phần sản phẩm đỉnh. Nhờ sự tiếp xúc thêm mộy lần giữa pha lỏng (hồi lưu) và pha hơi trong tháp được làm giàu thêm cấu tử nhẹ nhờ đó mà độ phân chia cao hơn.
Chưng cất có tinh luyện: Dựa vào quá trình trao đổi chất nhiều lần giữa pha lỏng và hơi nhờ vào các đĩa hay đệm. Chưng cất sẽ có độ phân chia cao hơn nếu kết hợp với hồi lưu
 
 
Sơ đồ tiếp xúc giữa dòng lỏng và hơi trong tháp chưng cất
Chưng cất chân không & chưng cất với hơi nước: Độ bền nhiệt các cấu tử trong dầu phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ và thời gian lưu. Đối với các phân đoạn có nhiệt độ sôi cao, người ta cần  tránh sự phân huỷ chúng (giảm độ nhớt, độ bền oxy hoá…) bằng cách hạn chế nhiệt độ (320o- 420oC) chưng cất. Nếu nhiệt độ sôi cao hơn nhiệt độ phân huỷ chúng ta dùng chưng cất chân không hay chưng cất hơi nước. Hơi nước làm giảm áp suất hơi riêng phần làm chúng sôi ở nhiệt độ thấp hơn.
2.3 Đĩa chưng cất (Tray)
Trong công nghệ dầu khí, để chưng cất những lượng khổng lồ (hàng triệu tấn/năm). Người ta dùng những thiết bị chưng cất khổng lồ, hoạt động liên tục.
Hơi nguyên liệu sẽ bay lên đỉnh tháp và phần lỏng sẽ chảy xuống phần dưới tháp. Sự tiếp xúc giữa hai dòng này được thực hiện một cách đặc biệt nhờ các đĩa.
Tại các đĩa xảy ra quá trình trao đổi nhiệt giữa dòng hơi và dòng lỏng. Đồng thời tại đây cũng xảy ra quá trình trao đổi chất, phần nhẹ trong pha lỏng bay hơi theo pha hơi, phần nặng trong pha hơi ngưng tụ theo dòng lỏng.
Như vậy, khi dòng hơi lên đến đỉnh thì rất giàu cấu tử nhẹ, còn dòng lỏng đi xuống đáy lại giàu cấu tử nặng hơn.
Có rất nhiều dạng đĩa khác nhau được sử dụng tuỳ vào loại nguyên liệu. Nhưng mục đích chung nhằm đảm bảo sự tiếp xúc giữa pha lỏng và pha hơi phải lớn để quá trình phân tách hiệu quả.
Hiện nay, sử dụng chủ yếu các dạng đĩa sau:
−   Đĩa nhiều lỗ (Sieve Trays)
−   Đĩa chụp (Bubble–Cap Trays)
−   Đĩa ống khói (Chimmey Trays)
−   Đĩa Van (Valve Trays)
 
 
Mâm kiểu van
Sự phân bố dòng chảy qua van ảnh hưởng rất lớn đến sự tiếp xúc pha và chất lượng các phân đoạn. Một số kiểu phân bố dòng chảy trong tháp được trình bày như sau:
 
 
2.4 Sự Stripping
Đối với chưng cất dầu thô, dòng trích ngang luôn có lẫn sản phẩm đỉnh.
Để loại bỏ các cấu tử nhẹ này, người ta thực hiện quá trình tái hoá hơi riêng phần các phần nhẹ. Quá trình này gọi là quá trình stripping.
Quá trình này được thực hiện trong những cột nhỏ từ   4-10 đĩa, đặt bên cạnh tháp chưng cất khí quyển và thường dùng hơi nước trực tiếp.
Ngoài ra có thể stripping bằng nhiệt (phân đoạn Kerozen).
 
2.5 Sự hồi lưu (Relux)
Nhằm tạo ra dòng lỏng có nhiệt độ thấp đi từ đỉnh tháp xuống đáy tháp để trao đổi nhiệt với dòng hơi. Từ đó làm cho quá trình trao đổi chất tách phân đoạn được triệt để và thu được chất lượng distillat mong muốn.
Tỉ lệ dòng hoàn lưu phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố kinh tế là bài toán quyết định.
Khi tỉ lệ hoàn lưu tăng, số mâm giảm nhưng đường kính tháp tăng lên. Chủ yếu có 3 dạng sau:
−   Hồi lưu nóng: Sử dụng dòng hồi lưu ở trạng thái lỏng sôi.
−   Hồi lưu lạnh: Nhiệt độ dòng hồi lưu ở dưới điểm lỏng-sôi.
−   Hồi lưu vòng: Lấy các sản phẩm ở các mâm dưới hồi lưu lên các mâm trên sau khi đã làm lạnh.
(Còn tiếp)


Offline trongbk

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 9
Re: Phòng thử nghiệm Xăng - Dầu khí
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Năm 24, 2008, 08:38:51 AM »
 :) ::)
Cho tui hỏi, phòng thử nghiệm này có thể đo thành phần các loại hợp chất có trong một loại xăng thơm không?
và nếu đo được thì có thể biết được tỷ lệ các loại chát này không?
Xin cảm ơn.........!

Offline huanquang

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 4
Re: Thành phần hoá học của xăng
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Tám 12, 2008, 06:06:55 PM »
Cảm ơn bạn. Mình có một vấn đề muốn hỏi bạn nữa là: Ở nhà mình, ba mình làm thợ bạc và dùng hơi của xăng để đốt chảy bạc. Tực là đầu tiên, ba mình cho xăng vào 1 cái bình (giống bình gas nhưng nhỏ hơn), sau đó ba mình bật máy lên để hơi xăng phun ra từ ống và châm lửa để đốt bạc. Nhưng được 1 thời gian thì hết hơi xăng không đốt đc nữa và trong bình còn 1 chất lỏng, phải đổ đi và châm xăng mới vào. Mình muốn hỏi là chất lỏng còn lại có phải là nước không và nước từ đâu mà có?

Offline 2K2+

  • Hướng dương xanh
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 551
  • Van Hốp
Re: Thành phần hoá học của xăng
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Tám 13, 2008, 03:41:12 PM »
Cảm ơn bạn. Mình có một vấn đề muốn hỏi bạn nữa là: Ở nhà mình, ba mình làm thợ bạc và dùng hơi của xăng để đốt chảy bạc. Tực là đầu tiên, ba mình cho xăng vào 1 cái bình (giống bình gas nhưng nhỏ hơn), sau đó ba mình bật máy lên để hơi xăng phun ra từ ống và châm lửa để đốt bạc. Nhưng được 1 thời gian thì hết hơi xăng không đốt đc nữa và trong bình còn 1 chất lỏng, phải đổ đi và châm xăng mới vào. Mình muốn hỏi là chất lỏng còn lại có phải là nước không và nước từ đâu mà có?
Theo mình nghĩ, chất lỏng còn lại đó là những hợp chất hiđrocacbon khó bay hơi, thêm vào đó là những phụ gia khác (trước đây người ta dùng Pb(C2H5)4 làm chất chống kích nổ nhưng mà sản phẩm sinh ra khi đốt cháy có chì nên độc hại người ta đã cấm sử dụng) nó được cho vào xăng để chống kích nổ cho xăng đồng thời làm giảm những hợp chất độc hại khi đốt cháy xăng sinh ra (CO, NOx,...). Do vậy mà chất lỏng còn lại đó vẫn còn giá trị sử dụng.

Ở các trạm bán xăng bạn thường thấy các loại xăng 92, 95,... Đó chính là chỉ số octan của xăng, chỉ số octan của xăng càng cao, xăng càng có chất lượng tốt.

Dưới đây là lịch sử chỉ số octan:

Gần hai thập kỷ từ sau khi Carl Benz chế tạo chiếc xe chạy bằng động cơ xăng đầu tiên, các chuyên gia kỹ thuật mới nhận ra rằng hiện tượng kích nổ không cho phép họ tuỳ ý tăng sức mạnh của động cơ đốt trong.

Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, lịch sử của động cơ đốt trong bước sang một trang mới. Người khởi xướng cho cuộc cách mạng công nghệ ôtô - xe máy thời kỳ đó là Gottlieb Wilhelm Daimler, nhà thiết kế động cơ người Đức, khi vào năm 1885, ông thử nghiệm thành công loại xe hai bánh chạy bằng động cơ đốt trong một xi-lanh. Song song và độc lập với Wilhelm Daimler, năm 1886, Carl Freidrich Benz nhận được bằng sáng chế về phát minh “vận chuyển bằng động cơ dùng xăng” với chiếc xe 4 bánh, động cơ làm lạnh trong một xi-lanh. Và ở bên kia bờ Đại Tây Dương, năm 1903, đánh dấu sự ra đời của một trong những hãng xe nổi tiếng nhất hiện nay, Ford Motor Company do Henry Ford thành lập.
Lợi nhuận kếch xù thu được từ việc sản xuất xe hơi cộng với sự xuất hiện của hàng loạt các phát minh sáng chế đã kéo tất cả các hãng xe và các nhà phát triển động cơ vào cuộc cạnh tranh gay gắt về công nghệ. Các hãng xe thường xuyên nâng cấp cấu tạo của động cơ bằng cách tích hợp thêm nhiều tính năng mới như hệ thống làm lạnh trong, hệ thống đánh lửa tự động, và điều quan trọng hơn, luôn tin tưởng rằng sức mạnh của động cơ đốt trong có thể tăng lên một cách tuỳ ý, vì theo lý thuyết nhiệt động học, với tỷ số nén càng cao, hiệu suất nhiệt càng gần đến cực đại.
Nhưng, vào năm 1912, họ đã phải khống chế tỷ số nén ở dưới một giá trị tới hạn cho phép. Nguyên nhân đưa ra quyết định đi ngược với xu thế phát triển đó là những tiếng nổ “lốc cốc” xuất hiện khi động cơ đang làm việc, nguy hiểm hơn, hiện tượng này còn phá hủy động cơ chỉ sau vài phút xuất hiện. Vào thời điểm đó, các kỹ sư cho rằng những tiếng “lốc cốc” có nguyên nhân từ hệ thống đánh điện được cung cấp cho các loại xe có chức năng “đề”, còn những nhà phát triển động cơ cho biết họ có thể nâng cao sức mạnh và hiệu suất của động cơ nếu hiện tượng đó được khắc phục.
Đứng trước thách thức đó, Charles F. Kettering, trưởng phòng nghiên cứu của hãng General Motor đã giao cho người đồng nghiệp Thomas Midgley nhiệm vụ phải tìm ra một cách chính xác nguyên nhân của hiện tượng.
Ban đầu, họ sử dụng máy ghi áp lực Dobbie-McInnes và đã chứng minh rằng những tiếng “lốc cốc” đó không xuất hiện do sự đánh lửa sớm của hệ thống điện, mà nó xuất hiện đúng thời điểm áp suất tăng một cách mãnh liệt sau khi bugi đánh lửa. Tuy nhiên, máy ghi áp lực không thích hợp cho các nghiên cứu sâu hơn, vì vậy Midgley và Bob đã dùng một camera tốc độ cao để quan sát chính xác những gì đang diễn ra khi động cơ làm việc, đồng thời, phát triển một máy hiển thị năng lượng cao để đo mức độ của tiếng nổ.
Song song với những thử nghiệm của Thomas Midgley, Sir Harry Ricardo - chuyên gia động cơ của quân đội Hoàng gia Anh - đưa ra khái niệm lựa chọn tỷ số nén tối ưu cho các động cơ có tỷ số nén biến đổi. Tuy nhiên, tỷ số mà Ricardo đưa ra không phải là tuyệt đối vì còn rất nhiều các thông số khác như thời gian đánh lửa, tình trạng sạch sẽ, vị trí của chốt đánh lửa, nhiệt độ động cơ…
Các hãng xe, những nhà nghiên cứu động cơ cuối cùng phải thừa nhận rằng, họ đã quên không nghiên cứu, không phát triển một thành phần quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của động cơ đốt trong: nhiên liệu. Nhiên liệu dùng cho động cơ đốt trong tồn tại một tính chất đặc biệt: nó sẽ tự cháy, tự kích nổ khi bị nén trong xi-lanh dưới áp suất cao, trước cả khi bugi đánh lửa.

Từ kết quả của những nhà nghiên cứu đi trước, năm 1927, Graham Edgar, một nhân viên trẻ của hãng Ethyl Corporation tại Mỹ, đưa ra đề nghị sử dụng 2 hydrocacbon để đánh giá mức độ kích nổ cho nhiên liệu: n-heptan và 2,4,4-trimetylpentan, hay còn được gọi một cách không chính xác là iso-octan.
Iso-octan có chỉ số chống kích nổ cao, còn n-heptan có khả năng chống kích nổ rất kém và Edgar đã đề nghị sử dụng tỷ số của hai chất này để đánh giá khả năng chống kích nổ của nhiên liệu sử dụng trong các động cơ đốt trong. Ông cũng đã chứng minh rằng, trị số chống kích nổ của tất cả các loại xăng thương mại ngày đó đều có thể quy về tỷ số thể tích n-heptan: octan nằm trong khoảng 60:40 đến 40:60. Như vậy, nếu chúng ta ra quầy xăng vào những năm 30 của thế kỷ trước, chúng ta chỉ có thể mua được các loại xăng từ A40 đến A60 mà thôi.

Lý do mang tính kỹ thuật mà Edgar đưa ra khi dùng hai chất này là chúng có những tính chất vật lý rất gần nhau như tính chất bay hơi và đặc biệt là nhiệt độ sôi, chính vì vậy, khi ta thay đổi tỷ số “heptan: iso-octan” từ 100:0 đến 0:100 thì hầu như các thông số trên thay đổi không đáng kể. Điều này rất quan trọng đối với quá trình thử nghiệm, vì khả năng bay hơi của nhiên liệu ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của động cơ.
Edgar đã thu được rất nhiều thông số từ thử nghiệm này, tuy nhiên, hiện nay, phổ biến nhất vẫn là hai thông số RON (Research Octane Number-chỉ số octan nghiên cứu) và MON (Motor Octane Number-chỉ số octan động cơ).


Trích từ: hoadau.kiss.vn

Offline huanquang

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 4
Re: Thành phần hoá học của xăng
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Tám 13, 2008, 10:44:59 PM »
Cảm ơn bạn. Xăng ba mình dùng là xăng 92, theo bạn nói thì chỉ số octan sẽ là 92 (nhưng 92 gì mình ko rõ. 92% hay sao). Với lại chất còn lại bạn nói là hydrocacbon nào đó, vẫn còn giá trị sử dụng. Mình muốn biết chất đó là chất gì và giá trị sử dụng của nó là gì?

Offline tuxedomask

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
Re: Thành phần hoá học của xăng
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Chín 21, 2008, 01:48:51 AM »
Cảm ơn bạn. Xăng ba mình dùng là xăng 92, theo bạn nói thì chỉ số octan sẽ là 92 (nhưng 92 gì mình ko rõ. 92% hay sao). Với lại chất còn lại bạn nói là hydrocacbon nào đó, vẫn còn giá trị sử dụng. Mình muốn biết chất đó là chất gì và giá trị sử dụng của nó là gì?

không phải 92% bạn ạ, mà chỉ là tương đương với hỗn hợp chuẩn gồm 92% thể tích iso-octan (2,2,4 tri metylpentan - quy ước =100)và 8% thể tích là n-heptan (quy ước =0)

Ba bạn dùng đèn khò bằng xăng để nấu chảy bạc vẫn còn lại 1 ít chất lỏng, nói qua như thế thì khó có thể kết luận chính xác nhưng đúng là có thể đó là RH nặng ở nhiệt độ cất cuối của phân đoạn xăng (có T sôi trên 200 độ c)

Offline qahoadau99

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
Xăng pha cồn
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Mười 15, 2008, 05:02:36 PM »
Mình mới biết 1 tin các bạn cùng chia sẻ nhé ,và chúng ta cũng có thể có cơ hội cao hơn trong việc làm chuyên ngành đó
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) vừa quyết định thành lập Công ty Cổ phần đầu tư sản xuất nhiên liệu sinh học tại Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi).[/b]

 Công ty sẽ đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất ethanol từ nguyên liệu sắn lát, pha vào xăng để giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch và hạn chế ô nhiễm môi trường. Vốn điều lệ thành lập Công ty là 45 tỉ đồng, với tỉ lệ góp vốn của các thành viên: Tổng Công ty Cổ phần dịch vụ tổng hợp dầu khí (Petrosetco): 51%, Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV Oil): 29%, Công ty TNHH một thành viên lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR): 15% và Tổng Công ty Tài chính Cổ phần dầu khí (PVFC): 5%

 
Sắp có xăng pha cồn giá rẻ
Monday, 28 July 2008 17:07 administrator    Đầu năm tới, một nhà máy sản xuất cồn nguyên chất cỡ lớn sẽ đi vào hoạt động ở Quảng Nam, mở ra triển vọng có xăng pha cồn giá rẻ cho người dùng ôtô, xe máy, thay cho xăng thường rất đắt hiện nay.

 

Giá xăng tăng 31% trong đợt vừa qua đã khiến người tiêu dùng thực sự phải tính đến các phương án tiết kiệm. Ảnh: Hoàng Hà.

Việc dùng cồn nguyên chất (độ cồn 99.5% trở lên) để pha vào xăng không phải là mới với thế giới, thậm chí tại Việt Nam, một vài tổ chức, cá nhân đã thử nghiệm và sản xuất loại cồn này. Tuy nhiên, trước kia, do giá thành cồn nhập khẩu quá đắt, thậm chí cao hơn xăng, nên việc dùng cồn để pha vào xăng không khả thi. Nhưng đến nay, giải pháp này được quan tâm trở lại do giá xăng dầu ngày càng cao và cạn dần, cũng như những ưu thế về giảm ô nhiễm môi trường của cồn.

Để có được sản lượng này, nhà máy sử dụng 300.000 tấn sắn khô mỗi năm, bằng 1/4 lượng sắn khô xuất khẩu hàng năm của Việt Nam.

Công ty Cổ phần Đồng Xanh ở Quảng Nam đang lắp đặt một nhà máy sản xuất cồn (99.5%) từ sắn khô, công suất khoảng 100.000 tấn/năm, dự kiến đầu năm 2009 sẽ có sản phẩm. Cồn sẽ ra thị trường thông qua các công ty kinh doanh xăng dầu trong nước và một phần được xuất khẩu sang châu Âu, Nhật, Hàn Quốc, Philippines.
"Giá cồn phụ thuộc vào giá nguyên liệu, hiện nay chưa tính cụ thể nhưng chắc chắn rẻ hơn xăng", ông Lưu Quang Thái, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty, cho biết.

Còn theo tiết lộ của một chuyên gia trong lĩnh vực này, giá cồn sản xuất trên quy mô công nghiệp có thể chỉ đến 12.000 đồng một lít, và sẽ làm hạ thấp giá thành xăng đáng kể.

Thử nghiệm cho thấy xăng pha cồn có nhiều ưu điểm

Bản thân xăng thông thường đã được pha các hóa chất phụ gia để làm tăng chỉ số octan như hợp chất methylter-butyl ether (MTBE). Các hóa chất này thường chiếm một tỷ lệ nào đó. Khi dùng cồn pha xăng, thực chất là dùng cồn để thay thế các hóa chất phụ gia này, vừa làm giảm thể tích xăng cần dùng, vừa nâng cao chất lượng của xăng.

Hiện nay nước ta đã có tiêu chuẩn về cồn biến tính (cồn dùng để pha vào nhiên liệu) nhưng chưa có tiêu chuẩn về xăng pha cồn biến tính. 

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, trưởng phòng thí nghiệm động cơ đốt trong, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho biết, đầu năm 2008, hợp tác với Công ty Đồng Xanh, phòng đã thử nghiệm dùng xăng pha cồn nguyên chất để chạy cho hai loại xe: xe máy Super Dream và ô tô Ford Laser. Thử nghiệm được thực hiện theo phương pháp đối chứng, nghĩa là trên cùng phương tiện, với cùng chế độ chạy, trước hết cho chạy xăng thông thường, sau đó là cho chạy xăng pha 5% và xăng pha 10% cồn. Kết quả thu được khá khả quan.

So với xăng thông thường, xăng pha cồn có các ưu điểm sau:

1. Tiêu thụ nhiên liệu giảm. Cụ thể, với xăng pha 5% cồn, tiết kiệm được khoảng 5% nhiên liệu. Xăng pha 10% cồn cho hiệu quả tiết kiệm kém hơn.

2. Công suất động cơ có cải thiện.

3. Nhìn chung lượng khí thải độc hại giảm nhiều. Với khí CO và HC, tỷ lệ giảm có thể tới hơn 10% so với khi chạy xăng thường, còn khí NOx thì không rõ rệt, lúc tăng lúc giảm.

4. Khả năng tăng tốc của xe tốt hơn. Trung bình với xe thử nghiệm chạy xăng thường, thời gian để tăng tốc từ 0 lên 100 km/giờ mất khoảng 20 giây, còn dùng xăng pha cồn, thời gian gia tốc là 18 giây.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của xăng pha cồn đối với độ bền và tuổi thọ của động cơ hiện tại chưa được nghiên cứu. Lý do của việc này, theo ông Tuấn, là do đòi hỏi chi phí lớn, vì phải chạy thử trong thời gian dài mới khảo sát được. Tuy nhiên, ông Tuấn cũng cho biết sau thời gian thử nghiệm 2 tuần trong phòng tiêu chuẩn, nhóm không phát hiện hư hỏng gì từ hai chiếc xe này.

Không chỉ có Đại học Bách khoa Hà Nội, từ năm 2005, khoa Cơ khí Giao thông, Đại học Bách khoa thuộc Đại học Đà Nẵng đã thực hiện đề tài nhằm xác định tỷ lệ cồn tối ưu trong hỗn hợp cồn - xăng cho xe gắn máy. Theo tiến sĩ Trần Thanh Hải Tùng, Trưởng khoa, Chủ nhiệm đề tài, loại cồn được dùng thí nghiệm là cồn công nghiệp 96% (lấy từ nhà máy Cồn, Công ty Mía đường Quảng Ngãi ).

Kết quả đề tài đã đưa ra được phương án sử dụng cồn cho xe máy với tỷ lệ đến 60 % ethanol, các chỉ tiêu công suất, kinh tế nhiên liệu và ô nhiễm đã được cải thiên đáng kể so với khi dùng thuần túy xăng, tuy nhiên có một số vấn đề về tuổi thọ một số chi tiết đường ống của hệ thống cấp nhiên liệu. Do loại cồn này không đảm bảo chất lượng, còn tỷ lệ nước khá cao, nên nhóm nghiên cứu đã dừng lại và chờ đến khi Việt Nam có thể sản xuất cồn nguyên chất.

Thời gian tới, khi nhà máy cồn nguyên chất của Công ty Đồng Xanh đi vào hoạt động, khoa Cơ khí Giao thông sẽ hợp tác với công ty này với vai trò như một đơn vị phối hợp thử nghiệm để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo nhằm triển khai sử dụng cồn trên phương tiện giao thông.

"Với những ưu điểm của xăng pha cồn như giảm chất độc hại ra môi trường, giá rẻ hơn xăng, chất lượng cao hơn, sử dụng tiện lợi, không cần bất kỳ sự thay đổi nào trong ôtô, xe máy, lại tiết kiệm ngoại tệ, tôi tin là người tiêu dùng Việt Nam sẽ hoan nghênh xăng ethanol", ông Lưu Quang Thái nói.

Theo ước tính của ông Thái, nếu cả nước dùng xăng pha ethanol 10% mỗi năm tiết kiệm được 500 triệu USD. Trong đó tăng thu nhập cho nông dân khoảng 100 triệu USD, giúp giảm nhập siêu, giảm phụ thuộc xăng dầu thế giới.

Nhiều nước trên thế giới đã dùng xăng pha cồn

Tiến sĩ Hải Tùng cũng cho biết, việc pha cồn vào xăng như là chất phụ gia hiện nay ở mức khoảng từ 5 đến 10%, còn trong trường hợp như là một nhiên liệu chính tỷ lệ cồn có thể đạt đến 85% (hỗn hợp E85), bởi nếu pha theo tỷ lệ trung bình (40-50% chẳng hạn) thì sẽ có hiện tượng phân tầng, xăng và cồn tách thành hai lớp riêng biệt trong qua trình bảo quản hỗn hợp.

Hiện nay, một số nước trong khu vực đã sử dụng cồn nhiên liệu để pha vào xăng, nhiều nhất là Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản…..,.Thường họ pha với tỷ lệ 5-10%, với tỷ lệ này không làm thay đổi chất lượng xăng và không phải thay đổi cấu tạo của động cơ. Ở Mỹ, Braxil …hiện nay một loại động cơ mới đang được triển khai trên loại xe FFV- (Flexible Fuel Vehicle), có thể dùng hỗn hợp E85, tuy nhiên khi đó động cơ phải có yêu cầu cao hơn về vật liệu chế tạo.[/size]

Offline plustwo_h

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 8
Re: CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN DẦU MỎ VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Tư 17, 2009, 11:23:08 AM »
2. Refoming:

            Phương pháp crắcking xúc tác tuy không tạo ra cặn nhưng cũng tạo ra khí và cốc. Ðể tránh sự hao hụt vì tạo khí và cặn... Người ta dùng refoming, là phương pháp biến đổi trực tiếp cấu tạo phân tử của các sản phẩm dầu mỏ điều chế được bằng phương pháp crắcking mà không làm trọng lượng phân tử của chúng thay đổi nhiều.



 :-X :-X :-X

Offline plustwo_h

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 8
Re: Xem xét việc sử dụng giản đồ mô phỏng để thiêt kế lò phản ứng
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Tư 17, 2009, 11:27:23 AM »
sao em không xem được mấy cái picture nhỉ ???

 

Du Lịch Blog