Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Hỏi đáp về hóa lý  (Đọc 152682 lần)

0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.

Offline giang_tu

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 12
Re: Xin hình ảnh máy phân tích sắc ký ghép phối phổ.GC-MS
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Tám 31, 2007, 12:09:16 PM »
cha may,da noi vao gôgle go cai ten thoi ma cung lam bieng nua,
vay vao day ma load ve.
http://images.google.com.vn/images?hl=vi&q=GAS+CHROMATOGRAPHY-MASS+SPECTROSCPY+&btnG=T%C3%ACm+H%C3%ACnh+%E1%BA%A3nh&gbv=2
vi tui k biet dong may cua ban can tim nen chi co the thoi.
gôgle la phụog tien tot nhat de tim tai lieu day, sinh ra no lam cai gi, forum  la de trao doi thong tin thoi hieu chu

Cộng đồng Hóa học H2VN

Re: Xin hình ảnh máy phân tích sắc ký ghép phối phổ.GC-MS
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Tám 31, 2007, 12:09:16 PM »

Offline chelsea

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 11
Re: Xin hình ảnh máy phân tích sắc ký ghép phối phổ.GC-MS
« Trả lời #31 vào lúc: Tháng Chín 04, 2007, 09:57:31 AM »
cam on bac nhieu nhe

Offline chelsea

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 11
cho em hỏi về sắc ký ion
« Trả lời #32 vào lúc: Tháng Chín 04, 2007, 10:14:15 AM »
em chạy sắc ký ion xong được phổ đồ của sắc ký ion có 2 peak. 1 peak nhỏ quay ngược lại với một peak chính cái ma em cần xác định.và 2 peak này có chân nằm trên đường nền nhưng lại quay ngược chiều nhau.Tức là 1 peak âm và 1 peak dương. Bác nào biết tại sao có peak âm đó làm ơn giải thích dùm em.Nếu bác nào đã từng làm và gặp trường hợp giống em thì hiểu em nói gì.Còn ngược lại tức là kô hiểu.cam ơn

Offline giang_tu

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 12
Re: cho em hỏi về sắc ký ion
« Trả lời #33 vào lúc: Tháng Chín 08, 2007, 11:33:46 AM »
a ne em gi chay sac ky ion bao nhieu lan roi va hien lam o dau vay.
sac ki ion doi hoi nhieu thu lam,ky nhat la tap chat,cai peak ma em noi di nghuoc xuong chang co gi la quan trong ca,ngay ca thay cua anh cung chang giai thich duoc nua,vay em co chay sac ky long hieu nang cao chua, cung co peak am nhu vay do,nhung dieu do khong quan trong lam.vi do la tap chat,cvai minh can xac dinh la peak duong va do lap lai .neu do lap lai tot thi ket qua cang chinh xac thoi.

Offline chelsea

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 11
Re: cho em hỏi về sắc ký ion
« Trả lời #34 vào lúc: Tháng Chín 08, 2007, 04:05:27 PM »
Vâng em cảm on anh My nhe.Ngay 9t9 hop lop do nho di nhe

Offline napoleon9

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 13
Hỏi đáp về hóa lý
« Trả lời #35 vào lúc: Tháng Mười 10, 2007, 08:35:40 AM »
ai có tài liẹu này post lên dùm mình thank

Offline Công Nghệ Hóa Học

  • Chủ tịch tập đoàn LPG
  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 96
  • Heal the World - Make a better place
    • congnghehoahoc.org
Làm thế nào để tăng tốc độ phản ứng hóa học
« Trả lời #36 vào lúc: Tháng Mười 13, 2007, 10:00:23 PM »
 Chào các bạn, bắt đầu từ hôm nay mình sẽ post một loạt bài về các phương pháp làm tăng tốc độ phản ứng trong hóa học (Tài liệu lấy từ cuốn sách : Các sản phẩm hóa học tạo ra từ đâu của tác giả A.la.Avecbuc và K.K.Bogusepxkaia)

Offline Công Nghệ Hóa Học

  • Chủ tịch tập đoàn LPG
  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 96
  • Heal the World - Make a better place
    • congnghehoahoc.org
Re: Làm thế nào để tăng tốc độ phản ứng hóa học
« Trả lời #37 vào lúc: Tháng Mười 13, 2007, 10:01:35 PM »
Làm thế nào để tăng tốc độ các phản ứng hóa học
   Nhiều hiện tượng hóa học (phản ứng hóa học) xảy ra trong tự nhiên rất chậm. Không phải lúc nào chúng ta cũng có thể nhận thấy có những biến đổi. Chẳng hạn ở điều kiện thường oxi và nito của không khí không tạo thành oxit nito. Thế nhưng sau một khoảng thời gian nhất định sắt bị gỉ, than và than bán cốc tự bốc cháy, một số phẩm vật bị thối rữa,... tốc độ phản ứng được tính bằng ngày và tháng như vậy tất nhiên không thích hợp cho các quá trình trong công nghiệp. Tốc độ phản ứng càng cao thì ta càng có thể chế tạo được nhiều sản phẩm trong cùng một thiết bị. Vậy các nhà khoa học làm thế nào để tăng tốc độ phản ứng?
 A. Phương pháp khuấy trộn.
   Nhằm mục đích đó cần làm cho phân tử các chất phản ứng lại gần nhau, tức là làm cho chúng tiếp nhau chặt chẽ hơn, hoặc tăng tốc độ chuyển động của chúng bằng cách nào đó buộc các phân tử va chạm với nhau nhiều hơn. Chỉ khi va chạm với nhau, tức là khi gặp nhau, các phân tử mới có thể kết hợp với nhau và tạo thành chất mới. Nếu các chất ban đầu là chất rắn, ta cần phải nghiền nhỏ chúng thành bột, điều đó làm tăng bề mặt phản ứng của chúng và do đó tăng diện tích tiếp xúc. Ngoài ra cần có máy trộn để đảm bảo cho các chất phản ứng tiếp xúc khăng khít nhất. Khi đó người ta sử dụng nhiều loại máy trộn : kiểu guồng xoắn ốc có chèo hay cánh; tang quay có quả lăn và không có quả lăn; kiểu máy xay và nhiều loại thiết bị nghiền khác (con lăn trục cán) trong đó các chất không những được nghiền mà còn được trộn với nhau. Nếu các chất được hòa tan vào các chất lỏng, chúng cũng cần được khuấy trộn. Khi đó các phân tử của các chất phân bố đều trong toàn thể dung dịch, chúng tiếp xúc với nhau tốt hơn và nhiều hơn, do đó đảm bảo cho phản ứng hóa học tiến hành hoàn toàn và nhanh hơn.
   Việc khuấy trộn có thể tiến hành trước khi phản ứng bắt đầu trong những máy trộn đặc biệt cũng như tiến hành trong các lò phản ứng có các thiết bị khuấy trộn đặc biệt dùng vào mục đích đó. Trong nhiều quá trình hóa học mức độ hoàn toàn của các phản ứng xảy ra phụ thuộc rất nhiều vào cường độ khuấy trộn.
   Do sự trộn người ta thu được : hỗn hợp, dịch bùn (huyền phù của những phân tử rắn trong chất lỏng), nhũ tương, dung dịch và do phản ứng hóa học người ta thu được những chất mới. Sự khuấy trộn cũng được ứng dụng để hòa tan muối, pha loãng dung dịch, gây nhũ tương, trong quá trình kiềm hóa, rửa,...
  Việu lựa chọn phương pháp khuấy trộn, cấu tạo của máy trộn và những thiết bị khác phụ thuộc chủ yếu vào trạng thái các chất phản ứng và đặc điểm tương tác giữa chúng với nhau. Trong công nghiệp người ta thực hiện trộn các chất khí, các chất lỏng, các chất rắn và hỗn hợp của chúng (chất khí với chất lỏng hay với chất rắn, chất lỏng với chất rắn...). Ta biết rằng các phản ứng hóa học sẽ tiến hành có hiệu quả hơn và nhanh hơn trong trường hợp hỗn hợp phản ứng ở trạng thái khí hoặc lỏng hay hỗn hợp các chất đã hòa tan vào dung môi nào đó,...
  Sự trộn các chất khí thực hiện đơn giản hơn và dễ hơn, vì các phân tử chất khí có khả năng chuyển động tự do hơn các phân tử chất lỏng. Thí dụ, trong mỗi khoảnh khắc có khoảng 1012 phân tử khí va chạm vào một centimet vuông của thành bình, tức là có hàng triệu triệu va chạm xảy ra. Với mục đích đó người ta sử dụng máy trộn dùng luồng khí (hoạt động trên cơ sơ va chạm của hai luồng khí), những thiết bị khác nhau có màng ngăn hay vòi.
  Có thể thực hiện trộn các chất lỏng bằng những máy khuấy trộn kiểu khác nhau (dùng cánh, khung, mỏ nẹo, chân vịt), cũng như bằng cách làm sủi : cho các chất khí lội qua chất lỏng. Việc trộn với cường độ cao đặc biệt cần trong trường hợp các chất phản ứng không hòa tan được với nhau (chẳng hạn, nhựa phenolfomandehit và nước).

Offline vickyromance

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
phân tích điện hóa
« Trả lời #38 vào lúc: Tháng Mười 23, 2007, 12:46:49 AM »
help mình với , có bạn nào biết cách xã định : hàm lương chì bằng phương pháp Von-Ampe hòa tan bằng điện cực màng thủy ngân không dzậy ????

Offline cupid_87_us

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 17
Re: đèn catod rỗng trong AAS
« Trả lời #39 vào lúc: Tháng Mười 23, 2007, 10:02:08 AM »
đèn catot rỗng trong AAS bạn đọc trong quyển phổ AAS của thầy phạm luận của  ĐH khoa học tự nhiên hà nội còn nếu ko thì hỏi thêm ở người chạy may phổ thôi chứ ko có tài liệu riêng đâu,mình cũng dang cần về phuơng pháp AAS nhưng không tìm thấy

Offline dinhthuyhang

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 24
Re: đèn catod rỗng trong AAS
« Trả lời #40 vào lúc: Tháng Mười Một 04, 2007, 11:43:38 PM »
Tớ có khá nhiều tài liệu về loại này, một phần theo tài liệu của thầy Phạm Luận, một phần tham khảo bên ngoài. Cho tớ địa chỉ tớ mail cho.
« Sửa lần cuối: Tháng Mười Một 05, 2007, 09:55:02 AM gửi bởi thantang.pro9999 »

Offline dinhthuyhang

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 24
Re: phân tích điện hóa
« Trả lời #41 vào lúc: Tháng Mười Một 04, 2007, 11:55:41 PM »
Tớ vẫn làm theo hướng dẫn trong catalogue. Lấy 40ml mẫu cho vào bình điện phân, thêm 100ul HCl 1:1, 100ul Hg2+ 1000mg/l, 100ul KCl bão hòa. Cho lên máy chạy.
Thêm 100ul dung dịch chuẩn Pb 10mg/l. Cho lên máy chạy.
Xác định theo phương pháp thêm chuẩn.
???
Tớ cũng không nhớ rõ lắm vì tớ làm khá lâu rồi. Nếu cần thì để tớ xem lại rồi reply sau.

Offline cupid_87_us

  • Nghĩ... Hóa học
  • *
  • Bài viết: 17
Re: đèn catod rỗng trong AAS
« Trả lời #42 vào lúc: Tháng Mười Một 06, 2007, 04:55:18 PM »
bạn có thể mail cho tớ theo địa chỉ:[email protected]

Offline dinhthuyhang

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 24
Re: đèn catod rỗng trong AAS
« Trả lời #43 vào lúc: Tháng Mười Một 08, 2007, 09:33:59 PM »
mail rồi đấy, nhận được chưa?
cậu định nghiên cứu đèn đơn nguyên tố hay đèn đa nguyên tố. mình đang nghiên cứu về đèn phóng điện ko điện cực EDL. cũng hay ho lắm. mỗi tội chỉ là lý thuyết suông. ko có điều kiện ngắm nghía xem nó mặt ngang mũi dọc thế nào.

Offline dinhthuyhang

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 24
Re: đèn catod rỗng trong AAS
« Trả lời #44 vào lúc: Tháng Mười Một 08, 2007, 10:43:58 PM »
Nghe bác quản trị mạng góp ý mà sợ quá. Post lên luôn nè.
Đèn catốt rỗng (HCL)
Đèn phát tia bức xạ đơn sắc được dùng sớm nhất và phổ biến nhất trong phép đo AAS là đèn catốt rỗng HCL. Đèn này chỉ phát ra những tia bức xạ nhạy của nguyên tố kim loại làm catốt rỗng. Các vạch phát xạ nhạy của một nguyên tố thường là các vạch cộng hưởng nên đèn catốt rỗng cũng được gọi là nguồn phát tia bức xạ cộng hưởng, nó là phổ phát xạ của các nguyên tố trong môi trường khí kém.

Về cấu tạo, đèn catốt rỗng gồm có ba phần chính: thân đèn và cửa sổ, các điện cực anốt và catốt, khí chứa trong đèn (là các khí trơ He, Ar hay N2)
Thân và vỏ: thân đèn gồm có vỏ đèn, cửa sổ và bệ đỡ các điện cực anốt và catốt. Bệ đỡ bằng nhựa PVC. Thân và vỏ đèn bằng thuỷ tinh hay thạch anh trong suốt trong vùng UV hay VIS là tuỳ thuộc vào loại đèn của từng nguyên tố phát ra chùm tia phát xạ nằm trong vùng phổ nào, nghĩa là vạch phát xạ cộng hưởng để đo phổ hấp thụ ở vùng nào thì nguyên liệu làm cửa sổ phải trong suốt ở vùng đó.

Điện cực: điện cực của đèn là catốt và anốt. Anốt được chế tạo bằng kim loại trơ và bền nhiệt như W hay Pt. Catốt đaược chế tạo có dạng xy lanh hình ống rỗng có đường kính từ 3 ÷ 5 mm, dài 5 ÷ 6 mm và chính bằng kim loại cần phân tích với độ tinh khiết cao (ít nhất 99,9%). Dây dẫn của thân đèn và cực catốt cũng là kim loại W hay Pt. Cả hai điện cực được gắn chặt trên bệ đỡ của thân đèn và cực catốt phải nằm đúng trục xuyên tâm của đèn (hình 3.1). Anốt đặt bên cạnh catốt hay là một vòng bao quanh catốt. hai đầu của hai điện cực được nối ra hai cực gắn chặt trên đế đèn để cắm vào nguồn điện nuôi cho đèn làm việc. Nguồn nuôi là nguồn một chiều có thế 220 ÷ 240 V. Các loại đèn HCL không dây thường có 4 cực, 2 cực cung cấp nguồn nuôi đèn, 2 cực còn lại gắn với vỉ mạch tích hợp ngay trong thân đèn, vỉ mạch này cung cấp thông tin về đèn gồm: nguyên tố, loại đèn, bước sóng, độ rộng khe, chế độ khe, cường độ dòng đèn được đề nghị. Khi đèn được lắp vào thiết bị, thiết bị thu nhận những thông tin này giúp cho việc lựa chọn và cân chỉnh đèn được nhanh chóng, thuận lợi và chính xác. Ngoài ra một đèn HCL hiện đại còn được trang bị bộ phận chỉ thị thời gian đã sử dụng đèn, thông tin này giúp người vận hành nắm được tình trạng của đèn cũng như có kế hoạch thay đèn khi cần thiết.

Khí trong đèn: trong đèn phải hút hết không khí và nạp thay vào đó là một khí trơ với áp suất từ 5 ÷ 15 mHg. Khí trơ đó là argon, heli hay nitơ nhưng phải có độ sạch cao hơn 99,99%. Khí nạp vào đèn phải không phát ra phổ làm ảnh hưởng đến chùm tia phát xạ của đèn và khi làm việc trong mọt điều kiện nhất định thì tỷ số giữa các nguyên tử đã bị ion hoá và các nguyên tử trung hoà phải là không đổi. Có như thế đèn mới làm việc ổn định.

Nguồn nuôi đèn: đèn được đốt nóng đỏ để phát ra chùm ia bức xạ cộng hưởng nhờ nguồn điện một chiều ổn định. Thế làm việc của đèn HCL thường là 250 ÷ 220V tuỳ thuộc vào từng loại đèn của của từng hãng chế tạo và tuỳ thuộc vào từng nguyên tố kim loại làm catốt rỗng. Cường độ làm việc của các đèn catốt rỗng thường là từ 3 ÷ 50mA và cũng tuỳ thuộc vào mỗi loại dèn HCL của mỗi nguyên tố do mỗi hãng chế tạo ra nó. Thế và cường độ dòng điện làm việc của đèn HCL có liên quan chặt chẽ với công để tách kim loại ra khỏi bề mặt catốt rỗng để tạo ra hơi kim loại sinh ra chùm tia phát xạ của đèn HCl.
Dòng điện qua đèn HCL của mỗi nguyên tố rất khác nhau. Mỗi đèn HCL đều có dòng điện giới hạn cực đại mà đèn có thể chịu đựng được và giá trị này được ghi trên vỏ đèn. Tất nhiên khi sử dụng không bao giờ sử dụng dòng điện cực đại đó mà thích hợp nhất là trong vùng từ 65 ÷ 85% giá trị cực đại. Vì ở cường độ dòng cực đại, đèn làm việc không ổn định và rất chóng hỏng đồng thời phép đo lại có độ nhạy và độ lặp lại kém.

Theo lý thuyết và thực nghiệm của thực tế phân tích theo kỹ thuật đo phổ hấp thụ nguyên tử, chỉ nên dùng cường độ dòng trong vùng từ 60 ÷ 85% dòng giới hạn cực đại đã ghi trên đèn HCL là tốt nhất. Muốn có độ nhạy cao, nên dùng cường độ dòng ở gần giới hạn dưới. Muốn có độ ổn định cao, nên dùng cường độ dòng ở gần giới hạn trên. Nhưng nên nhớ rằng cường độ dòng làm việc của đèn HCL và cường độ vạch phổ hấp thụ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nói chung trong nhiều trường hợp thì cường độ của vạch phổ hấp thụ tỷ lệ nghịch với cường độ dòng điện làm việc của đèn HCL, nhưng cũng có vài trường hợp không tuân theo quy luật đó.
 
Khi đèn làm việc, catốt được nung đỏ, giữa catốt và anốt xảy ra sự phóng điện liên tục, do sự phóng điện đó mà một số phân tử khí bị ion hoá. Các ion mới sinh sẽ tấn công vào catốt làm bề mặt catốt nóng đỏ và một số nguyên tử kim loại trên bề mặt catốt bị hoá hơi và nó trở thành các nguyên tử kim loại tự do. Khi đó dưới tác dụng của nhiệt độ trong đèn HCL đang được đốt nóng đỏ, các nguyên tử kim loại này bị kích thích và phát ra phổ phát xạ của nó. Đó chính là phổ vạch của chính kim loại làm catốt rỗng nhưng vì trong điều kiện đặc biệt của môi trường khí trơ có áp suất rất thấp nên phổ phát xạ đó chỉ  bao gồm các vạch nhạy của kim loại đó mà thôi. Đó chính là sự phát xạ của kim loại trong môi trường khí kém. Chùm tia phát xạ này là nguồn tia đơn sắc để chiếu qua môi trường hấp thụ để thực hiện phép đo AAS.

Các đèn catốt rỗng có cấu tạo như đã mô tả ở trên là những đèn HCL đơn nguyên tố. Nghĩa là mỗi đèn HCL đó chỉ phục vụ cho phân tích một nguyên tố. Ngày này ngoài các đèn HCL đơn, người ta cũng đã chế tạo được một số đèn kép đôi, kép ba hay kép sáu nguyên tố. Ví dụ các đèn kép đôi là (Ca, Mg), (Cu, Mn), (Cu, Cr), (Co, Ni), (K, Na), (Cu, Pb). Các đèn kép ba như (Cu, Pb, Zn) và đèn kép sáu là (Cu, Mn, Cr, Fe, Co, Ni). Để chế tạo ra các đèn kép này, catốt của đèn HCl phải là hợp kim của các nguyên tố đó. Hợp kim này phải có thành phần phù hợp, để sao cho cường độ phát xạ của các nguyên tố là gần tương đương nhau; nghĩa là sự phát xạ của kim loại này phải không được lấn át sự phát xạ của nguyên tố kia. Do đó phải chế tạo trong điều kiện dung hoà cho tất cả các nguyên tố. Ví dụ đèn HCL kép sáu của Cu, Mn, Cr, Co và Ni thì hợp kim làm catốt rỗng phải chứa 25% Cu, các nguyên tố khác có thành phần là 15%.

Xét về độ nhạy, nói chung các đèn kép thường có độ nhạy kém hơn các đèn đơn tương ứng, hay tốt nhất cũng chỉ gần bằng là cùng. Mặt khác về chế tạo lại khó khăn hơn đèn đơn. Vì thế cũng chỉ có một số đèn kép mà thôi và cũng chỉ được dùng trong một số trường hợp khi việc thay đổi đèn có ảnh hưởng đến quá trình phân tích và trong các máy nhiều kênh thì đèn HCL kép là có ưu việt hơn đèn hơn.
Đèn HCL làm việc tại mỗi chế độ dòng nhất định thì sẽ cho chùm sáng phát xạ có cường độ nhất định. Mỗi sự dao động về dòng điện làm việc của đèn đều làm ảnh hưởng đến cường độ của chùm tia sáng phát xạ (hình 3.2).Do đó trong mỗi phép đo cụ thể phải chọn một giá trị cường độ dòng điện phù hợp và giữ cố định trong suốt quá trình đo định lượng một nguyên tố.