Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Hỏi đáp về chất nổ, dây cháy chậm ....  (Đọc 80088 lần)

0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Chất nổ
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 04:04:59 PM »
RDX
Hexogen (còn được gọi là RDX, cyclotrimethylenetrinitramine, cyclonite, T4) là một loại thuốc nổ đựoc sử dụng rộng rãi trong quân sự và ngành công nghiệp ứng dụng. Các tên gọi khác của nó là cyclotrimethylene-trinitramine and cyclotrimethylene trinitramine.

Ở dạng tinh khiết, RDX có dạng tinh thể rắn, màu trắng. Nó tương đối nhạy nổ, thường đựoc sử dụng ở dạng hỗn hợp với các loại thuốc nổ khác có độ nhạy nổ kém hơn, hoặc với các chất phụ gia làm giảm độ nhạy nổ để nhồi vào trong các loại bom, đạn, mìn, tên lửa, rốc két. Nó ổn định trong tích trữ và đựoc xem là một trong những chất nổ mạnh nhất trong những loại thuốc nổ quân sự.

RDX là thành phần cơ bản trong rất nhiều loại thuốc nổ quân sự: composition A (hỗn hợp của RDX và xáp làm dẻo), composition A5, composition B (RDX+ TNT), composition C (hỗn hợp RDX, chất nổ khác, chất làm dẻo), composition D, HBX ( hỗn hợp RDX, TNT, bột nhôm, xáp), H-6, cyclotol và thuốc nổ dẻo C4 (hay còn có tên M112).

RDX cũng đựoc sử dụng như là thành phần chính trong nhiều loại thuốc nổ để kích nổ cho vũ khí hạt nhân.


Đặc tính
Tốc độ nổ của RDX ở mật độ 1.76 grams/cm³ là 8.750 m/s.

Nó là chất rắn không màu, ở mật độ lớn nhất theo lý thuyết 1.82 g/cm³. Nó đựoc tạo thành nhờ phản ứng cô đặc axit nitric với hexamine.

(CH2)6N4 + 4HNO3 → (CH2-N-NO2)3 + 3HCHO + NH4+ + NO3-

Nó là một mạch vòng, bắt đầu bị phân hủy ở khoảng 170°C và nóng chẩy ở 204°C. công thức phân tử của nó là: hexahydro-1,3,5-trinitro-1,3,5-triazine hay (CH2-N-NO2)3.


Lịch sử
Việc phát minh ra RDX được xác định từ khoảng những năm 1890, khi một người Đức tên là Hans Henning cung cấp nó như một loại thuốc y khoa. Đặc tính nổ của nó không đựoc khám phá đến tận năm 1920. Vào những năm 1920, RDX đã đựoc sản xuất bằng cách nitro hóa của hexamin.

RDX được sử dụng ở cả hai phe trong Đệ nhị thế chiến. Ở Vương quốc Anh RDX đã được sản xuất tại một nhà máy ở RGPF Waltham Abbey năm 1938 và tại một phòng nghiên cứu trong Xưởng chế tạo vũ khí và đạn dược Hoàng gia, Woolwich.

Có rất nhiều cách giải thích về tên gọi RDX theo các cách khác nhau (ví dụ Royal Demolition eXplosive: viết tắt là RDX). Ấn phẩm đầu tiên giới thiệu ở Anhdcos tên gọi RDXlà tên gọi chính thức xuất hiện vào những năm 1948.

Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Cộng đồng Hóa học H2VN

Re: Chất nổ
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 04:04:59 PM »

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Chất nổ
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 04:08:29 PM »
PETN
PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là môt trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PENT ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.

Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.

Tính chất
Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl acetate, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.

Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141°C.

Các thông số kỹ thuật:

 1.Nhiệt độ phát nổ 215°C
 2.Trị tương đương TNT: 1,66
 3.Trị thử khối chì: 52,3
 4.Năng lượng nổ: 5.8 MJ/kg

Ảnh hưởng tới môi trường
PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc sản phẩn không bảo quản. Theo một số báo cáo, PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, denitrat chuyển thành các trinitrat và dinitrat, pentaerythritol dinitrat là sản phẩm cuối cùng được biết đến, sau đó chưa rõ.

Điều chế
Nitrát hóa pentaerythritol, bằng hốn hợp axít sulfuric và axít nitric đậm đặc. Một phương pháp được ưa chuộng là ICI, theo phương pháp này, người ta nitrát hóa bằng riêng axít nitric đậm đặc, việc trộn axít có thể tạo ra các sản phẩm chứa lưu huỳnh không ổn định.


C(CH2OH)4 + 4HNO3 → C(CH2ONO2)4 + 4H2O


Lịch sử
Được điều chế lần đầu năm 1891 bởi Tollens và Wiegand bằng nitrát hóa pentaerythritol, thu được từ acetaldehyde và formaldehyde. PETN được trộn vào thuốc tạo khói yếu Thieme năm 1894. Sau khi Chính phủ Đức xác nhận và bảo hộ, PETN được khảo cứu tính nổ mạnh từ 1912, và sản xuất. Một số người cho rằng PETN được quân Đức dùng trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. [2]. Tuy nhiên, việc sử dụng này nếu có chỉ là thuốc nổ rời. Người Đức cho rằng những ứng dụng công nghiệp đầu tiên năm 1926, tên công nghiệp Pentaerythrit. Lúc này dược dùng làm kíp nổ và trộn với TNT làm thuốc nhồi đạn cỡ nhỏ.

PETN là một thành phần của thuốc nổ dẻo Semtex.



Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Chất nổ
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 04:10:57 PM »
HMX
HMX, thường gọi octogen hoặc cyclotetramethylene-tetranitramine.

Các tên khác: Octogen, Oktogen, beta-Hmy, beta-HMX, Tetramethylenetetranitramine, HW 4, CHEBI:33176, Cyclotetramethylene Tetranitramine, HSDB 5893, EINECS 220-260-0, octahydro-1,3,5,7-tetranitro-1,3,5,7-tetrazocane, tetrahexamine tetranitramine, LX 14-0 HW 4.

Như là RDX, có nhiều cách hiểu sai tên HMX, như: High Melting eXplosive (thuốc nổ khó nóng chảy), Her Majesty's eXplosive (thuốc nổ ma thuật) hay High-velocity Military eXplosive (thuốc nổ tốc độ cao).

Thật ra là "High-Molecular-weight rdX" (RDX có phân tử lượng cao). HMX là một chất nổ mạnh và an toàn.

Tính chất
Chất rắn không mầu nhiệt độ nóng chảy 276°C đến 286°C, Phân hủy 280°C, phát nổ 337°C mật độ cao nhất 1,91 g/cm³, mật độ tinh thể cao nhất khoảng 1,96.

Có tan nhưng không đáng kể trong nước: 20°C khoảng 5 mg/l.

Chịu nén tại 20°C: 4.4 10-14 mbar.

Năng lượng nổ: 5,7 MJ/kg.

Trị thử khối chì: 48.

Thể tích sinh khí: 0,9085 l/g

Trị tương dương TNT:1,7.

Nhậy nổ do va chạm: 7,4Nm.

Khó tan trong axít sulfuric và dung dịch kiềm soda, tan trong acetone ít hơn nhiều RDX. Bằng tính chất đó người ta tách HMX ra, HMX kết tinh trước, Dimethyl sulfoxide và Nitromethane còn lại.

Phân tử HMX gồm vòng 8, 4 nguyên tử carbon và 4 nguyên tử Nitơ xen kẽ nhau, mỗi nguyên tử Nitơ có một nhóm nitro bám vào. Vì phân tử lượng lớn, nên đây là một trong những chất nổ tốt nhất, như HNIW và octanitrocubane, giá trị của HMX tăng do an toàn.

Sản xuất
Nó được sản xuất bằng cách nitrat hóa hexamine có mặt acetic anhydride, paraformaldehyde và ammonium nitrate. RDX sản xuất bằng phương pháp Bachmann thông thường chứa 8%-10%HMX. HMX xuất hiện cùng RDX từ những năm 1930, nhưng người ta rất khó phân lập chúng. Điều này làm sản phẩm RDX không ổn định, do tỷ lệ HMX và các chất nổ khác thay đổi, nhưng lúc dó người ta chưa giải thích được thành phần HMX.

Đến đầu những năm 1940, người ta phát triển các phương pháp mới sản xuất RDX, nhưng phương pháp này làm tăng thành phần HMX trong đó, từ đó người ta tách riêng được HMX. Ở Đức phát triển phương pháp sản xuất RDX mới là phương pháp KA, gần giống phương pháp Bachmann, HMX được tinh chế và thí nghiệm các đặc tính, nhưng kết quả không cho thấy nó trội hơn RDX.

Năm 1940, W. E. Bachmann và John Sheehan phát triển phương pháp sản xuất RDX mang tên ông ở Mỹ, ông cũng nhận thấy đồng sản phẩm lạ làm tính chất của RDX không dồng đều. Đến năm 1943 ông tìm được cấu trúc phân tử của HMX và một phương pháp sản xuất nhiều HMX. Điều đó đưa HMX vào các ứng dụng.

Ứng dụng
Đây là một chất nổ rất mạnh, tin cậy, ổn định, những ưu điểm đó nó thay thế cho chất RDX. Ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực của thuốc nổ, như ngòi nổ bom hạt nhân, chất nổ dẻo, nhiên liệu tên lửa rắn.

Ứng dụng lớn của HMX là các đầu đạn có liều nổ lõm, nó ổn định khi bắn đi, thời điểm nổ chính xác và tốc độ truyền nổ nhanh rất cần thiết cho loại đầu đạn này.

Chất nổ HMX thông thường dùng làm thuốc nổ bằng dạng octol chứa 75%HMX, 25%TNT. Thuốc nổ này có thể nấu chảy, đúc. Thứ này dùng được ở đầu đạn xuyên phá, ở đó HMX không dễ kích nổ như RDX và rất mạnh.

HMX hay được dùng làm trạm truyền nổ, tốc độ truyền nổ cao tạo thuận lợi cho các thuốc nổ khác phát nổ đồng đều. Một kíp nổ bằng loại thuốc nổ khác kích nổ trạm truyền nổ HMX, trạm này lan truyền phản ứng nổ trong khối thuốc chính làm bằng loại thuốc nổ chậm hơn, vai trò của HMX như vậy còn được gọi là thuốc nổ trên. HMX cũng được dùng trong các dây truyền nổ do tính tin cậy cao. Dây truyền nổ có tốc độ truyền rất cao so với dây cháy.

HMX dùng trong động cơ tên lửa nhiên liệu rắn, nó tạo ra ít khói, điều này thuận lợi cho việc điều khiển tên lửa và khả năng địch phát hiện ra vị trí bắn.

Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Chất nổ
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 07:44:23 PM »
Chất nổ hạt nhân
Một loại chất nổ hạt nhân lạ, đang được Bộ Quốc phòng Mỹ phát triển, có thể làm lu mờ sự khác biệt quan trọng giữa vũ khí thông thường và hạt nhân. Nó cũng làm dấy lên sự lo ngại rằng các vũ khí được dựa trên công nghệ này có thể gây ra một cuộc chạy đua vũ trang mới.

Chất nổ hoạt động bằng cách kích thích hạt nhân của các nguyên tố nhất định giải phóng năng lượng song không liên quan tới phản ứng phân hạch hoặc tổng hợp hạt nhân. Năng lượng, được giải phóng dưới dạng bức xạ gamma, lớn gấp hàng nghìn lần so với chất nổ hoá học thông thường. Công nghệ này đã được đưa vào ứng dụng tại Công ty Militarily Critical Technologies List trực thuộc Bộ Quốc phòng. Nó có tiềm năng cách mạng hoá mọi khía cạnh của chiến tranh.

Trong nhiều năm, giới khoa học biết rằng hạt nhân của một số nguyên tố chẳng hạn như hafnium có thể tồn tại trong trạng thái năng lượng cao (chất đồng phân hạt nhân). Nó chậm chạp phân rã thành trạng thái năng lượng thấp bằng cách phát ra tia gamma. Chẳng hạn như hafnium-178m2, dạng đồng phân hạt nhân bị kích thích của hafnium-178, có chu kỳ bán rã 31 năm. Họ phát hiện tiến trình này có thể gây nổ khi Carl Collins và đồng nghiệp thuộc ĐH Texas chỉ ra rằng có thể làm cho hafnium-178m2 phân rã bằng cách sử dụng tia X năng lượng thấp bắn phá nó. Thí nghiệm đó giải phóng năng lượng lớn gấp 60 lần năng lượng đầu vào và có thể là lớn hơn nữa.

Trước khi sử dụng hafnium làm chất nổ, người ta phải ""bơm"" năng lượng vào hạt nhân của nó. Giống như các electron trong nguyên tử bị kích thích khi nguyên tử hấp thụ photon, hạt nhân hafnium có thể bị kích thích bằng cách hấp thụ photon năng lượng cao. Sau đó, hạt nhân trở lại trạng thái năng lượng thấp nhất của nó bằng cách phát ra một photon tia gamma. Ban đầu, các chất đồng phân hạt nhân được coi là một phương tiện dự trữ năng lượng song khả năng đẩy nhanh quá trình phân rã đã làm Bộ Quốc phòng Mỹ quan tâm. Họ đang xem xét sử dụng các vật liệu khác chẳng hạn như thorium và niobium.

Hiện phương pháp sản xuất liên quan tới việc bắn phá tantalum bằng proton, làm nó phân rã thành hafnium-178m2. Để làm được điều đó cần có lò phản ứng hạt nhân hoặc máy gia tốc hạt. Tuy nhiên, chỉ có thể sản xuất được một lượng nhỏ hafnium-178m2 mà thôi. Hiện Phòng nghiên cứu của Không quân Mỹ tại Kirtland, bang New Mexico, mua hafnium-178m2 từ Công ty nghiên cứu và phát triển SRS Technologies. Công ty này tinh lọc hafnium từ vật liệu hạt nhân còn thừa từ các thí nghiệm khác và đang thực hiện hợp đồng sản xuất nguồn hafnium-178m2 thí nghiệm với số lượng nhỏ, chưa tới 1 phần 10.000 của 1gr.
Trong tương lai, có thể có những phương pháp sản xuất hafnium-178m2 rẻ hơn chẳng hạn bắn phá hafnium thông thường bằng photon năng lượng cao. Hill Roberts, một nhà khoa học tại SRS, tin rằng công nghệ sản xuất hafnium-178m2 số lượng nhỏ sẽ ra đời trong vòng 5 năm nữa. Giá thành sản xuất sẽ cao, tương đương với uranium làm giàu (hàng nghìn đola/kg). Tuy nhiên, không giống uranium, có thể sử dụng hafnium-178m2 với bất kỳ số lượng nào vì nó không cần khối lượng lớn để duy trì phản ứng hạt nhân.

Chất nổ hafnium cực mạnh. Một gram chất đồng phân hạt nhân hafnium nhiễm điện hoàn toàn có thể chứa năng lượng mạnh hơn 50kg chất nổ TNT. Một vụ nổ chất đồng phân hạt nhân sẽ giải phóng tia gamma năng lượng cao, có khả năng giết mọi sinh vật sống trong khu vực gần kề. Nó gây ra ít bụi phóng hơn so với một vụ nổ phân hạch hạt nhân. Tuy nhiên, chất đồng phân hạt nhân chưa nổ sẽ bị phân tán dưới dạng các hạt phóng xạ nhỏ, làm cho nó trở thành một loại bom ""bẩn"", có thể gây ra các vấn để sức khoẻ lâu dài cho bất kỳ ai hít phải nó.



Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Chất nổ
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Sáu 14, 2009, 07:48:24 PM »
Chất nổ thế hệ mới: Mạnh hơn, an toàn hơn
Các nhà khoa học Đức vừa phát triển thành công một loại chất nổ thế hệ mới, mạnh hơn các loại chất nổ “truyền thống”, ít có khuynh hướng nổ đột ngột, và tạo ra ít chất khí độc hại hơn.

Trong nghiên cứu mới về loại chất nổ thân thiện với môi trường này, hai nhà khoa học Thomas M. Klapötke và Carles Miró Sabate cho biết rằng các loại chất nổ “truyền thống” được sử dụng rộng rãi trong quân sự, như TNT, RDX và HMX, có chứa nhiều carbon và sản sinh ra nhiều khí độc khi được kích nổ.

Các loại chất nổ “truyền thống” không chỉ làm ô nhiễm môi trường, mà còn có độ nhạy cao với các tác động vật lý, như sự va chạm mạnh và tia lửa điện, nên cực kỳ nguy hiểm khi sử dụng. Theo nhóm nghiên cứu, chất nổ thế hệ mới phải “xanh” hơn và an toàn hơn.

Để đáp ứng yêu cầu đó, Klapötke và Sabate đã dùng loại nguyên liệu mới tên là tetrazoles mà hầu hết năng lượng nổ của nó có nguồn gốc từ nitrogen thay vì carbon. Họ đã nhận diện được 2 loại tetrazoles có nhiều triển vọng và từ 2 loại nguyên liệu này, nhóm nghiên cứu đã tạo ra những “quả bom” bé xíu và kích nổ chúng trong phòng thí nghiệm.

Kết quả thử nghiệm cho thấy so với các loại thuốc nổ thông thường hiện nay, loại chất nổ mới này ít nhạy với chấn động hơn và phát ra ít khí độc hơn khi nổ.

Nghiên cứu này sẽ được công bố trên tập san Hóa học vật liệu của Hội Hóa học Hoa Kỳ ngày 24/6.

« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 14, 2009, 09:24:30 PM gửi bởi Commander »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Chất nổ
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 02:53:12 PM »
Các chất này, thường được gọi là các chất phá nổ, để đốt cháy bột và thuốc nổ.


Nhóm này bao gồm:

A. Ngòi an toàn và ngòi nổ.

Ngòi an toàn (ngòi chậm hoặc ngòi Bickford) là những bộ phận được thiết kế để chuyển ngọn lửa về phía bộ phận đánh lửa hoặc kíp nổ thông thường. Chúng thường được bao bọc bằng lớp vải dệt mỏng, được quét hoặc thấm cao su hoặc nhựa, có chứa một linear charge thuốc súng.

Ngòi nổ dùng để cuyển một hoặc hai bộ phận nổ, và thường bao gồm lõi pentrite hoặc thuốc nổ khác trong một lớp bọc không thấm nước bằng vải dệt hoặc nhựa (ngòi co giãn) hoặc trong vỏ bằng chì hoặc kẽm (ngòi được bọc chì hoặc kẽm). Trong một số trường hợp phần thuốc nổ được đặt sẵn, trong một lớp mỏng, trong mặt trong của ống nhựa.

Chúng hay được dùng nhất trong trong khai thác mỏ và mỏ đá và trong các điểm xây dựng của dân cư.

B. Nụ xoè hoặc Kíp nổ.

1. Nụ xoè bao gồm một hộp nhỏ, thường là bằng kim loại, chứa một hỗn hợp có thành phần cơ bản là trinitroresorcinate chì (styphnate) với tetrazene và nhiều chất dùng để oxy hoá và chất tác nhân giảm; ống của hỗn hợp chất nổ này thường có trọng lượng giữa 10 và 200mg. Các loại kíp này dùng để cố định hộp thuốc nổ và đánh lửa bột phóng.

2. Kíp nổ cọ sát hoặc ống bắn thường bao gồm hai kim loại đồng tâm hoặc ống các tông có chứa những hộp khác nhau. Các hộp thuốc nổ trong ống trong được đánh lửa bằng dây kim loại hình răng cưa và như vậy đốt cháy hộp thuốc ở giữa hai ống mà truyền sự đánh lửa. Giống như kíp được nêu ở phần (1) trên đây, ống bắn dùng để bắn bột phóng.

3. Kíp nổ có chứa lượng nhỏ chất nổ thêm một lượng, ví dụ như pentrite, hexogen hoặc tetryl trong một ống kim loại hoặc nhựa dưới một nắp bảo vệ chúng thường được dùng để đánh lửa những chất nổ đã được pha chế từ bột phóng và thường được đốt cháy bằng ngọn lửa từ ngòi an toàn dẫn tới chúng.

C. Bộ phận đánh lửa

Nhóm này bao gồm:

1. Bộ phận đánh lửa điện bao gồm một đầu ngòi điện và một lượng nhỏ bột đánh lửa, thường là thuốc súng.

Một đầu ngòi điện bao gồm hai vật dẫn điện được ở hai đầu cách điện của một dây tóc kim loại dẫn điện được hàn lại để tạo thành một cầu chịu điện; Dây tóc kim loại này được gắn trong một chuỗi hạt đánh lửa. Nó được dùng để đánh lửa hoặc tạo ra tiếng nổ.

2. Bộ phận đánh lửa hoá học như những bộ phận bao gồm một hình trụ có đựng một ống thuỷ tinh chứa đầy chất hoá học (ví dụ, axit sulphuric) và một lượng chlorat kali, hai chất này được tách biệt nhau bằng một màng kim loại. Khi ống thuỷ tinh này vỡ ra thì axit ăn màng kim loại (nó hoạt động như một yếu tố cản trở) và phản ứng với chlorate kali, tạo ra nóng gắt có khả năng đánh lửa bột hoặc ngòi an toàn.

D. Kíp nổ điện.

Kíp nổ diện bao gồm một đầu ngòi điện, được mô tả trong phần C.1 ở trên, trong một ống kim loại (hoặc có thể là nhựa), một lượng nhỏ chất nổ mồi (50 đến 500mg của một chất có thành phần cơ bản là azide chì) và một lượng lớn hơn chất nổ khác (Ví dụ, pentrite, hexogen hoặc tetryl).

Nhóm này cũng bao gồm kíp nổ điện được gọi là ngòi nổ điện. Những ngpòi nổ này thường được thu nhỏ, và đầu ngòi có thể được thay thế bằng việc hợp hất, trong thành phần đầu tiên chất cho thêm vào làm cho kết cấu có khả năng dẫn điện và có thể làm cho nó bị đốt cháy bằng phương pháp quy nạp.

Nhóm này không bao gồm:

a. Dải hoặc cuộn amorce paraffin được dùng trong đèn mỏ, không dùng làm nắp van đẩy của đồ chơi.

b. Những hàng hoá không chứa bất kỳ một lượng chất nổ hoặc dễ cháy nào (những nắp nhỏ, ống, thiết bị điện, vv..) chúng được phân theo bản chất của chúng theo riêng từng nhóm.

c. Vỏ ngòi và vỏ đạn có hoặc không có nắp.
« Sửa lần cuối: Tháng Sáu 15, 2009, 02:54:47 PM gửi bởi Commander »
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Chất nổ
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 02:59:22 PM »
C-4
C-4 hoặc Composition C-4 là một loại thuốc nổ dẻo rất phổ biến trong lĩnh vực quân sự. Thuật ngữ composition đựoc sử dụng cho bất kỳ loại thuốc nổ an định nào. Thuốc nổ "Composition A" và "Composition B" là các dạng khác nhau của thuốc nổ dẻo. C-4 có độ mạnh bằng 1.34 so với TNT.

Các hợp phần
C-4 được làm từ thuốc nổ, chất gắn kết, chất làm dẻo. Tương tự như nhiều loại thuốc nổ dẻo khác, chất nổ trong thuốc nổ C-4 là Hexogen (cũng được biết với cái tên cyclonit hoặc cyclotrimethylene trinitramine), chiếm 91% theo trọng lượng. Chất làm dẻo là di(2-ethylhexyl) hoặc dioctyl sebacate (chiếm 5.3%), và chất gắn kết là polyisobutylene (chiếm 2.1%) và các chất phụ gia khác. Tốc độ nổ của C-4 là 8,040 m/s.

Sự tiện dụng
Sự tiện dụng của C-4 là nó dễ nặn thành bất kỳ hình dạng nào theo mong muốn. C-4 có thể ấn vào cá khe hở, các lỗ trong các tòa nhà, cầu và các trang thiết bị. Nó cũng dễ dàng nhồi vào trong các vật có hình dạng lõm tạo ra hiệu ứng đặc biệt, lượng nổ lõm. C-4 cũng là loại thuốc nổ có độ an định cao, tin cậy và an toàn. Nó không nổ ngay cả khi bắn vào nó một viên đạn,cắt, hay ném vào trong lửa. Chỉ có phương pháp tin cậy để gây nổ cho C-4 là sử dụng kíp nổ, ngòi nổ hoặc trạm truyền nổ kích cho nó nổ. Tuy nhiên việc dùng áp lực kết hợp với nhiệt độ thường sẽ làm cho nó nổ.

Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Chất nổ
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 03:04:37 PM »
Thuốc phóng
Thuốc phóng là chất khi chịu tác động bởi xung nhiệt hay tia lửa từ bên ngoài thì cháy tạo nên một lượng khí lớn đẩy một vật thể đi. Các vật thể đẩy đi có thể là đầu đạn, tên lửa, rốc két. Thuốc phóng có thể ở dạng chất rắn, chất lỏng, hoặc chất khí. Các loại thuốc phóng được dùng trong quân sự là nhiên liệu đẩy động cơ phản lực, nhiên liệu đẩy rốc két, thuốc đen, thuốc phóng không khói.

Phân loại
 1.Theo dạng
 -Thuốc phóng rắn
 -Thuốc phóng dạng lỏng
 -Thuốc phóng dạng khí
 2.Theo khí sinh ra
 -Thuốc phóng có khói (thuốc đen): loại thuốc hỗn hợp dạng bột vụn màu đen hay xanh thẫm, dạng viên nhỏ đường kính 5-10 mm, khói độc, thành phần của thuốc nổ gồm 75% nitratkali, 15% than gỗ, 10% lưu huỳnh.
 -Thuốc phóng không khói: thành phần chính là Nitroxenlulo
 3.Theo thành phần
 -Thuốc phóng đơn
 
-Thuốc phóng hỗn hợp

Thuốc phóng dạng rắn
Trong lĩnh vực thuật phóng (nghiên cứu sự chuyển động của đường đạn) và thuật làm pháo hoa, thuốc phóng là một dạng của chất nổ (chất nổ yếu) được sử dụng để đẩy đầu đạn từ súng bộ binh hoặc từ pháo nó phân biệt với chất nổ mạnh được nhồi trong các đầu đạn, bom, mìn ở tốc độ nổ của nó nhỏ (thông thường là sự cháy) và có thể điều khiển được. Một vài chất nổ như thuốc súng có thể sử dụng cho cả mục đích thuốc phóng hay thuốc nổ.

Chất phóng cháy rất nhanh nhưng vẫn có khả năng điều khiển được để tạo ra lực đẩy bởi khí hay áp xuất do đó làm tăng tốc đầu đạn hoặc rốc két. Các loại thuốc phóng thông thường nhất có thể dùng cho súng bộ binh, pháo và rốc két là:

 -Thuốc súng: thuốc đen, Nitrocellulose, thuốc phóng không khói, thuốc phóng hỗn hợp...
 -Một vài loại khác được sử dụng cho rốc két là Kali Nitorat kết hợp với đường và một vài chất phụ gia khác.

Thuốc phóng dạng lỏng
Thuốc phóng dạng lỏng là loại thuốc phóng được tạo thành bởi hỗn hợp của hai hay nhiều chất lỏng tạo nên. Loại này có khả năng sinh công rất lớn, có thể đẩy vật thể đi rất xa thông thường chúng được dùng trong tên lửa. các hỗn hợp điển hình là:

 -Hỗn hợp RFNA với dầu lửa hoặc RP-1
 -Hỗn hợp RFNA và UDMH
 -Dinitrogen tetroxide và UDMH, MMH và Hydrazine
 -Ôxy hóa lỏng và dầu lửa hoặc RP-1
 -Ôxy hóa lỏng và hiđrô ở dạng lỏng


Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Chất nổ
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 03:09:12 PM »
Vật liệu nổ
Vật liệu nổ là chất hóa học hay các hợp chất, các vật liệu có khả năng tạo thành một thể tích khí lớn (gấp 15.000 lần thể tích ban đầu), phát ra nhiệt độ cao (3000 - 4000 độ C), áp suất rất cao, trong thời gian rất ngắn (1/10000 giây). Các đặc trưng của một vật liệu nổ: Nó là một chất hóa học hay hợp chất hóa học khộng an định (không bền). Sự tăng lên đột ngột của chất nổ thường kết hợp bởi việc tạo ra nhiệt độ cao và thay đổi rất lớn về áp xuất. Chất nổ có khả năng tạo ra một vụ nổ khi có kích thích ban đầu. Các kích thích ban đầu có thể là các xung cơ học, đâm chọc, va đập, cọ sát, nhiệt

Các loại vật liệu nổ
Loại nổ mạnh
Đây là những chất nổ có thể nổ được mà không cần oxy cung cấp từ bên ngoài. Tốc độ nổ của chúng không thể hiệu chỉnh được. Thông thường tốc độ nổ của chúng từ 1000 đến 90.000 m/s.

Chất nổ mạnh bao gồm:

1.1. Chất nổ mồi.

Là chất nổ có độ nhạy nổ rất cao như azit chì, Stuphinat chì, Phuminát thủy ngân..

1.2. Chất kích nổ:

Là chất nổ có độ nhạy nổ cao hơn chất nổ thường, chúng gồm: RDX (Hexogen),PETN, Tetryl...

1.3. Thuốc nổ thông thường: Có độ nhạy nổ không cao, chúng gồm: TNT (tô lít), Comp-B, HBX, H6, C-4 (M112), Nitroglycerin, Tritonal.

Loại nổ yếu
Đây là các vật liệu nổ tạo ra vụ nổ yếu, tốc độ nổ của chúng thấp hơn. Tốc độ đốt cháy từ 1 đến 1000 m/s.

Loại điển hình: Thuốc nổ đen (Black Powder)là loại thuốc hỗn hợp dạng bột vụn màu đen hay xanh thẫm, dạng viên nhỏ đường kính 5-10 mm, khói độc, thành phần của thuốc nổ gồm 75% nitratkali, 15% than gỗ, 10% lưu huỳnh.

Ứng dụng
Trong quân sự
Trong lĩnh vực quân sự các loại vật liệu nổ được nhồi vào trong đạn dược. Các loại thuốc phóng được nhồi vào trong các ống liều làm liều đẩy đạn đến mục tiêu. Việc chọn loại thuốc phóng và khối lượng thuốc phóng sử dụng trong ống liều quyết định đến tầm bắn của đạn.

Trong dân sự
Trong dân sự một số loại thuốc nổ uy lực trung bình sẽ được sử dụng vào khai thác than, đá, sử dụng trong một số lĩnh vực công nghiệp. Thuốc phóng là nguyên liệu để sản xuất pháo hoa.




Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Thuốc nổ
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 08:47:06 PM »
Thuốc nổ là loại vật liệu mà có cấu tạo hóa học, hay năng lượng, không bền. Thông thường nó tạo ra sự bùng nổ của vật liệu và đi kèm với nhiệt lượng và sự thay đổi lớn về áp suất (điển hình còn có ánh sáng lóe lên và tiếng nổ lớn) và hiện tượng trên được gọi là sự nổ.

Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Thuốc nổ
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 08:47:52 PM »
Phân loại thuốc nổ
-Theo thành phần: đơn chất (hóa hợp), đa chất (hỗn hợp);
-Theo trạng thái: có lỏng, rắn, khí và dẻo;
-Theo công dụng: thuốc nổ chính và thuốc gây nổ;
Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Thuốc nổ
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 08:56:14 PM »
Một số loại thuốc nổ thường dùng ở Việt Nam
Thuốc gây nổ Fuminat thủy ngân Hg(ONC)2
Thuốc nổ ở dạng hóa hợp, có tinh thể màu trắng hoặc màu tro, độc, khó tan trong nước lã, nhưng tan trong nước sôi.

-Tính năng: rất nhạy nổ với va đập cọ sát, tốc độ nổ 5.040 m/s. Dễ bắt lửa, khi bắt lửa nổ ngay, ở nhiệt độ 160-170°C tự nổ. Dễ hút ẩm, khi bị ẩm sức nổ kém đi và có thể không nổ. Tác dụng mạnh với axít, nếu là axít đặc tạo ra phản ứng nổ. Khi tiếp xúc với nhôm sẽ ăn nát nhôm phản ứng tỏa nhiệt.
-Công dụng: nhồi vào các loại kíp, đầu nổ của bom, đạn.

Thuốc nổ phá
Tô lít
Còn gọi là TNT (trinitrotoluen) công thức hóa học CH3C6H2(NO2)3.

Thuốc nổ ở dạng hóa hợp, tinh thể cứng màu vàng nhạt, tiếp xúc với ánh sáng ngả màu nâu, vị đắng, khó tan trong nước, tan trong dung môi hữu cơ (cồn, ête, benzen, aceton), khói độc.

-Tính năng: an toàn khi va đập, cọ sát, đạn súng trường bắn xuyên qua không nổ, tốc độ nổ 7.000 m/s. Đốt khó cháy, ở nhiệt độ 81°C thì chảy, 310°C thì cháy, khi cháy có ngọn lửa đỏ, khói đen, mùi nhựa thông và không nổ, nếu cháy ở nơi kín có thể cháy nổ. Rất ít hút ẩm, thuốc đúc hầu như không hút ẩm, thuốc đúc và ép có thể dùng dưới nước, thuốc bột dễ ngấm nước, khi bị ẩm dù phơi khô vẫn không nổ. Không tác dụng với kim loại. Gây nổ bằng kíp số 8, thuốc đúc khó gây nổ hơn, muốn gây nổ phải có thuốc nổ mồi bằng TNT ép hoặc thuốc nổ mạnh.
-Công dụng: dùng rộng rãi trong phá các vật thể (đất, đá, gỗ...) làm thuốc nổ chính trong bom, mìn, đạn pháo,...Trộn với thuốc nổ khác làm dây nổ.

Thuốc nổ dẻo C4
Thuốc nổ dẻo C4 là hỗn hợp có thành phần 85% hexogen, 15% xăng crep, có dạng dẻo dễ nhào nặn.

Tính năng: va đập cọ sát an toàn, đốt khó cháy. Không hút ẩm, không tan trong nước, không tác dụng với kim loại. Gây nổ bằng kíp số 8.
Công dụng: uy lực nổ lớn hơn TNT nên thường làm lượng nổ phuc, nhồi vào đạn lõm. Với tính dẻo dễ nặn theo mọi hình thù nên thường dùng trong công trình công binh, sử dụng phá hoại công trình.

Thuốc nổ yếu
Loại thuốc đen
Là loại thuốc hỗn hợp dạng bột vụn màu đen hay xanh thẫm, dạng viên nhỏ đường kính 5-10 mm, khói độc, thành phần của thuốc nổ gồm 75% nitrat kali, 15% than gỗ, 10% lưu huỳnh.

-Tính năng: rất dễ bắt lửa, chỉ cần tàn lửa cũng làm thuốc bốc cháy và nổ. Rất dễ hút ẩm, bị ẩm nhiều không sử dụng được.
-Công dụng: làm thuốc dẫn lửa trong dây cháy chậm, làm thuốc phóng trong phóng đá, phóng mìn.

Sử dụng
Dùng để nhồi vào hạt lửa, bộ lửa đạn pháo, kíp nổ, đạn hỏa thuật, liều phóng các loại đạn dược... hoặc dùng trong công nghiệp...

Phản ứng hóa học của thuốc nổ
Một phản ứng hóa học của thuốc nổ là một hợp chất hoặc hỗn hợp, dưới tác dụng của nhiệt và sốc, phân rã hay tái sắp xếp cực kỳ nhanh chóng, thu được rất nhiều khí và nhiệt. Một số chất không được xếp vào hàng thuốc nổ có thể thực hiện một hoặc hai trong số các việc kể trên. Ví dụ như, một hỗn hợp của nitro và oxy có thể phản ứng cực nhanh và tạo ra sản phẩm khí là NO, nhưng hỗn hợp trên không phải là thuốc nổ vì không sinh ra nhiệt mà hấp thụ nhiệt.

N2 + O2 → 2NO - 43.200 calories (hay 180 kJ) cho một mole N2

Để một chất hóa học trở thành thuốc nổ nó phải có biểu hiện về:

-Sự giãn nở nhanh (sản sinh nhanh khí hay nung nóng nhanh khí xung quanh)
-Tỏa nhiệt
-Phản ứng nhanh
-Sự khởi đầu của phản ứng.



Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Thuốc nổ
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 09:14:18 PM »
Thuốc nổ trong quân đội
Để xác định tính tương thích của một chất nổ với mục đích của quân đội, những đặc tính vật lý của nó phải được kiểm nghiệm kỹ lưỡng. Tính hữu dụng của một chất nổ chỉ có thể được đánh giá cao khi những đặc tính này đã được hiểu xuyên suốt. Rất nhiều loại thuốc nổ đã được nghiên cứu trong những năm gần đây để xác đinh tính tương thích với các mục đích của quân đội và phần lớn tỏ ra không phù hợp. Một số loại có thể được chấp nhận nhưng vẫn còn một số tính chất ngoài ý muốn và vì thế hạn chế tính hữu dụng của chúng trong các ứng dụng của quân đội. Yêu cầu cho chất nổ trong quân đội rất nghiêm ngặt và rất ít chất nổ sở hữu những tính chất tiêu chuẩn này. Một số tính chất khá quan trọng là:

Tính khả dĩ và giá thành
Trong bối cảnh của chiến tranh hiện đại, khối lượng thuốc nổ cần sử dụng rất khổng lồ. Vì thế thuốc nổ phải được sản xuất từ các vật liệu thô rẻ tiền, không có tính chiến lược và đáp ứng được nhu cầu với số lượng lớn. Hơn nữa, quy trình sản xuất phải đáp ứng được yêu cầu đơn giản, rẻ tiền và an toàn.

Tính nhạy nổ
Khi nói tới chất nổ, tính chất này đại diện cho điều kiện mà nó có thể bắt cháy hoặc phát nổ, ví dụ như lượng và cường độ của sốc, nhiệt hay ma sát tối thiểu. Khi cụm từ tính nhạy nổ được sử dụng, nên cẩn thận để làm rõ là tính nhạy nổ gì. Tính nhạy nổ tương đối của một loại chất nổ với va chạm có thể khác xa với ma sát hay nhiệt. Một số phương pháp kiểm tra để xác định tính nhạy nổ như sau:

-Tính nhạy nổ do va chạm: được biểu thị bằng khoảng cách mà một khối lượng tiêu chuẩn khi rơi xuống khiến cho chất đó phát nổ.
-Tính nhạy nổ do ma sát: được biểu thị bằng mức độ xảy ra khi một con lắc chà ngang vật liệu (chỉ chà xát, lách tách, bắt cháy hoặc phát nổ)
-Tính nhạy nổ do nhiệt: được biểu thị bằng nhiệt độ mà sự nhá sáng hay nổ của vật liệu xảy ra
-Tính nhạy nổ là một điều quan trọng cần lưu tâm tới khi lựa chọn một loại thuốc nổ cho mục đích riêng biệt nào đó. Thuốc nổ trong một quả pháo phải tương đối kém nhạy, nếu không thì sóng chấn động có thể khiến nó nổ trước khi nó xuyên tới nơi mong muốn. Hay như thấu kính chất nổ xung quanh một trái bom hạt nhân phải cực kỳ kém nhạy để giảm thiểu nguy cơ nổ do tai nạn.

Tính bền vững
Tính bền vững là khả năng của một chất nổ có thể được lưu trữ mà không bị giảm chất lượng. Những nhân tố sau có ảnh hưởng đến sự bền vững của một chất nổ:

Thành phần hóa học: một mặt rất điển hình là các chất nổ thông thường có thể phát nổ khi bị nung lên, chứng tỏ có gì đó không bền trong cấu trúc của chúng. Mặc dù chưa có một giải thích chính xác nào được tạo ra cho vấn đề này, người ta nhận thấy rằng một số nhóm chức như nitrite (-NO2), nitrate (-NO3), azide (N3) tạo nên trạng thái "căng" bên trong. Tăng thêm sự căng này bằng cách nung nóng lên có thể tạo ra sự đứt gãy đột ngột của phân tử và sự nổ dây chuyền. Trong một số trường hợp, trạng thái không bền này của phân tử lớn đến nỗi sự phân rã xảy ra ngay cả ở điều kiện thường.
Nhiệt độ lưu trữ: mức độ phân rã của một loại chất nổ tăng khi nhiệt độ tăng. Tất cả chất nổ của quân đội được xem là có mức bền vững cao ở nhiệt độ từ -10 tới +35°C, nhưng mỗi loại có một nhiệt độ cao mà sự phân rã gia tăng nhanh chóng và tính bền vững giảm rõ rệt. Như điều không thể phá vỡ, phần lớn các chất nổ trở nên không bền một cách nguy hiểm khi nhiệt độ vượt quá 70°C.
Sự chiếu sáng: nếu tiếp xúc với tia cực tím của mặt trời, nhiều loại chất nổ có chứa nhóm nitrogen sẽ phân rã nhanh chóng, ảnh hưởng đến tính bền vững của chúng.
Sự phóng điện: sự tích điện hay tia lửa điện để phát nổ rất thường thấy trong các loại chất nổ. Tĩnh điện hoặc sự giải phóng điện tích có thể đủ để gây nổ trong một số trường hợp. Kết quả là để an toàn khi giữ những chất nổ hay pháo hiệu cần phải nối đất cho chúng.

Sức mạnh
Từ "sức mạnh" (hoặc chính xác hơn là sự hoạt động) được áp dụng cho một chất nổ để ám chỉ cho khả năng để thực hiện công. Trong thực tế nó được định nghĩa như khả năng của chất nổ để thực hiện theo mục đích chủ định trước. (như bắn các mảnh vỡ, luồng khí vận tốc cao, sốc khi nổ dưới nước,...). Sức mạnh của một loại chất nổ được xác định bởi một loạt các kiểm tra để xác nhận tính thích hợp với mục đích sử dụng.

Tính phân tán
Bên cạnh sức mạnh, thuốc nổ còn biểu thị một tính chất khác, đó là hiệu ứng phân tán hay tính phân tán, được phân biệt với tổng khả năng thực hiện công. Một bồn propane khi nổ có thể giải phóng nhiều năng lượng hóa học hơn một ounce nitroglycerin, nhưng cái bồn chỉ bị xé ra thành từng mảnh to bị xoắn lại trong khi vỏ kim loại bao quanh nitrolgycerin sẽ hóa thành bụi mịn. Tính chất này rất quan trọng trong thực tiễn khi xác định tính hiệu quả của chất nổ trong vỏ pháo, quả bom, lựu đạn và những thứ tương tự. Độ nhanh chóng mà một loại thuốc nổ đạt được áp suất đỉnh điểm là sự đo lường cho tính phân tán. Giá trị của tính phân tán được sử dụng chủ yếu ở Pháp và Nga.

Tỉ trọng

Tỉ trọng của một khối thuốc nổ là là khối lượng trên một đơn vị thể tích. Một số phương pháp có thể được sử dụng, như khối viên (pellet loading), khối ném (cast loading), và khối nén (press loading), và phương pháp được sử dụng tùy thuộc vào tính chất của loại chất nổ. Dựa trên phương pháp được sử dụng, một tỉ trọng trung bình có thể đạt được và nằm trong khoảng 80-99% tỉ trọng trên lý thuyết của loại thuốc nổ đó. Tỉ trọng cao có thể giảm độ nhạy bằng cách khiến cho vật liệu tăng sự chống chịu với ma sát bên trong. Tuy nhiên, nếu tỉ trọng tăng đến mức tinh thể bị nén chặt, thuốc nổ có thể trở nên nhạy hơn. Tăng tỉ trọng còn cho phép sử dụng nhiều thuốc nổ hơn, nhờ đó tăng sức mạnh của đầu đạn. Ta có thể nén một khối thuốc nổ vượt qua mức nhạy nổ, còn gọi là mức nén chết (dead-pressing), khi đó nó không còn khả năng phát nổ một cách đáng tin cậy nữa.

Tính dễ bay hơi
Tính dễ bay hơi, hay mức độ sẵn sàng bay hơi của một chất, là một tính chất không mong muốn của chất nổ sử dụng trong quân đội. Thuốc nổ chỉ được bay hơi rất nhẹ trong điều kiện chúng được chuyên chở và ngay cả ở nhiệt độ cao nhất mà chúng được lưu trữ. Sự bay hơi quá mức thường dẫn đến áp suất ngay trong viên đạn và tách hỗn hợp ra thành các thành phần cấu tạo. Tính bền vững, như được đề cập ở trên, là khả năng của một loại thuốc nổ có thể chịu được điều kiện lưu trữ mà không bị phân rã. Sự dễ bay hơi tác động đến cấu cạo hóa học của thuốc nổ như vậy có thể làm giảm tính bền vững và tăng sự nguy hiểm khi giữ chúng. Mức độ cho phép bay hơi tối đa là 2ml khí trong vòng 48 giờ.

Tính hút ẩm
Sự thấm hút của nước vào thuốc nổ là điều cực kỳ không mong muốn bởi nó làm giảm độ nhạy, sức mạnh và vận tốc phát nổ của thuốc nổ. Tính hút ẩm được sử dụng như xu hướng hấp thụ hơi nước của một loại vật liệu. Độ ẩm có ảnh hưởng không tốt vì đóng vai trò như một chất làm trơ và hấp thu nhiệt khi bay hơi hoặc như một dung môi và gây ra các phản ứng hóa học ngoài ý muốn. Độ nhạy, sức mạnh và vận tốc phát nổ bị suy giảm bởi chất trơ bởi nó làm giảm tính liên tục của khối chất nổ. Khi phần ẩm bốc hơi trong quá trình nổ, sự làm mát diễn ra, do đó làm giảm nhiệt độ của phản ứng. Tính bền vững cũng bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của hơi ẩm do nó kích thích quá trình phân rã và hơn nữa, ăn mòn vỏ kim loại chứa chất nổ. Do tất cả các nguyên nhân nói trên, tính hút ẩm phải được khắc phục trong chất nổ cho quân đội.

Mức độc hại
Do cấu trúc hóa học của chúng, phần lớn các loại thuốc nổ đều độc hại trên một phuơng diện nào đó. Bởi hiệu ứng của chất độc có thể rất khác nhau từ đau đầu nhẹ cho tới tổn thương nội tạng nghiêm trọng, phải luôn cẩn trọng với thuốc nổ để giảm thiểu nguy cơ bị nhiễm độc. Khí sản sinh ra bởi thuốc nổ cũng có thể là khí độc.



Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline Commander

  • ™†—»»»°√√iñg¯ ¯Çö²mänd€® :¶«««—†™
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 119
  • A di đà phật
Re: Thuốc nổ
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Sáu 15, 2009, 09:14:45 PM »
Chế tạo
Thuốc nổ đen có thể được chế tạo thủ công bằng cách trộn theo tỷ lệ trọng lượng 75%KNO3, 15%C, 10%S. Cacbon có thể được thu bằng cách đốt gỗ (như thân cây xoan) trong tình trạng hiếm khí rồi lọc qua lưới để được bột mịn. Lưu huỳnh và KNO3 cũng cần đem phơi khô rồi lọc qua lưới để được bột mịn.

Chân lý ở ngay cạnh lỗi lầm.
Con người tìm ra chân lý thường sau mỗi lần gõ cửa những lỗi lầm.

Offline lenam

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 8
Re: Chất nổ
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Sáu 17, 2009, 05:28:02 PM »
cho minh hỏi them nhé chất nổ ở kip nổ của đạn ak47 là gì