Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Vitamin  (Đọc 4467 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
Vitamin
« vào lúc: Tháng Một 09, 2008, 02:20:15 PM »
Nói về sức khỏe và thực phẩm thì không thể thiếu bác vitamin này được:

Vitamin, hay sinh tố, là phân tử hữu cơ cần thiết ở lượng rất nhỏ cho hoạt động chuyển hoá bình thường của cơ thể sinh vật. Có nhiều loại vitamin và chúng khác nhau về bản chất hoá học lẫn tác dụng sinh lý

Các loại vitamin:
 A, B1, B2, B3, B5, B6, B7, B9, B12, C, D1, D2, D3, D4, D5, E, K.
Trong đó phân thành 2 nhóm:
-Vitamin hòa tan trong chất béo: A, D, E, K
-Vitamin hòa tan trong nước:  B, C



Đơn giản, chúng ta là H2VN

Cộng đồng Hóa học H2VN

Vitamin
« vào lúc: Tháng Một 09, 2008, 02:20:15 PM »

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
vitamin tan trong chất béo
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Một 09, 2008, 02:38:21 PM »
Vitamin A
Còn có các tên là retinol, axerophthol...
Vitamin A tồn tại trong tự nhiên gồm 2 dạng:

Retinol: dạng hoạt động của vitamin A, nó được đồng hoá trực tiếp bởi cơ thể.
Tiền vitamin A: nó chính là một tiền chất của vitamin A được biết đến nhiều dưới tên bêta-caroten. Tiền chất này được chuyển hoá bởi ruột thành vitamin A để cơ thể có thể sử dụng.
Vitamin A có nhiều chức năng quan trọng đối với cơ thể con người:

Thị giác: mắt được cấu tạo bởi các sắc tố có chứa vitamin A. Nó được hấp thụ bởi luồng thần kinh được vận chuyển nhờ dây thần kinh thị giác. Vì vậy sự có mặt của vitamin A là một phần không thể thiếu đối với việc đảm bảo thị giác của con người.
Các mô: Vitamin A kích thích quá trình phát triển của các biểu mô như mô sừng, ruột và các con đường hô hấp. Nó cũng ảnh hưởng đặc biệt đến da, kích thích sự liền sẹo và phòng ngừa các chứng bệnh của da như trứng cá.
Sự sinh trưởng: do vai trò quan trọng trong sự phát triển tế bào của con người, nên vitamin A là yếu tố không thể thiếu đối với sự phát triển cua phôi thai và trẻ em. Vitamin A còn có vai trò đối với sự phát triển của xương, thiếu vitamin A làm xương mềm và mảnh hơn bình thường, quá trình vôi hoá bị rối loạn.
Hệ thống miễn dịch: do các hoạt động đặc hiệu lên các tế bào của cơ thể, vitamin A tham gia tích cực vào sức chống chịu bệnh tật của con người.
Chống lão hoá: Vitamin A kéo dài quá trình lão hoá do làm ngăn chặn sự phát triển của các gốc tự do.
Chống ung thư: hoạt động kìm hãm của nó với các gốc tự do cũng dẫn đến ngăn chặn được một số bệnh ung thư.

Vitamin D
Còn có các tên là antirachitic factor, calcitriol...
Đây là một nhóm hóa chất trong đó về phương diện dinh dưỡng có 2 chất quan trọng là ecgocanxiferon (vitamin D2) và colecanxiferon (vitamin D3). Trong thực vật ecgosterol, dưới tác dụng của ánh nắng sẽ cho ecgocanxiferon. Trong động vật và người có 7-dehydro-cholesterol, dưới tác dụng cửa ánh nắng sẽ cho colecanxiferon.
Vai trò:

Hình thành hệ xương: vitamin này tham gia vào quá trình hấp thụ canxi và photpho ở ruột non, nó còn tham gia vào củng cố, tu sửa xương.
Cốt hóa răng: tham gia vào việc tạo ra độ chắc cho răng của con người.
Chức năng khác: vitamin D còn tham gia vào điều hoà chức năng một số gen. Ngoài ra, còn tham gia một số chức năng bài tiết cảu insulin, hormon cận giáp, hệ miễn dịch, phát triển hệ sinh sản và da ở nữ giới.

Vitamin E: Còn có các tên là tocopherol...

Vitamin E là một chất chống oxy hoá tốt do cản trở phản ứng xấu của các gốc tự do trên các tế bào của cơ thể.
Vai trò:

Ngăn ngừa lão hoá: do phản ứng chống oxy hoá bằng cách ngăn chặn các gốc tự do mà vitamin E có vai trò quan trọng trong việc chống lão hoá.
Ngăn ngừa ung thư: kết hợp với vitamin C tạo thành nhân tố quan trọng làm chậm sự phát sinh của một số bệnh ung thư.
Ngăn ngừa bệnh tim mạch: vitamin E làm giảm các cholestrol xấu và làm tănng sự tuần hoàn máu nên làm giảm nguy cơ mắc các bênh tim mạch.
Hệ thống miễn dịch: kích thích hệ thống miễn dịch hoạt động bình thường bằng việc bảo vệ các tế bào...
Vitamin K:
Vitamin K được gọi là vitamin kháng sự xuất huyết. Xúc tiến tác dụng trong sự đông máu, là một chất cần thiết cho gan trong qúa trình tổ hợp đông máu. Trị liệu được dùng vào trường hợp thiếu vitamin K do sự kháng sinh tạo bỡi. Dự phòng và trị liệu sự xuất huyết của trẻ em sơ sinh, chứng thiếu máu, và chứng xuất huyết dạng nguyên huyết.



Đơn giản, chúng ta là H2VN

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
vitamin tan trong nước
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Một 09, 2008, 02:45:42 PM »
Vitamin B1: ThiamineCông Năng: Vitamin B1 dưới dạng thiamine có công năng kháng viêm thần kinh (neurological disorders), kháng chứng rối loạn dinh dưỡng (beriberi). Xúc tiến sự trao đổi vật chất trong phản ứng chuyển hóa carbohydrate, cung cấp dinh dưỡng cho tế bào thần kinh. Thiếu vitamin B1 sẽ có thể lâm phải chứng viêm thần kinh và chứng rối loạn dinh dưỡng. Vì thiếu vitamin B1, chất đường (glucose) không thể tận dụng hữu hiệu, dẫn đến sự dự trữ chất sửa chua (lactic acid) trong bộ não và cơ thể, do đó tạo nên chóng mặt, mệt mỏi.

Đặc Tính Và Lượng Dùng: Vitamin hòa tan trong nước. Người lớn mỗi ngày 5 – 25 mg, có thể tăng đến 300 mg.


Vitamin B2 (Vitamin G): Riboflavin

Công Năng: Riboflavin có vai trò quan trọng trong sự sản xuất năng lượng, phát dục, và đề cao lượng ăn uống. Giúp tiêu hóa chất mỡ, hoạt hóa vitamin B6. Trị liệu và phòng ngừa chứng viêm da (dermatitis), chứng viêm lưỡi (glossitis), chứng viêm miệng, chứng viêm da mặt, chứng sợ ánh sáng, chứng ngứa mắt, và chứng dồn máu mắt.

Đặc Tính Và Lượng Dùng: Người lớn mỗi ngày 1 – 2 mg (sau khi dùng nước tiểu sẽ vàng, là hiện tượng bình thường).


Vitamin B3: Niacin, Nicotinic Acid

Công Dụng: Duy trì công năng của hệ thống thần kinh được bình thường, cần thiết trong sự chuyển hóa carbohydrate, và cũng cần thiết để duy trì công năng làm việc bình thường của hệ thống tiêu hóa. Trường kỳ thiếu hụt vitamin B3 có thể dẫn đến chứng viêm da trạng nứt da, chứng tiêu chảy, chứng tâm thần phân liệt, chứng bối rối (nervousness), và ão tưởng. Chủ trị chứng viêm da trạng nứt da, ù tai (tinnitus), chứng cước (chilblain), và lưu thông huyết quản hoặc giảm chất béo cholesterol.

Đặc Tính Và Lượng Dùng: Người lớn mỗi ngày 50 – 100 mg, có thể đến 500 mg (Loét dạ dày hoặc ruột, (peptic ulcer/ stomach ulcer/ gastric ulcer), hoặc trở ngại về gan (liver dysfunctions), hoặc huyết áp thấp nghiêm trọng đều không nên dùng).


Vitamin B5: Pantothenic Acid

Công Năng: Pantothenic acid là thành phần của coenzyme A, có vai trò quan trọng trong chuyển dịch các nhóm acetylcholine, một chất dẫn truyền thần kinh được phóng thích để kích thích thần kinh giao cảm trong cơ thể̀. Pantothenic acid nâng đở tuyến thượng thận sản xuất kích thích tố tuyến tùng trong vai trò giải độc và kháng sự áp bức. Pantothenic kháng tóc bạc, xúc tiến sự trao đổi vật chất trong cơ thể, xúc tiến sự nhu động của ruột. Sự tổ hợp hình thành của hồng huyết cầu cần đến pantothenic acid. Pantothenic acid cũng rất quan trọng trong sự phân giải carbohydrates và hòa tan chất béo. Pantothenic acid còn có tác dụng cường hóa vitamin C, giúp lành mạnh vết thương.

Đặc Tính Và Lượng Dùng: Người lớn mỗi ngày 10 – 20 mg, có thể đến 200 mg

Vitamin B6: Pyridoxine

Công Năng: Giống như vitamin B2, vitamin B6 có công dụng kháng viêm da, xúc tiến sự vận chuyển bình thường của hệ thống thần kinh, giảm nhẹ chứng căng thẳng tiền kinh nguyệt, giúp sự trao đổi vật chất của chất đạm và hất béo, tăng cường công năng miễn dịch trong cơ thể, đề kháng sự qúa miễn. Vitamin B6 không thể thiếu được trong sự tạo hồng huyết cầu. Trị liệu và phòng ngừa thần kinh qúa miễn, viêm thần kinh, viêm da chốc lở, viêm họng, viêm mặt, chứng thiếu máu, chứng cơ thịt mất sức, nôn mửa trong thời kỳ thụ thai, chứng thiếu hụt huyết cầu hột gây nên bởichất sulfanilamide, và chứng thần kinh trở ngại (nervous disorders).

Đặc Tính Và Lượng Dùng: Người lớn mỗi ngày 10 – 20 mg.

Vitamin B12: Cyanocobalamin

Công Năng: Viamin B12 được gọi là vitamin tạo huyết. Vitamin B12 cần thiết cho sự sinh trưởng và phát dục bình thường, sự tạo tế bào, huyết, nucleoprotein, và tủy xương (medullary sheath). Có công năng ổn định thần kinh, cường hóa thần kinh não và mút thần kinh (nerve ending). Cải thiện tình trạng tê của tay chân và chứng nhức mỏi lưng. Nếu thiếu vitamin B12 sẽ có thể gây hiệu qủa ác tính thiếu máu, viêm lưỡi (glossitis), cảm giác dị thường, và cơ thịt rối loạn.

Đặc Tính Và Lượng Dùng: Người lớn mỗi ngày 10 – 250 mcg (nếu loại uống không tiện, có loại chích).



Vitamin C (Ascorbic Acid)

Công Dụng: Vitamin C có thể phòng ngừa sự nứt vở của mạch máu nhỏ, có vai trò thiết yếu trong sự sản xuất chất tạo keo (collagen) của cơ thể và cường hóa sự kết hộp giữa các tế bào. Bảo hộ huyết quản và xương cốt, cường hóa bạch huyết cầu để đề cao năng lực kháng bệnh, đề cao và cường hóa tác dụng của interferon, một chất protein kháng vi khuẩn và nhiễm độc. Cường hóa hồng huyết cầu nên cũng gọi là vitamin kháng thiếu máu. Cường hoá răng, xương cốt, phòng sự xuất huyết trong nấu răng và mũi, giúp xương dễ lành, cường gan giải độc, giảm trị số của chất béo xấu, dự phòng chứng xơ cứng động mạch, chứng bệnh tim, và chứng tràn máu não (stroke). Xúc tiến sự hình thành của hormone kháng áp để ổn định thần kinh, và phòng trở ngại về cơ năng của tuyến thượng thận. Vitamin C có cường lực kháng oxy hóa, tiêu diệt cơ tự do (free radicals), hoạt tính dưỡng, và phòng sự hình thành của nitrosamine để gây tác dụng kháng ung thư. Ức chế sự hình thành của hắc tố (melanin), khử đốm nâu, tàn nhang, nuôi dưỡng da có tính đàn hồi. Có nhiều hóa trang phẩm dùng vitamin C cho việc dưỡng da, kháng oxy hóa và kháng lão, không có tác dụng phụ. Số lượng dư sẽ theo đường tiểu ra ngoài (Người có chất chua nhiều trong dạ dày nên phân nhiều lần dùng)

Đặc Tính Và Lượng Dùng: Người lớn mỗi ngày 5 – 200 mg. Có thể đến 1000 mg. Không có tác dụng phụ. Lượng dư thừa sẽ theo đường tiểu ra ngoài (Chứng ợ chua đau dạ dày (peptic ulcer/ stomach ulcer/ gastric ulcer) có thề phân nhiều lần số lượng nhỏ dùng).




Đơn giản, chúng ta là H2VN

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
các triệu chứng khi thiếu vitamin
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Một 09, 2008, 02:47:29 PM »
Vitamin A
Chế độ dinh dưỡng có đầy đủ sinh tố A giữ vai trò tối quan trọng cho mục tiêu phòng bệnh. Theo báo cáo của Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO), hiện vẫn còn hàng triệu người trong các nước chậm tiến mang bệnh do thiếu sinh tố A. Hàng năm, vẫn có không dưới nửa triệu trẻ con bị mù vì thiếu sinh tố A, trong số đó hơn 2/3 là trường hợp tử vong oan uổng, vì trên thực tế, phương thức phòng ngừa tình trạng thiếu hụt sinh tố A tương đối đơn giản.

Triệu chứng đầu tiên của tình trạng thiếu hụt sinh tố A là dấu hiệu quáng gà, nghĩa là tình trạng giảm sút thị lực vào buổi tối. Nếu nguồn dự trữ sinh tố A không được bù trừ, các triệu chứng khác như da khô, rụng tóc, gãy móng tay sẽ lần lượt xuất hiện. Tình trạng thiếu hụt sinh tố A nếu tiếp tục kéo dài sẽ dẫn đến hậu quả mất hẳn thị giác. Thêm vào đó là khuynh hướng bội nhiễm trầm trọng trên đường hô hấp, vì thiếu sinh tố A thì niêm mạc khí quản bị khô và tạo điều kiện thuận tiện cho vi trùng tác hại.


Nguồn cung cấp sinh tố A chủ yếu là thực phẩm xuất xứ từ nguồn gốc động vật như: gan, cá biển, bơ, sữa, trứng... Thành phần sinh tố A trong thực phẩm động vật có thể đảm nhiệm hoàn hảo phần lớn các chức năng liệt kê ở đoạn trên, nhưng lại không có khả năng phòng chống hiện tượng ung thư và xơ cứng tế bào, vì khả năng này không được đảm nhiệm trực tiếp bởi sinh tố A mà thông qua một tác chất tiền thân của sinh tố A: beta-carotin, còn gọi là tiền sinh tố A. Chất này lại chỉ có trong thực phẩm rau trái như: rau dền, cà rốt, cải broc-coli, bí rợ, cà chua, ớt bị, đu đủ, gấc, dưa hấu, khoai ta... Tiền sinh tố A là thành phần làm trái cây có màu vàng cam, rau cải có màu xanh thẫm. Thành phần này đảm nhiệm trong cơ thể con người ba chức năng quan trọng:
Trong điều kiện nuôi trồng ở Việt Nam, có vài loại thực phẩm cần được chú trọng vì tuy bình dân nhưng lại cung cấp dồi dào tiền sinh tố A, đó là khoai lang ta, rau dền và đu đủ.
Nhu cầu về tiền sinh tố A của cơ thể trung bình vào khoảng 25.000 IU (International unit), trong khi:


Một củ cà rốt loại trung có thể cung cấp tối thiểu 20.000 IU tiền sinh tố A.
100g khoai lang ta cung cấp khoảng 27.000 IU tiền sinh tố A.
100g rau dền cung cấp không dưới 7.000 IU tiền sinh tố A.

Chỉ cần quán triệt thêm một chút về khoa dinh dưỡng, người ta có thừa phương tiện để phòng bệnh xây dựng trên thực phẩm bình dân rẻ tiền.

Sinh tố A được tích trữ lâu dài trong cơ thể. Lạm dụng sinh tố A có thể đưa đến tình trạng nhiễm độc với triệu chứng tổn thương ngoài da, viêm khớp, đau bắp thịt, nôn mửa, rụng tóc và viêm gan. Do đó, đừng quá tin vào quảng cáo hấp dẫn để uống thuốc sinh tố A mỗi ngày nhằm mục tiêu phòng ngừa ung thư. Thuốc sinh tố A thường được định lượng theo thành phần tiêu chuẩn quốc tế IU với 1mg sinh tố A = 3.000 IU. Thuốc sinh tố A liều cao từ 10.000 IU là dược phẩm đặc hiệu và chỉ nên áp dụng một cách giới hạn theo đúng hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa cho bệnh nhân đang có vấn đề với thị lực, đang đối đầu với chứng mụn dưới dạng nặng hoặc thường gặp tình trạng bội nhiễm trên đường hô hấp. Độc giả cũng nên lưu ý là sinh tố A trong dầu cá không có tác dụng phòng ngừa ung thư, cũng không có khả năng ngăn ngừa bệnh mắt cườm như nhiều người lầm tưởng. Chỉ có thành phần tiền sinh tố A trong rau cải, trái cây mới có khả năng phòng bệnh.

     Vitamin D
Chức năng chủ yếu của sinh tố D tập trung vào quy trình kiến tạo xương, thông qua cơ chế phân phối chất vôi và phosphor. Sinh tố D hưng phấn khả năng hấp thụ hai loại muối khoáng này qua đường tiêu hóa và đồng thời yểm trợ quy trình dự trữ trong mô xương. Lượng sinh tố D đầy đủ trong cơ thể là điều kiện thiết yếu để vôi và phosphor được giữ chặt trong mô xương. Nói một cách tượng hình, thiếu sinh tố D thì cấu trúc của xương bị loãng hoặc không đồng bộ. Ngoài ra, sinh tố D còn ảnh hưởng trên sự phân hóa tế bào trong chiều hướng ngăn chặn hiện tượng biến thể cấu trúc tế bào sinh ung thư. Kết quả thống kê cho thấy bệnh nhân được điều trị với sinh tố D sau quy trình xạ trị ít bị tái nhiễm ung thư, khi so sánh với nhóm bệnh nhân không có sinh tố D trong phác đồ điều trị. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh là sinh tố D có tác dụng giảm thiểu tỷ lệ nhiễm ung thư da gây ra do tia tử ngoại và độc chất trong không khí.
Bệnh chứng điển hình do thiếu sinh tố D là bệnh còi xương với triệu chứng xương dễ gãy, biến dạng xương ức, xương sọ, đốt sống và xương hàm. Trên thực tế, bệnh này hiện nay chỉ còn xuất hiện trên quốc gia nghèo đói, trên trẻ sơ sinh chỉ bú mẹ mà người mẹ lại bị suy dinh dưỡng trầm trọng.
Sinh tố D có nhiều trong cá biển, thịt, trứng, nấm. Liều sinh tố D cần thiết cho mỗi ngày là 5 microgram. Sinh tố D, không như nhiều người lầm tưởng, có rất ít trong sữa! Do đó các bà mẹ còn thiếu kinh nghiệm nuôi con cần lưu ý bổ túc loại sinh tố này cho trẻ sơ sinh. Vì sinh tố D được cơ thể tổng hợp qua ánh sáng mặt trời nên nếu chế độ dinh dưỡng cung ứng đầy đủ thành phần chất béo cho gan và nếu đối tượng có dịp phơi nắng thì ít khi cơ thể rơi vào tình trạng thiếu hụt sinh tố D. Bảng so sánh hàm lượng sinh tố D đính kèm dưới đây cho thấy người ăn chay trường rất dễ thiếu sinh tố D, vì hình thức dinh dưỡng xây dựng hoàn toàn trên rau cải khó đáp ứng nhu cầu về sinh tố D. Đây cũng là lý do tại sao phần lớn người ăn chay trường dễ bị chứng loãng xương. Với đối tượng theo đuổi hình thức ăn chay thì nấm là dạng thực phẩm đáng chú trọng, vì trong nấm có nhiều sinh tố D.
Cơ thể người nghiện thuốc lá cũng có nhu cầu về sinh tố D cao hơn bình thường. Người lớn tuổi nếu ít vận động, ít phơi nắng, lại thêm khuynh hướng giới hạn thức ăn thịt cá rất dễ thiếu sinh tố D. Ngược lại, người dầm mưa dãi nắng quá nhiều dễ bị biến dạng xương khớp do rối loạn chuyển hóa sinh tố D. Chỉ cần 15 phút dưới ánh nắng gắt thì cường độ của tia tử ngoại đã đủ để hưng phấn quy trình sản xuất sinh tố D kéo dài 24 giờ... Người phải làm việc thường xuyên dưới trời nắng gắt vì thế phải được bảo vệ đúng mức với mũ áo che kín, hay tốt hơn nữa với các loại kem bảo hộ lao động có tác dụng ngăn chặn tia tử ngoại.
Sinh tố D được dự trữ khá lâu trong cơ thể nên tình trạng tích lũy có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm độc với triệu chứng biếng ăn, nôn mửa, nhức đầu, viêm thận và đặc biệt là sạn thận vì lượng sinh tố D quá cao trong cơ thể sẽ gây tác dụng hồi nghịch vận chuyển chất vôi từ xương đến thận và tích lũy trên đường tiết niệu. Dược phẩm có sinh tố D vì thế chỉ nên được áp dụng theo đúng chỉ dẫn và dưới sự kiểm soát của thầy thuốc. Tác dụng của sinh tố D được hỗ trợ bởi sinh tố C, B6 và khoáng chất vôi. Trên cơ sở vừa trình bày, nên chọn dược phẩm sinh tố D có đi kèm các thành phần vừa kể trong trường hợp phải dùng thuốc.

     Vitamin E
Trên thực tế, hầu như không có bệnh chứng chuyên biệt do thiếu sinh tố E. Nhà thống kê đã từ lâu ghi nhận mối liên hệ giữa đối tượng có lượng sinh tố E trong máu rất thấp với các chứng bệnh thời đại như: nhồi máu cơ tim, ung thư, dị ứng. Triệu chứng điển hình thường gặp khi nguồn dự trữ sinh tố E bị thiếu hụt là khuynh hướng mỏi cơ, rối loạn thị lực, co thắt bắp thịt, suy nhược, hay quên.
Sinh tố E có nhiều trong các loại dầu thực vật, trong đậu, mè cũng như trong một số rau cải như: rau dền, củ su hào. Bảng so sánh hàm lượng sinh tố E dưới đây cho thấy vai trò quan trọng của các loại dầu ăn dẫn xuất từ đậu phộng, đậu nành, hoa hướng dương.
Nhu cầu lý tưởng của sinh tố E là 12mg mỗi ngày. Trong điều kiện sinh hoạt bình thường, chỉ tiêu này có thể được đáp ứng dễ dàng với chế độ dinh dưỡng có trọng điểm là nguồn thực phẩm rau cải, khoai lang ta và dầu thực vật. Nhu cầu về sinh tố E gia tăng trong trường hợp có thai, trên đối tượng đang cho con bú, với người đang trong tình trạng căng thẳng thần kinh, người không quen dùng dầu ăn thực vật. Bệnh nhân ung thư và tim mạch nên được tiếp tế với lượng sinh tố E cao gấp 5 lần hàm lượng bình thường mà không sợ bị nhiễm độc vì bệnh chứng do tích lũy sinh tố E trong cơ thể hầu như không có trong thực tế, trừ khi đối tượng có đủ phương tiện để tự đầu độc với liều sinh tố E tối thiểu 800mg mỗi ngày và trong nhiều tháng liên tục.

     Vitamin C
Triệu chứng khiếm khuyết sinh tố C tiến hành tuần tự qua 3 giai đoạn, mau hay chậm tùy theo mức độ thiếu hụt, trước khi bị bệnh Scorbut do thiếu sinh tố C thực sự hội đủ điều kiện thành hình:
Giai đoạn 1: mệt mỏi, căng thẳng thần kinh, buồn ngủ, đau nhức cơ khớp.
Giai đoạn 2: chảy máu nướu răng, dưới da, da niêm.
Giai đoạn 3: biến dạng xương khớp, vết thương không lành, hư răng, bội nhiễm.
Trái cây tươi là nguồn cung ứng chủ yếu sinh tố C, đặc biệt là dâu, chanh, bưởi, ổi, cam, xoài, đu đủ, dưa hấu. Một loại trái cây quen thuộc ở Úc châu nên được nông gia Việt Nam lưu ý hội nhập là trái kiwi, vì đó là nguồn cung cấp dồi dào sinh tố C. Thành phần rau cải có nhiều sinh tố C là ớt bị, cải broccoli, bắp cải, cà chua. Trong đa số trường hợp, chế độ dinh dưỡng với rau trái tươi đủ đảm bảo hàm lượng sinh tố C cho cơ thể. Bảng dưới đây cho thấy tỷ lệ hàm lượng của sinh tố C trong các loại rau trái khác nhau, qua đó quan niệm ăn cam mới có sinh tố C không còn đứng vững, vì trên cùng trọng lượng thì ớt bị có hàm lượng sinh tố C cao gần gấp 3 lần lượng sinh tố C trong trái cam.

Cần lưu ý một điểm quan trọng: lượng sinh tố C được cơ thể hấp thu và dự trữ không tỷ lệ thuận với hàm lượng sinh tố trong thực phẩm, thậm chí còn giảm thiểu khi lượng sinh tố C trong thực phẩm quá cao. Nói một cách cụ thể, người vì hết lòng với sinh tố C nếu có thể ăn liền một lúc nửa chục cam sành thì phần lớn sinh tố C sẽ bị đào thải một cách hoang phí trong nước tiểu. Trong trường hợp này, dù tốn tiền, lượng sinh tố C hữu ích cho cơ thể vẫn thấp hơn ở người khôn khéo chỉ ăn một trái cam thôi, nhưng đều đặn sau mỗi bữa ăn. Nhu cầu về liều lượng sinh tố C không có chỉ tiêu cố định:
Lượng sinh tố C tối thiểu cần thiết cho cơ thể để ngăn ngừa bệnh Scorbut chỉ là 10mg mỗi ngày.
Nhu cầu về sinh tố C trung bình cho người không phải làm việc nặng là 75mg/ngày.
Thai sản phụ có nhu cầu sinh tố C cao hơn, khoảng 100-130mg mỗi ngày.
Bệnh nhân có nhu cầu chống bội nhiễm, dự phòng ung thư, kháng dị ứng sẽ cần tối thiểu 150mg sinh tố C mỗi ngày.
Người nghiện thuốc lá, vận động viên, bệnh nhân trong giai đoạn hồi phục, công nhân lao động nặng nên được tiếp tế mỗi ngày với 200mg sinh tố C.
Sinh tố C là nguồn dược liệu thiên nhiên cần thiết cho quy trình phục hồi và phòng bệnh xủa cơ thể. Chỉ cần bảo vệ kho dự trữ sinh tố C bằng cách tiếp tế đều đặn sinh tố C cho cơ thể, con người có thể ngăn chặn nhiều bệnh chứng trầm trong qua phương tiện đơn giản với thực phẩm rau trái.


(Tổng hợp nhiều nguồn, wikipedia)
« Sửa lần cuối: Tháng Tư 11, 2008, 07:36:39 AM gửi bởi vinhcntp »


Đơn giản, chúng ta là H2VN

 

Blog Du Lịch