Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Kiến thức về công nghệ nano  (Đọc 139389 lần)

0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.

Offline nguyentannhat

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 283
    • Vật Liệu
Kiến thức về công nghệ nano
« vào lúc: Tháng Năm 28, 2006, 06:43:49 PM »
Công nghệ nano-Nguy cơ độc hại mớiHiệp hội Hoàng gia Anh (RSUK) cảnh báo ngành công nghiệp các nước cần cho biết họ kiểm tra các sản phẩm chứa cá hạt nano như thế nào.
Thông tin cho công chúng là cần thiết vì có những bằng chứng về sự không chắc chắn về mặt an toàn của của một số sản phẩm chứa các hạt được gia công ở kích cỡ nhỏ, RSUK nói.

Một thống kê mới về các sản phẩm tiêu dùng liệt kê trên 200 mặt hàng đang bày bán trên thị trường có sử dụng công nghệ nano.

Liên minh Thương mại Công nghệ Nano Châu Âu (ENTA) đáp lại rằng đã có cơ chế đảm bảo an toàn. “Có các quy định ngặt nghèo để đảm bảo rằng các sản phẩm là an toàn và phù hợp để công chúng sử dụng và các thành viên của chúng tôi đều tuân thủ các quy định này”, Del Stark, Giám đốc Điều hành ENTA nói
“Các thành viên của ENTA phải cam kết phát triển các công nghệ nano mới một cách an toàn và có trách nhiệm và chúng tôi đang làm việc chặt chẽ với các chính phủ để đảm bảo quy định này được thực thi”.

Những câu hỏi chưa được trả lời

Năm 2004, RSUK và Viện Hàn lâm Công nghệ Hoàng gia Anh Quốc (RAEUK) công bố báo cáo trong đố đề nghị có những kiểm soát chặt chẽ hơn ở châu Âu và Anh về một số khía cạnh của nghành công nghiệp nano.

Báo cáo đặc biệt lưu ý đến nguy cơ tiềm tàng của các hạt nano tự do có thể bay vào không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe người.

Các hạt kích thước nano thực ra đã tồn tại trong không khí và được tạo ra bởi quá trình đốt các nhiên liệu địa khai vả bởi các vụ phun trào núi lửa, v.v...

Tuy nhiên các nhà khoa học giờ đây có thể chế tạo sản phẩm từ các loại vật liệu có kích thước vô cùng nhỏ như thế để tạo cho sản phẩm có những tính năng đặc biệt.

Một số nghiên cứu cho thấy các hạt nano carbon là độc hại. Hạt nono tự do đang được sử dụng trong ngành mỹ phẩm và phụ gia thực phẩm

“Đây là lĩnh vực có thể này sinh những bất ổn về vấn đề an toàn”, Giáo sư Ann Dowling, trưởng nhóm báo cáo, nói.

Tuyên bố của RSUK cũng được soạn thảo cùng thời gian và một nhà nghiên cứu hàng đầu ở Anh cũng nói rằng chẳng có phản ứng gì từ các khuyến cáo của RSUK.

Giáo sư Anthony Seaton, Đại học Aberdeen, Anh Quốc, nói tại một hội nghị rằng các câu hỏi cụ thể nêu trong báo cáo về sự độc hại của các hạt nano và về việc kiểm soát tại nơi làm việc vẫn chưa được trả lời thỏa đáng.

“Có rất ít dấu hiệu cho thấy ai đó bớt chút thời gian suy nghĩ hoặc bỏ tiền ra để trả lời các câu hỏi này”, ông phàn nàn tại hội nghị hạt nano công nghiệp tổ chức ở Anh.
Hạt nano dùng trong công nghiệp là các mảnh vật liệu có đường kính nhỏ hơn 100 nanometre (phần tỷ của metre), tương đương một phần nghìn độ rộng của sợi tóc người

Vật liệu nano được tạo từ các loại kim loại, hợp kim, và gốm và ứng dụng rất nhiều trong sản xuất các loại kem dưỡng da, sơn, và các loại băng dính

Một thống kê trên internet liệt kê 231 sản phẩm được cho là sử dụng công nghệ nano đồng thời cho thấy khoa học vi mô ngày càng trở thành một phần cấu thành của cuộc sống hàng ngày.

Nguy cơ của các hạt nano, nhất là tác hại trường diễn, là ở chỗ chúng cõ thể xâm nhập vào các bộ phận cơ thể mà các hạt với kích cỡ lớn hơn không thể xâm nhập, nhất là qua đường thở

Chia sẻ quan điểm của RSUK, Giáo sư Seaton nhắc lại lịch sử kinh hoàng của amiăng (asbesto) vốn có hàng nghìn ứng dụng trong đời sống song cũng khiến hàng nghìn người chết vì nó.

Frederic Luizi, nghiên cứu viên và là giám đốc phát triển của nhà sản xuất ống nanocarbon NANACYL lại bác bỏ sự so sánh giữa vật liệu nano với amiăng.

Nhìều nhà sản xuất vật liệu nano đều tìm cách bao vây các hạt nano trong các vật liệu polimer hoặc dung dịch nhằm giảm nguy cơ hít phát trong quá trình gia công. Ngoài ra hầu hết sản phẩm tiêu dùng áp dụng công nghệ nano đều được chế tạo trong vật liệu composit giúp ngăn cản quá trình thóat ra ngoài môi trường của các hạt nano.

Tuy nhiên Tiến sỹ Luzi vẫn cảnh báo không thể xem thường nếu biết chỉ riêng với mỹ phẩm, nhân loại sẽ sử dụng chúng vào năm 2015 với tổng trị giá một nghìn tỷ USD.

(ST)
Nguyễn Tấn Nhật
mail: nguyentannhat@gmail.com

Cộng đồng Hóa học H2VN

Kiến thức về công nghệ nano
« vào lúc: Tháng Năm 28, 2006, 06:43:49 PM »

Offline Yugi

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 44
Hồi âm: Công nghệ nano-Nguy cơ độc hại mới
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Tám 12, 2006, 08:01:21 AM »
Bài sưu tầm này hay,

Ừ cái gì cũng có cái giá cũa nó cả phải không, đi đôi với cái lợi có cái hại,
Nếu cách đây hơn 20 năm thì PVC đã làm mưa làm gió trong cong nghệ polymer thì bây giờ nó hầu như dần dần duoc thay thế bằng nhựa khác do nó có nguy cơ phân hũy tạo Dioxin, tác hại cũa Dioxin thì khỏi nói rồi .
Vợ một cô, bồ một đống

Offline bigboy_2010

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 41
  • friend forever!!!
Hồi âm: Công nghệ nano-Nguy cơ độc hại mới
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Tám 14, 2006, 03:50:52 PM »
mình nghĩ là cái gì nó cũng có mặt lợi lẫn mặt hại, nếu biệt sử dung đúng thì lợi nhiều hơn hại, chứ cứ làm ko có phương pháp thì "lợi bất cập hại " , đó là điều đương nhiên.
Bạn bè là người ta có thể nói chuyện mà không cần dùng đến lời nói

Offline nguyentannhat

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 283
    • Vật Liệu
Hồi âm: Công nghệ nano-Nguy cơ độc hại mới
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Tám 14, 2006, 05:14:55 PM »
uh ! Mình đồng ý với ý kiến của bigboy  ! Không có cái gì là hoàn toàn hoàn hảo , cũng chẳng có cái gì hoàn toàn nguy hại cả ! Căn bản là phải làm thế nào để hạn chế tối đa những khuyết điểm của nó cũng như phát huy tối đa ưu điểm của nó ! Công nghệ nano cũng như PVC , mình không nên thấy nó độc hại mà kô dùng , cũng như thấy nó có nhiều ưu điểm quá thì dùng tràn lan , cuối cũng là ảnh hưởng xấu đến môi trường...
Mà thật sự vấn đề có nên đưa hay không đưa công nghệ nano vào cuộc sống đang là chủ đề tranh cãi giữa các tổ chức và các nhà môi trường ở nhiều quốc gia ! Nói chung còn chưa có kết luận chính xác là công nghệ nano ảnh hưởng như thế nào , mức độ ra sao đối với môi trường cả ! Nhưng mình tin rằng vật liệu nano sẽ được đưa vào cuộc sống trong một tương lai rất gần ! Khó có thể ngăn chặn được khả năng phát triển của công nghệ nano bởi những tính năng cực kì ưu việt của nó ... Chúng ta hãy chờ xem! :D
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 14, 2006, 05:22:16 PM gửi bởi nguyentannhat »
Nguyễn Tấn Nhật
mail: nguyentannhat@gmail.com

Offline vochongtre

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 7
Kiến thức về công nghệ nano
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Mười Một 18, 2006, 02:33:37 PM »
Phương pháp sử dụng phân tử mang gen di truyền ADN. Một nhóm các nhà nghiên cứu ở Mỹ, thuộc Phòng Thí Nghiệm Năng Lượng Quốc Gia Brookhaven – “U.S. Department of Energy's Brookhaven National Laboratory”, đã khám pha ra rằng có thể gia tăng tốc độ kết nối của các hạt phân tử nano dưới sự trợ giúp của phân tử mang các gen di truyền nòi giống là DNA.

Giống như các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh tiến bộ, có thể đạt hiệu suất cao hơn khi sử dụng các hạt phân tử kích thước nhỏ nano vào việc tạo năng lượng và lưu trữ các thông tin dữ liệu. Cách thức kiểm soát và kết nối các hạt phân tử rất nhỏ vào một hệ thống phân tử lớn hơn vẫn là một thử thách lớn đối với các nhà khoa học. Các kết quả của Phòng thí nghiệm Brookhaven, gồm các bước nghiên cứu theo hướng này, đã được xuất bản trong tạp chí của Hội Hóa Học Mỹ – “American Chemical Society”.

Người dẫn đầu cuộc nghiên cứu, tác giả Mathew Maye, một nhà hóa học ở Phòng Thí Nghiệm Brookhaven nói:“Hiểu được cách tự liên kết của các loại vật liệu có cấu tạo là các hạt phân tử kích thước nhỏ nano thì mới có thể ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực công nghệ nano, từ lĩnh vực quang học đến điện tử, cho đến các vật liệu từ trường”. Maye là một thành viên của nhóm gồm các nhà khoa học ở nhiều ban ngành khác nhau thuộc Khoa Sinh học của Phòng Thí Nghiệm Brookhaven và một trung tâm mới về Vật liệu Nano – “Center for Functional Nanomaterials” (CFN). Các nhà nghiên cứu đã tìm ra cách dùng DNA kép, rắn chắc để kiểm soát sự liên kết của các hạt phân tử vàng có kích thước nhỏ nano. Phương pháp kỹ thuật của nhóm nghiên cứu là lợi dụng khuynh hướng tự nhiên của các hạt phân tử để tạo nên các thành phần gọi là thành phần cơ bản, được biết đến dưới các ký tự mã hóa A, T, G và C.

Oleg Gang, nhà vật lý học ở Phòng Thí Nghiệm Brookhaven, dẫn đầu nhóm nghiên cứu nói: “Trong sinh học, DNA là một chất lưu trữ thông tin chính; trong khoa học nano, DNA là một vật liệu có cấu trúc tuyệt vời do khả năng tự lắp ráp một cách tự nhiên theo các nguyên tắc đã được lập trình sẵn khá cụ thể. Chúng ta đang phát triển những bước tiến đến việc kiểm soát sự lắp ráp của các vật thể nano vô cơ bằng việc sử dụng các vật liệu sinh học như DNA. Tuy nhiên, để thực sự biến điều lý thú này thành công nghệ kỹ thuật nano, chúng ta phải hiểu được sự tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau cực kỳ phức tạp trong một hệ thống phân tử lai tạo như vậy”.

Gắn DNA tổng hợp thường dùng trong phòng thí nghiệm lên trên các hạt phân tử vàng kích thuớc nhỏ nano; điều chỉnh DNA cho phù hợp để có thể chấp nhận và liên kết với DNA bổ sung đang định vị trên các hạt phân tử khác. Quá trình này hình thành nên các tập hợp gồm những bó sợi phân tử, hay các khối hạt vàng.

Maye nói:”Thật sự là giống một bản thiết kế. Chúng ta có thể ngồi xuống với một mảnh giấy, viết ra một trật tự DNA, và kiểm soát các hạt phân tử kích thước nhỏ nano kết nối với nhau”.

Một nhược điểm của quá trình liên kết này là việc dùng DNA chuỗi đơn, mà chuỗi này có thể bẻ về phía sau và bám trên bề mặt của các hạt vàng thay vì cố kết  xung quanh hạt nano. Cùng với nhiều dạng DNA chuỗi đơn hiện nay, tính linh động này có thể làm chậm quá trình liên kết rất nhiều. Trong cuộc nghiên cứu của Phòng Thí Nghiệm Brookhaven, các nhà nghiên cứu đã giới thiệu DNA chuỗi kép, có các phân đoạn cứng rắn chắc; DNA này buộc phải tác động vào các đoạn nối với chúng để dàn trải trên bề mặt các phân tử vàng, cho phép hiệu quả lắp ráp cao hơn.

Maye nói:“Với các tính chất của DNA, chúng ta có thể tăng động lực học liên kết, hoặc tốc độ kết nối phân tử, bằng các phương pháp tương đối đơn giản không bao gồm nhiều bước tổng hợp”.

Tại Nguồn năng lượng Synchrotron quốc gia Brookhaven – “Brookhaven's National Synchrotron Light Source”, nhóm nghiên cứu đã điều nghiên việc tổng hợp và lắp ráp các hệ phân tử kích thước nhỏ nano với nhiều phương pháp kỹ thuật, như sử dụng các tia sáng và eletron, cũng như dùng các tia X cường độ cao. Các nhà khoa học đang hướng đến việc cải thiện khả năng kiểm soát hệ thống phân tử hơn nữa, và bước kế tiếp là tập trung vào kích cỡ của khối hạt nano.

Quỳnh Thi dịch
hoahocvietnam.com

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
Re: Công nghệ nano-Nguy cơ độc hại mới
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Năm 04, 2007, 09:26:28 AM »
Chung ta phai chiu thoi dc cai nay thi mat cai kia ma .
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline mailinh

  • cuộc đời có những khúc quanh mà bạn không ngờ tới. đó là vì sao bạn luôn không được như ý muốn
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 240
Kiến thức về công nghệ nano
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Bảy 23, 2007, 10:41:01 AM »
1. Khoa học ứng dụng đi về đâu ?

 Xu hướng của khoa học ứng dụng ( bài này không đề cập đến khoa học cơ bản ) hiện nay là tích hợp lại để cùng nghiên cứu các đối tượng nhỏ bé có kích thước tiến đến kích thước của nguyên tử. Hàng ngàn năm trước đây, kể từ khi các nhà bác học cổ Hy Lạp xác lập các nguyên tắc đầu tiên về khoa học ( đúng hơn là siêu hình học ), thì các ngành khoa học đều được tập trung thành một môn duy nhất đó là triết học, chính vì thế người ta gọi họ là nhà bác học vì họ biết hầu hết các vấn đề của khoa học. Đối tượng của khoa học lúc bất giờ là các vật thể vĩ mô. Cùng với thời gian, hiểu biết của con người càng tăng lên, và do đó, độ phức tạp cũng gia tăng, khoa học được phân ra theo các ngành khác nhau như toán học, vật lí, hóa học, sinh học,... để nghiên cứu các vật thể ở cấp độ lớn hơn micro mét. Sự phân chia đó đang kết thúc và khoa học một lần nữa lại tích hợp với nhau khi nghiên cứu các vật thể ở cấp độ nano mét. Nếu ta gọi sự phân chia theo các ngành toán, lí, hóa, sinh là phân chia theo chiều dọc, thì việc phân chia thành các ngành khoa học nano, công nghệ nano, khoa học vật liệu mới,... là phân chia theo chiều ngang. Điều này có thể được thấy thông qua các tạp chí khoa học có liên quan. Ví dụ các tạp chí nổi tiếng về vật lí như Physical Review có số đầu tiên từ năm 1901, hoặc tạp chí hóa học Journal of the American Chemical Society có số đầu tiên từ năm 1879, đó là các tạp chí có mặt rất lâu truyền tải các nghiên cứu khoa học sôi nổi nhất trong thế kỷ trước. Trong thời gian gần đây, người ta thấy xuất hiện một loạt các tạp chí không theo một ngành cụ thể nào mà tích hợp của rất nhiều ngành khác nhau như tạp chí uy tín Nano Letters có số đầu tiên từ năm 2001, tạp chí Nanotoday có số đầu tiên từ năm 2003. Chúng thể hiện xu hướng mới của khoa học đang phân chia lại theo chiều ngang tương tự như khoa học hàng ngàn năm về trước. Bài này xin giới thiệu sơ lược về đối tượng của khoa học và công nghệ nano, đó là vật liệu nano.

2. Vật liệu nano là gì ?

 Vật liệu nano ( nano materials ) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đỉnh cao sôi động nhất trong thời gian gần đây. Điều đó được thể hiện bằng số các công trình khoa học, số các bằng phát minh sáng chế , số các công ty có liên quan đến khoa học, công nghệ nano gia tăng theo cấp số mũ. Con số ước tính về số tiền đầu tư vào lĩnh vực này lên đến 8,6 tỷ đô la vào năm 2004 . Vậy thì tại sao vật liệu nano lại thu hút được nhiều đầu tư về tài chính và nhân lực đến vậy? Bài này sẽ điểm sơ qua về vật liệu nano, các phương pháp chế tạo, tính chất lí hóa, và các ứng dụng của chúng.

 Khi ta nói đến nano là nói đến một phần tỷ của cái gì đó, ví dụ, một nano giây là một khoảng thời gian bằng một phần tỷ của một giây. Còn nano mà chúng ta dùng ở đây có nghĩa là nano mét, một phần tỷ của một mét. Nói một cách rõ hơn là vật liệu chất rắn có kích thước nm vì yếu tố quan trọng nhất mà chúng ta sẽ làm việc là vật liệu ở trạng thái rắn. Vật liệu nano là một thuật ngữ rất phổ biến, tuy vậy không phải ai cũng có một khái niệm rõ ràng về thuật ngữ đó. Để hiểu rõ khái niệm vật liệu nano, chúng ta cần biết hai khái niệm có liên quan là khoa học nano ( nanoscience ) và công nghệ nano ( nanotechnology ). Theo Viện hàn lâm hoàng gia Anh quốc thì :

 Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu tại các quy mô nguyên tử, phân tử và đại phân tử. Tại các quy mô đó, tính chất của vật liệu khác hẳn với tính chất của chúng tại các quy mô lớn hơn.

 Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng và kích thước trên quy mô nano mét.

 Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano và công nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Kích thước của vật liệu nano trải một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm. Để có một con số dễ hình dung, nếu ta có một quả cầu có bán kính bằng quả bóng bàn thì thể tích đó đủ để làm ra rất nhiều hạt nano có kích thước 10 nm, nếu ta xếp các hạt đó thành một hàng dài kế tiếp nhau thì độ dài của chúng bằng một ngàn lần chu vi của trái đất.

 3. Tại sao vật liệu nano lại có các tính chất thú vị ?

 Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước của chúng rất nhỏ bé có thể so sánh với các kích thước tới hạn của nhiều tính chất hóa lí của vật liệu. Chỉ là vấn đề kích thước thôi thì không có gì đáng nói, điều đáng nói là kích thước của vật liệu nano đủ nhỏ để có thể so sánh với các kích thước tới hạn của một số tính chất. Vật liệu nano nằm giữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu. Đối với vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớn của vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên các tính chất khác lạ bắt đầu từ nguyên nhân này.

 Chúng ta hãy lấy một ví dụ : Vật liệu sắt từ được hình thành từ những đô men, trong lòng một đô men, các nguyên tử có từ tính sắp xếp song song với nhau nhưng lại không nhất thiết phải song song với mô men từ của nguyên tử ở một đô men khác. Giữa hai đô men có một vùng chuyển tiếp được gọi là vách đô men. Độ dày của vách đô men phụ thuộc vào bản chất của vật liệu mà có thể dày từ 10-100 nm. Nếu vật liệu tạo thành từ các hạt chỉ có kích thước bằng độ dày vách đô men thì sẽ có các tính chất khác hẳn với tính chất của vật liệu khối vì ảnh hưởng của các nguyên tử ở đô men này tác động lên nguyên tử ở đô men khác.

 4. Chế tạo vật liệu nano như thế nào?

 Các vật liệu nano có thể thu được bằng bốn phương pháp phổ biến, mỗi phương pháp đều có những điểm mạnh và điểm yếu, một số phương pháp chỉ có thể được áp dụng với một số vật liệu nhất định mà thôi.

 - Phương pháp hóa ướt ( wet chemical )

 Bao gồm các phương pháp chế tạo vật liệu dùng trong hóa keo ( colloidal chemistry ), phương pháp thủy nhiệt, sol-gel, và kết tủa. Theo phương pháp này, các dung dịch chứa ion khác nhau được trộn với nhau theo một tỷ phần thích hợp, dưới tác động của nhiệt độ, áp suất mà các vật liệu nano được kết tủa từ dung dịch. Sau các quá trình lọc, sấy khô, ta thu được các vật liệu nano.

 Ưu điểm của phương pháp hóa ướt là các vật liệu có thể chế tạo được rất đa dạng, chúng có thể là vật liệu vô cơ, hữu cơ, kim loại. Đặc điểm của phương pháp này là rẻ tiền và có thể chế tạo được một khối lượng lớn vật liệu. Nhưng nó cũng có nhược điểm là các hợp chất có liên kết với phân tử nước có thể là một khó khăn, phương pháp sol-gel thì không có hiệu suất cao.

 - Phương pháp cơ học ( mechanical )

 Bao gồm các phương pháp tán, nghiền, hợp kim cơ học. Theo phương pháp này, vật liệu ở dạng bột được nghiền đến kích thước nhỏ hơn. Ngày nay, các máy nghiền thường dùng là máy nghiền kiểu hành tinh hay máy nghiền quay. Phương pháp cơ học có ưu điểm là đơn giản, dụng cụ chế tạo không đắt tiền và có thể chế tạo với một lượng lớn vật liệu. Tuy nhiên nó lại có nhược điểm là các hạt bị kết tụ với nhau, phân bố kích thước hạt không đồng nhất, dễ bị nhiễm bẩn từ các dụng cụ chế tạo và thường khó có thể đạt được hạt có kích thước nhỏ. Phương pháp này thường được dùng để tạo vật liệu không phải là hữu cơ như là kim loại.

 - Phương pháp bốc bay

 Gồm các phương pháp quang khắc ( lithography ), bốc bay trong chân không ( vacuum deposition ) vật lí, hóa học. Các phương pháp này áp dụng hiệu quả để chế tạo màng mỏng hoặc lớp bao phủ bề mặt tuy vậy người ta cũng có thể dùng nó để chế tạo hạt nano bằng cách cạo vật liệu từ đế. Tuy nhiên phương pháp này không hiệu quả lắm để có thể chế tạo ở quy mô thương mại.

 - Phương pháp hình thành từ pha khí ( gas-phase )

 Gồm các phương pháp nhiệt phân ( flame pyrolysis ), nổ điện ( electro-explosion ), đốt laser (laser ablation), bốc bay nhiệt độ cao, plasma. Nguyên tắc của các phương pháp này là hình thành vật liệu nano từ pha khí. Nhiệt phân là phương pháp có từ rất lâu, được dùng để tạo các vật liệu đơn giản như carbon, silicon. Phương pháp đốt laser thì có thể tạo được nhiều loại vật liệu nhưng lại chỉ giới hạn trong phòng thí nghiệm vì hiệu suất của chúng thấp. Phương pháp plasma một chiều và xoay chiều có thể dùng để tạo rất nhiều vật liệu khác nhau nhưng lại không thích hợp để tạo vật liệu hữu cơ vì nhiệt độ của nó có thể đến 9000 C.

 Phương pháp hình thành từ pha khí dùng chủ yếu để tạo lồng carbon (fullerene ) hoặc ống carbon, rất nhiều các công ty dùng phương pháp này để chế tạo mang tính thương mại.

 5. Trên thị trường vật liệu nano phân bố thế nào ?

 Y dược là thị trường lớn nhất tiêu thụ vật liệu nano, các ứng dụng hạt nano để dẫn truyền thuốc ( drug delivery ) đến một vị trí nào đó trên cơ thể là một trong những ví dụ về ứng dụng của hạt nano. Trong ứng dụng này, thuốc được liên kết với hạt nano có tính chất từ, bằng cách điều khiển từ trường để hạt nano cố định ở một vị trí trong một thời gian đủ dài để thuốc có thể khuyếch tán vào các cơ quan mong muốn.

 - Y dược : Hạt nano .

 - Hóa chất và vật liệu cao cấp : Ống nano .

 - Công nghệ thông tin, viễn thông : Vật liệu xốp nano .

 - Năng lượng : Lồng nano .

 - Tự động hóa : Chấm lượng tử .

 - Hàng không vũ trụ : Vật liệu cấu trúc nano .

 - Dệt : Sợi nano .

 - Nông nghiệp : Hạt chứa hạt nano (capsule)

 6. Vật liệu từ nano ứng dụng trong sinh học như thế nào ?

 Như trên đã nói, vật liệu nano chỉ có tính chất thú vị khi kích thước của nó so sánh được với các độ dài tới hạn của tính chất và đối tượng ta nghiên cứu. Vật liệu nano có khả năng ứng dụng trong sinh học vì kích thước của nano so sánh được với kích thước của tế bào ( 10-100 nm ), virus ( 20-450 nm ), protein ( 5-50 nm ), gen ( 2 nm rộng và 10-100 nm chiều dài ). Với kích thước nhỏ bé, cộng với việc “ngụy trang” giống như các thực thể sinh học khác và có thể thâm nhập vào các tế bào hoặc virus. Ứng dụng của vật liệu từ nano trong sinh học thì có rất nhiều [5], bài này chỉ đề cập đến những ứng dụng đang được nghiên cứu sôi nổi và có triển vọng phát triển đó là phân tách tế bào ( magnetic cell separation ), dẫn truyền thuốc (drug delivery), thân nhiệt cao cục bộ (hyperthermia), tăng độ sắc nét hình ảnh trong cộng hưởng từ hạt nhân (MRI contrast enhancement). Vật liệu nano dùng trong các trường hợp này là các hạt nano.

 7. Phân tách tế bào

 Trong sinh dược học, đôi khi người ta cần phải phân tách một loại tế bào đặc biệt nào đó ra khỏi các tế bào khác. Hạt từ nano có tính tương hợp sinh học (biocompatible) [6] được dùng để làm điều đó. Quá trình này gồm hai giai đoạn: dán nhãn cho tế bào (labelling) bằng các hạt nano từ; và phân tách các tế bào được dán nhãn bằng các dụng cụ phân tách. Các hạt nano từ được phủ bởi một loại hóa chất, thường được dùng là chất hoạt hóa bề mặt ( surfactant ) để làm tăng độ tương hợp sinh học và làm tăng khả năng ổn định trong dung dịch của hạt nano. Cơ chế dán nhãn tế bào giống như cơ chế mà các kháng thể nhận ra các kháng nguyên trong cơ thể. Ví dụ nếu ta phủ một lớp hóa chất miễn dịch đặc hiệu bên ngoài hạt nano thì chúng có thể bám vào các tế bào máu, các tế bào ung thư, vi khuẩn hoặc các thể golgi. Để phân tách các tế bào được đánh dấu, người ta dùng một dụng cụ tạo ra gradient từ trường bằng cách đặt một thanh nam châm chẳng hạn để hút các hạt nano từ đang liên kết với các tế bào và bằng cách đó, các tế bào được tách khỏi các tế bào khác không được đánh dấu.

« Sửa lần cuối: Tháng Bảy 23, 2007, 07:54:23 PM gửi bởi mailinh »
Mọc trên cát một loài hoa muống biển
Tím hết mình trên cát trắng bao la
Sao cát vô tình để một loài hoa nở
Vùi lấp thảm hoạ trên những đợt sóng về
Sóng cớ vỗ hoa hết mình tím mãi
Mong một ngày ... cát trắng nhận ra mình !

Offline kagaku

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 2
Re: hóa NANO và ứng dụng
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Tám 13, 2007, 12:54:53 AM »
Một bài viết rất bổ ích, huy vọng sẽ được đọc nhiều bài nữa của bạn về vấn đề này.

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
Re: hóa NANO và ứng dụng
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Tám 20, 2007, 03:33:21 PM »
Bai viet cua ban rat hay va bo ich thanks nha.
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
Re: Liên kết bền chặt với các hạt phân tử kích thước nhỏ nano
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Chín 07, 2007, 08:07:25 PM »
Thanks nha
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline mailinh

  • cuộc đời có những khúc quanh mà bạn không ngờ tới. đó là vì sao bạn luôn không được như ý muốn
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 240
Re: hóa NANO và ứng dụng
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Chín 19, 2007, 09:12:04 AM »
Tính chất mới của ống Nano cacbon     
 
Magnesium diboride (MgB2), lần đầu tiên được phát hiện có tính siêu dẫn vào năm 2001, mở ra khả năng ứng dụng lớn cho công nghệ do có nhiệt độ tới hạn cao (39 K - cao nhất trong các hợp kim), có giá rẻ và thành phần hóa học đơn giản.
Tuy nhiên, từ trường tới hạn trên (từ trường triệt tiêu tính siêu dẫn) chỉ là từ 14 đến 16 T và dòng tới hạn cũng chỉ đạt 2.104 A/cm2 ở 5 T. Hãy nhớ, MgB2 là vật liệu siêu dẫn loại 2, vì thế nó có 2 từ trường tới hạn và trường tới hạn trên là giá trị tới hạn triệt tiêu tính siêu dẫn, còn giá trị tới hạn dưới (thấp hơn) là giá trị tới hạn mà trường ngoài có thể xuyên vào vật liệu siêu dẫn. Ta biết rằng, để sử dụng các chất siêu dẫn trong các cuộn tạo từ trường, các gốm siêu dẫn có nhiệt độ tới hạn cao rất khó sử dụng nên hợp kim này là sự lựa chọn tuyệt vời.

Và mới đây, Serquis cùng các cộng sự đã lần đầu tiên thành công khi đồng thời tối ưu hóa 2 thông số trên bằng cách pha tạp vào vật liệu này các ống nano cácbon có tường đôi (Double-walled carbon nanotubes - DWNTs). Các mẫu khối MgB2 có chất lượng cao được chế tạo bằng phương pháp xâm nhập hơi Mg ở Centro Atómico Bariloche (Áchentina) và sau đó pha tạp các ống DWNTs, sau đó tiến hành đo các tính chất điện và từ bằng các thiết bị phổ thông như từ kế ... trong từ trường xung ở Phòng thí nghiệm từ trường cao (Los Alamos). Họ phát hiện ra rằng, khoảng 3,5% nguyên tử các DWNTs pha tạp vào có thể tạo ra tính chất tối ưu cho MgB2 với giá trị mật độ dòng tới hạn lên tới 5.104 A/cm2 (khi trường ngoài là 5 T) và từ trường tới hạn trên lên tới 44 K (ở nhiệt độ 5 K). Một giá trị khác cũng được ghi lại là từ trường tới hạn trên 41,9 T ở 4 K khi hàm lượng pha tạp là 10% nguyên tử. Điều này có nghĩa là từ trường tới hạn được cải thiện tới 3 lần trong khi mật độ dòng tới hạn cũng được nâng lên tới 2,5 lần. Các hàm lượng DWNTs được xác định chính xác bằng cách phân tích cấu trúc tinh thể bằng phương pháp nhiễu xạ tia X.

Theo công trình của nhóm vừa công bố trên tạp chí Superconductor Science and Technology, số 20, trang L12, các kết quả này có thể lý giải bằng 2 vai trò của DWNTs trong cấu trúc của MgB2. Đầu tiên, đó là các ống nanocarbon hòa tan một phần vào các ma trận MgB2, tác động như một nguồn cácbon làm tăng giá trị từ trường tới hạn lên giá trị cao nhất từng được quan sát. Thứ hai, đó là tỉ phần của ống nanocarbon giữ nguyên cấu trúc của nó, sẽ tác động như một tâm hãm các lốc xoáy (vortex pinning centres) trong MgB2, do đó làm tăng đáng kể giá trị mật độ dòng tới hạn. Điều này hoàn toàn có thể bởi đường kính ống cũng tương tự như chiều dài kết hợp của siêu dẫn MgB2

Các nhà vật lý cũng cho rằng sự tăng cường này có thể mô tả bằng một trong các mô hình lý thuyết đang được sử dụng như lý thuyết siêu dẫn 2 khe, như là MgB2. Và một phần khác là sử dụng vật liệu này trong các ứng dụng thực tế như nam châm siêu dẫn. Công trình này có thể là một hướng mở ra việc tạo ra các cuộn dây siêu dẫn có từ trường lớn nhờ việc cải thiện giá trị từ trường tới hạn.

Kế hoạch sắp tới của nhóm (hợp tác giữa Áchentina và Mỹ) là pha tạp MgB2 với các vật liệu nano khác nhằm cải thiện tính chất của vật liệu: "Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ sản xuất các dây MgB2 đầu tiên cho ứng dụng mà sử dụng hợp phần pha tạp DWNTs " - Serquis phát biểu trên Nanotechweb.org.

 Vũ Công Phong biên soạn
(Theo Belle Dumé - NanotechWeb.org)
hoahocvietnam.com
 
Mọc trên cát một loài hoa muống biển
Tím hết mình trên cát trắng bao la
Sao cát vô tình để một loài hoa nở
Vùi lấp thảm hoạ trên những đợt sóng về
Sóng cớ vỗ hoa hết mình tím mãi
Mong một ngày ... cát trắng nhận ra mình !

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
Hiệu ứng lá sen
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Chín 23, 2007, 08:15:02 PM »
Trong khoa học vật liệu, hiệu ứng lá sen chỉ sự không thấm nước của bề mặt một số lá cây, điển hình là lá sen. Nước bị đẩy lùi khỏi bề mặt của lá nhờ các sợi lông nhỏ mịn trên bề mặt.

Sen là loài nổi tiếng về sự sạch sẽ, dù mọc trong môi trường bùn lầy. Ca dao Việt Nam có câu:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Barthlott đã nghiên cứu và chứng minh sự liên quan giữa cấu trúc micro và các hợp chất hóa học trên bề mặt lá sen với khả năng chống bị ướt và tự làm sạch khỏi chất làm ô nhiễm. Nước rơi lên bề mặt lá sẽ lăn như những giọt hình cầu, cuốn đi bùn bẩn và vi trùng.
 
Hai giọt nước trên bề mặt lá sen

Người ta đã mô phỏng hiệu ứng này để tạo ra các vật liệu tự làm sạch, siêu kị nước dựa trên hiệu ứng này của tự nhiên. Chúng được ứng dụng để chế tạo sơn, ngói lợp mái nhà, vải hay các bề mặt khác cần tự làm sạch.
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline Paladin

  • Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 610
  • Học, học nữa, học mãi...
    • http://www.h2vn.com
Kiến thức về công nghệ nano
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Mười Hai 12, 2007, 10:03:45 AM »
Phương pháp nhiễu xạ tia X (X-rays)
1. Ứng dụng
Phương pháp nhiễu xạ tia X được dùng để nghiên cứu cấu trúc tinh thể vật liệu. Ngoài ra phương pháp này còn có thể ứng dụng để xác định động học của quá trình chuyển pha, kích thước hạt và xác định trạng thái đơn lớp bề mặt của xúc tác oxit kim loại trên chất mang.
2. Nguyên tắc
Theo lý thuyết cấu tạo tinh thể, mạng tinh thể được xây dựng từ các nguyên tử hay ion phân bố đều đặn trong không gian theo một quy luật xác định. Khi chùm tia Rơnghen (tia X) tới bề mặt tinh thể và đi vào bên trong mạng tinh thể thì mạng lưới này đóng vai trò như một cách tử nhiễu xạ đặc biệt. Các nguyên tử, ion bị kích thích bởi chùm tia X sẽ trở thành các tâm phát ra các tia phản xạ.

Nguyên tắc cơ bản của phương pháp nhiễu xạ tia X là dựa vào phương trình Vulf-bragg.
Với mối nguồn tia X ta có bước sóng lam-da xác định, khi thay đổi góc tới têta (ngại pott lại ảnh!), mỗi vật liệu có giá trị d đặc trưng. So sánh d với giá trị d chuẩn xẽ xác định được cấu trúc mạng tinh thể của chất nghiên cứu.
Khi các xúc tác oxit kim loại ở trạng thái đơn lớp bề mặt, các oxit kim loại tồn tại ở trạng thái vô định hình. Vì vậy trạng thái đơn lớp bề mặt của xúc tác oxit kim loại trê chất mang được xác định trên phổ XRD không có các pic đặc trưng cho sự có mặt của tinh thể oxit kim loại hoạt động.
Khi chuyển sang trạng thái đa lớp bề mặt, trên bề mặt xúc tác sẽ xuất hiện các tinh thể của kim loại, khi đó trên phổ XRD sẽ xuất hiện các pic đặc trưng cho sự có mặt của tinh thể oxit kim loại.
3. Ứng dụng để tính kích thước hạt nano
Để tính kích thước hạt nano ta dùng phương trình Debye - Scherrer:

K là thừa số hình dạng bằng 0,9
Do đó việc xác định các thông số từ phổ là việc rất cần thiết để tính kích thước hạt D
4. Phương pháp đọc phổ X-rays
- Khi nhận được một ảnh phổ X-rays việc đầu tiên mà ta phải để ý là: có pic đặc trưng không?
pic đặc trưng là pic cao nhất, thường nằm ở góc bên trái. Nếu không có pic này thì... bạn phải làm lại mẫu khác thôi vì các thông số trong trong phổ Xray là cho tinh thể. Khong có pic này thì mẫu bạn đem chụp không có tinh thể hoàn chỉnh  ???
- Xem trong mẫu đem chụp có những chất nào?
Bạn có thể nhìn xuỗng những dòng chữ phia cuối của phổ (từ ô vuông thứ 3 trở đi là ghi những chất trong mẫu. Ví dụ có 2 chất trong mẫu là Ce và CeO2 thì có thêm ô vuông thứ 3 và thứ 4 nữa. Mỗi chất xẽ được kí hiệu bằng một màu tương ứng trên phổ). Nếu chỉ có thêm 1 ô vuông thứ 3 thui thì mẫu đem chụp là tinh khiết.
- Quay lại với phương trình Debye - Scherrer, chúng ta sẽ xác định các thông số để tính D trong phương trình này:
+ Ở ô vuông đầu tiên:
ở đây ghi tên người chụp
ngày chụp...
sau đó là đến góc bắt đầu quét ảnh đến góc kết thúc quét ảnh
tốc độ quét ảnh. Ví dụ: 0,03 độ trên 0,3 giây chẳng hạn
anot của máy chụp xrays. Ví dụ Cu
Bước sóng chup (lam-da ý)  thường đo bằng đơn vị Ao(angtron)
+ Ở ô vuông thứ 2 là các thông số cho pic cực đại:
Lề phải của píc cực đại (left Angle)
Lề trái của píc cực đại (right Angle)
...
Kí tự gần cuối cùng là:
Chiều rộng ở nửa chiều cao pic cực đại (kí hiệu d(obs.Max))(beta)
Góc nhiễu xạ teta (kí hiệu là FWHM) được đo bằng đơn vị độ
Thay các thông số vào phương trình ta sẽ tính được kích thước hạt D.


Hết
Chúc các bạn thành công (nhất là trong lĩnh vực nano)  8)



(^_^)(*_*)

Offline Paladin

  • Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 610
  • Học, học nữa, học mãi...
    • http://www.h2vn.com
Re: Cách đọc phổ X_ray
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Mười Hai 12, 2007, 04:24:55 PM »
Phương pháp nhiễu xạ tia X (X-rays)
1. Ứng dụng
Phương pháp nhiễu xạ tia X được dùng để nghiên cứu cấu trúc tinh thể vật liệu. Ngoài ra phương pháp này còn có thể ứng dụng để xác định động học của quá trình chuyển pha, kích thước hạt và xác định trạng thái đơn lớp bề mặt của xúc tác oxit kim loại trên chất mang.
2. Nguyên tắc
Theo lý thuyết cấu tạo tinh thể, mạng tinh thể được xây dựng từ các nguyên tử hay ion phân bố đều đặn trong không gian theo một quy luật xác định. Khi chùm tia Rơnghen (tia X) tới bề mặt tinh thể và đi vào bên trong mạng tinh thể thì mạng lưới này đóng vai trò như một cách tử nhiễu xạ đặc biệt. Các nguyên tử, ion bị kích thích bởi chùm tia X sẽ trở thành các tâm phát ra các tia phản xạ.

Nguyên tắc cơ bản của phương pháp nhiễu xạ tia X là dựa vào phương trình Vulf-bragg.
Với mối nguồn tia X ta có bước sóng lam-da xác định, khi thay đổi góc tới têta (ngại pott lại ảnh!), mỗi vật liệu có giá trị d đặc trưng. So sánh d với giá trị d chuẩn xẽ xác định được cấu trúc mạng tinh thể của chất nghiên cứu.
Khi các xúc tác oxit kim loại ở trạng thái đơn lớp bề mặt, các oxit kim loại tồn tại ở trạng thái vô định hình. Vì vậy trạng thái đơn lớp bề mặt của xúc tác oxit kim loại trê chất mang được xác định trên phổ XRD không có các pic đặc trưng cho sự có mặt của tinh thể oxit kim loại hoạt động.
Khi chuyển sang trạng thái đa lớp bề mặt, trên bề mặt xúc tác sẽ xuất hiện các tinh thể của kim loại, khi đó trên phổ XRD sẽ xuất hiện các pic đặc trưng cho sự có mặt của tinh thể oxit kim loại.
3. Ứng dụng để tính kích thước hạt nano
Để tính kích thước hạt nano ta dùng phương trình Debye - Scherrer:

K là thừa số hình dạng bằng 0,9
Do đó việc xác định các thông số từ phổ là việc rất cần thiết để tính kích thước hạt D
4. Phương pháp đọc phổ X-rays

- Khi nhận được một ảnh phổ X-rays việc đầu tiên mà ta phải để ý là: có pic đặc trưng không?
pic đặc trưng là pic cao nhất, thường nằm ở góc bên trái. Nếu không có pic này thì... bạn phải làm lại mẫu khác thôi vì các thông số trong trong phổ Xray là cho tinh thể. Khong có pic này thì mẫu bạn đem chụp không có tinh thể hoàn chỉnh  ???
- Xem trong mẫu đem chụp có những chất nào?
Bạn có thể nhìn xuỗng những dòng chữ phia cuối của phổ (từ ô vuông thứ 3 trở đi là ghi những chất trong mẫu. Ví dụ có 2 chất trong mẫu là Ce và CeO2 thì có thêm ô vuông thứ 3 và thứ 4 nữa. Mỗi chất xẽ được kí hiệu bằng một màu tương ứng trên phổ). Nếu chỉ có thêm 1 ô vuông thứ 3 thui thì mẫu đem chụp là tinh khiết.
- Quay lại với phương trình Debye - Scherrer, chúng ta sẽ xác định các thông số để tính D trong phương trình này:
+ Ở ô vuông đầu tiên:
ở đây ghi tên người chụp
ngày chụp...
sau đó là đến góc bắt đầu quét ảnh đến góc kết thúc quét ảnh
tốc độ quét ảnh. Ví dụ: 0,03 độ trên 0,3 giây chẳng hạn
anot của máy chụp xrays. Ví dụ Cu
Bước sóng chup (lam-da ý)  thường đo bằng đơn vị Ao(angtron)
+ Ở ô vuông thứ 2 là các thông số cho pic cực đại:
Lề phải của píc cực đại (left Angle)
Lề trái của píc cực đại (right Angle)
...
Kí tự gần cuối cùng là:
Chiều rộng ở nửa chiều cao pic cực đại (kí hiệu d(obs.Max))(beta)
Góc nhiễu xạ teta (kí hiệu là FWHM) được đo bằng đơn vị độ
Thay các thông số vào phương trình ta sẽ tính được kích thước hạt D.


Hết
Chúc các bạn thành công (nhất là trong lĩnh vực nano)  8)




(^_^)(*_*)

Offline catwoman

  • hoa' hoc vui nhon!
  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 5
cong nghe nano la gi ?
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười Hai 19, 2007, 08:54:12 PM »
giup minh voi ! cac ban co' the? giai thich cho minh bik cong nghe nano la gi dc hem? minh nghi~ nat oc ma van ko ra ! giup minh nhe'!
NEU' EM LA` CANH SAT'
NGUOI DAU TIEN EM BAT SE LA` ANH
ANH VO TOI EM CUNG~ CHO LA` CO' TOI!
TOI VO TINH` DANH CAP TRAI TIM EM