Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Dược liệu  (Đọc 8676 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline nguyenthanhtan

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 2
Dược liệu
« vào lúc: Tháng Một 21, 2008, 12:58:55 PM »
Cỏ roi ngựa trong Đông y thường gọi là “mã tiên thảo”; Tên khoa học là Verbena officinalis L.; thuộc họ Cỏ roi ngựa (VERBENACEAE).

            Cây mọc hoang ở khắp nơi,  miền núi, trung du và đồng bằng đều có; thường gặp  ở bờ rào, bờ ruộng, ven đường, chân đê và trên các bãi hoang. Cây sống dai, thân có 4 cạnh,  cao từ 10cm đến 1m, lá mọc  đối xẻ thùy lông chim, hoa màu xanh mọc thành bông ở ngọn. Vì thân cây mọc thẳng, có đốt như roi ngựa, nên tiền nhân mới gọi nó là “mã tiên thảo” (mã = ngựa, tiên = roi, thảo = cỏ).
            Để dùng làm thuốc, người ta chặt toàn cây mã tiên thảo hoặc nhổ cả cây kèm theo rễ, dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô. Thời trước dân châu Âu rất hay dùng vị thuốc này, coi như có khả năng chữa được bách bệnh, nhưng hiện nay chỉ còn dùng làm thuốc xoa bóp. ở phương Đông, tác dụng chữa bệnh của mã tiên thảo đã được mô tả tỉ  mỉ trong sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân từ thế kỷ thứ 16 và cho đến nay vẫn là một vị thuốc được sử dụng nhiều trong Đông y và trong dân gian.
            Theo Đông y, Cỏ roi ngựa có vị đắng, tính mát vào các kinh Can và Tỳ. Có tác dụng hoạt huyết, tán ứ, thanh nhiệt, giải độc, thông kinh, lợi tiểu, tiêu thũng; những năm gần đây các nhà khoa học Trung Quốc còn phát hiện thêm tác dụng ức chế đối với vi trùng gây sốt rét. Trong Đông y, Mã tiên thảo thường dùng để chữa sốt do ngoại cảm, hoàng đản do thấp nhiệt, thủy thũng, kiết lỵ, sốt rét, bạch hầu, bế kinh...
            Kiêng kỵ: Phụ nữ mang thai phải thận trọng khi sử dụng. Sách Bản thảo kinh sơ viết: người mắc chứng thấp nhiệt và huyết nhiệt, nhưng tỳ âm hư mà vị khí suy nhược không nên dùng. Dưới đây là một số ứng dụng tương đối thông dụng:
 
            - Chữa cảm cúm phát sốt:  Cỏ roi ngựa 50g, Khương hoạt 25g, Thanh cao 25g; cho vào nồi đổ ngập nước, sắc lấy 2 bát con, chia thành 2 lần uống trong ngày (cũng có thể đem các vị thuốc tán nhỏ, hãm nước sôi như pha trà uống trong ngày); nếu kèm theo đau họng, thêm Cát cánh 15g cùng sắc uống. Đã thử nghiệm đối với 51 trường hợp: khỏi hoàn toàn 46, bệnh giảm 3, không có tác dụng 2 (Giang Tô nghiệm phương thảo dược tuyển biên).
            - Họng sưng đau:  Cành và lá cỏ roi ngựa tươi một nắm to, giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm một lượng sữa người vào, ngậm và nuốt dần từng ít một (Giang Tây Trung thảo dược học).
            - Bạch hầu:  Dùng cỏ roi ngựa khô 30-50g, sắc lấy khoảng 300ml nước thuốc. Người lớn mỗi lần uống 150ml, ngày uống 2 lần, liên tục 3-5 ngày, trẻ em 8-14 tuổi mỗi lần uống 100ml, ngày uống 2 lần, liên tục 3-5 ngày; trẻ nhỏ dưới 8 tuổi mỗi lần uống 50ml, ngày uống 2 lần, liên tục 3-5 ngày. Y dược vệ sinh khoa nghiên tư liệu 1/1972 thông báo: đã thử nghiệm điều trị 50 trường hợp, toàn bộ khỏi bệnh; thuốc viên và thuốc tiêm tác dụng kém thuốc sắc; cỏ tươi có tác dụng tốt hơn cỏ khô (Thảo mộc liệu pháp).
            - Sốt rét:  Dùng cỏ roi ngựa khô 30-60g, sắc nước uống. Trước và sau lúc lên cơn sốt 1-2 giờ uống 1 lần. Đã tiến hành điều trị cho 236 ca, 216 ca có kết qủa tốt. Thuốc có tác dụng ức chế đối với nguyên trùng sốt rét (malarial parasite), khiến trùng bị biến hình và chết (Thảo mộc liệu pháp).
            - Ăn phải cá độc sinh cổ trướng:  Cỏ roi ngựa một nắm to, sắc nước uống nhiều lần trong ngày (Tuệ Tĩnh - Nam dược thần hiệu).
            - Phòng viêm gan truyền nhiễm:  Dùng cỏ roi ngựa 25g, cam thảo 5g, sắc với 150ml nước, đun nhỏ lửa đến khi cạn còn 40ml - đó là liều lượng 1 lần uống đối với người lớn, mỗi ngày uống 3 lần vào trước bữa cơm, liên tục trong 4 ngày. Trung y tạp chí 4/1960 thông báo: trong thời kỳ có dịch viêm gan truyền nhiễm, 74 người trong diện có nguy cơ bị nhiễm bệnh đã được sử dụng phương thuốc trên, theo dõi trong 4 tháng không thấy  bị nhiễm bệnh.  Trong khi đó, nhóm đối chứng 35 người,  có 3 người bị bệnh, như vậy sơ bộ có thể thấy mã tiên thảo có tác dụng dự phòng nhất định đối với bệnh viêm gan nhiễm trùng (Thảo mộc liệu pháp).
            - Hoàng đản (vàng da):  Dùng rễ cỏ roi ngựa tươi hoặc toàn cây tươi 50g, sắc lấy nước, bỏ bã, pha thêm đường, chia thành 3 phần uống trong ngày; nếu vùng gan trướng đau thêm sơn tra 15g vào cùng sắc uống (Giang Tây Thảo dược thủ sách).
            - Đái ra máu và dưỡng chấp, kèm theo bí đái:  Dùng cỏ roi ngựa 60g, sắc nước, chia thành 2 phần uống trong ngày. Phúc Kiến y dược tạp chí 3/1982 thông báo: có trường hợp đái dưỡng chấp 10 năm, sau đó lại thường bị bí đái; uống thuốc trên 2 ngày thì tiểu tiện thông, sau 3 ngày không còn đái ra máu, sau bốn ngày nước tiểu hết dưỡng chấp, tiếp tục theo dõi không thấy tái phát (Thảo mộc liệu pháp).
            - Trĩ nội:  Dùng cỏ roi ngựa, rau dền gai, mỗi thứ 20g, sắc nước uống thay trà trong ngày, liên tục trong nhiều ngày. Tạp chí Quảng Tây trung dược học số 2/1977 thông báo: 1 nữ bệnh nhân 26 tuổi, bị trĩ nội xuất huyết đã 11 năm, sử dụng phương thuốc này trong nửa tháng đã khỏi bệnh, 2 năm sau không thấy tái phát  (Thảo mộc liệu pháp).
            - Viêm khoang miệng:  Dùng cỏ roi ngựa tươi 30g, sắc nước, uống thay trà trong ngày. Sách Thảo mộc liệu pháp cho biết  trường hợp 1 bé gái 4 tuổi, khoang miệng bị viêm đã 4 tháng, nhiều điểm bị mưng mủ, chân răng hay chảy máu, miệng  hôi, lưỡi đỏ; đã điều trị bằng thuốc kháng sinh kết hợp với vitamin B2 và vitamin C nhưng không có kết quả.  Dùng phương thuốc này trong 5 ngày bệnh đã khỏi,  theo dõi một năm sau không thấy tái phát.
 
Lương y Huyên Thảo
CTQ 27

Cộng đồng Hóa học H2VN

Dược liệu
« vào lúc: Tháng Một 21, 2008, 12:58:55 PM »

Offline phamgiau

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 20
Re: Cỏ roi ngựa- Thuốc thông huyết, sát trùng mọc khắp nơi
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Hai 16, 2008, 08:26:54 PM »
ko có hình ảnh hả huynh?để xem mặt mũi nó như thế nào chứ!

Offline silver

  • Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 262
Re: Cỏ roi ngựa- Thuốc thông huyết, sát trùng mọc khắp nơi
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Mười 29, 2008, 09:17:49 PM »
hình ảnh đây :
« Sửa lần cuối: Tháng Hai 04, 2009, 10:36:42 PM gửi bởi silver »

Offline yeuduoc

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
Dược liệu
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Mười Hai 27, 2008, 08:35:11 PM »
Mình lập ra chủ đề này với mục đích giới thiệu một số loại dược liệu ở Việt Nam. Các bạn cứ tham gia đóng góp nha!!!

Bài 1.  Cà độc dược

Cà độc dược còn có tên gọi khác như Cà dược, Cà tiên, Mạn đà la.Tên khoa học là Datura metel L.Solanaceae.Đây là cây thuộc loại thân thảo cao có thể đến 2m, thân và cành non màu tím hoặc xanh lục,có nhiều lông tơ ngắn. Lá hình trứng nhọn,gốc phiến lá không đều. Hoa mọc đứng, đơn độc, đài hoa liền nhau thành hình ống màu xanh, cánh hoa màu trắng,dính liền nhau thành phễu. Quả hình cầu có màu lục,nhiều gai mềm, quả chín sẽ nứt ngang và dọc chia làm bốn. Có nhiều hạt.
Cây sống khỏe và thích hợp nhất ở đất hoang, mùn và ẩm ướt.
Đó là mô tả về mặt sinh học của cây. Sau đây mình xét đến công dụng trong ngành dược của loại cây này.
Cây cà độc dược có ứng dụng nhiều trong ngành dược. Mình sử dụng lá, hoa, hạt. Hái lá vào khoảng tháng tháng 5,6 trở đi, hái hoa vào tháng 8,10. Hạt lấy ở quả chín ngả màu nâu.
Thành phần hóa học: alkaloid với chủ yếu là scopolamine, ngoài ra còn có atropin, hyoscynamine...
 *scopolamine và atropin gây:
 -ức chế hệ thần kinh trung ương --> dùng chống cơn co giật trong điều trị bệnh Parkinson, động kinh, làm dịu thần kinh.
 -ức chế hệ cơ trơn --> dùng trị ho, hen suyễn, làm thuốc chống buồn nôn,say tàu xe
 -ức chế các tuyến tiết --> trị đau dạ dày, ruột.(uống vô thì tuyến nước bọt và mồ hôi cũng ngưng tiết lun,nên sẽ bị khô miệng)
Cách dùng: lá,hoa phơi khô, thái nhỏ hoặc tán bột cuốn vào giấy hút như hút thuốc,trị hen suyễn. Ngoài ra có thể dùng các dạng chế phẩm như bột lá, cao mềm, cao lỏng 1/1, cồn 1/10.
Nhưng chú ý nà: đây là thuốc độc bảng A (là độc nhất đó) vì là thuốc tác động lên hệ thần kinh. KHÔNG TỰ Ý SỬ DỤNG MÀ KHÔNG CÓ HƯỚNG DẪN CỦA BÁC SĨ HOẶC DƯỢC SĨ. Cách dùng ghi ở trên là để xem cho biết, chứ không chỉ dẫn để bạn tự ý dùng. Ngoài ra không dùng cho người bị tăng nhãn áp.

Nguồn: Giáo trình Nhận thức dược liệu- Bộ môn Dược liệu Khoa Dược ĐH Y Dược TPHCM.

PS: Mình học Dược năm 2, hi vọng được làm quen với các bạn yêu hóa và yêu dược!!!

Đón chờ xem bài 2 nhé, nói về cây Hà thủ ô đỏ với các công dụng bồi bổ hay lém!!!
Nice day!


Offline Voi Còi

  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 656
  • Albert Einstein
    • http://www.h2vn.com
Dược liệu
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Hai 04, 2009, 09:31:21 PM »
 2. Hà thủ ô dùng làm thuốc bổ huyết là Hà thủ ô đỏ, còn gọi là Chế thủ ô. Thủ ô là rễ phơi khô của cây Hà thủ ô đỏ ( Polygonum multiflorum thunb) thuộc họ Rau răm ( Polygonaceae). Chế Hà thủ ô là Hà thủ ô là Hà thủ ô chế với Đậu đen ( 9 lần đồ, 9 lần phơi) cho Hà thủ ô thành màu đen có tác dụng bổ huyết tốt.
Hà thủ ô
Tính vị qui kinh:

Về tính vị:
Vị đắng, ngọt, sáp, hơi ôn, qui kinh Can thận.

Theo các sách thuốc cổ:

Sách Hà thủ ô lục: vị ngọt, tính ôn, không độc.
Sách Khai bảo trùng định bản thảo: vị đắng, sáp, hơi ôn, không độc.
Sách Bản thảo hội ngôn: dùng sống khí hàn, tính liễm có độc. Chế thục khí ôn không độc.
Về qui kinh:
Sách Bản thảo cương mục: túc quyết âm, thiếu âm.
Sách Bản thảo kinh giải: nhập túc thiếu dương đởm kinh, thủ thiếu dương tam tiêu kinh, thủ thiếu âm tâm kinh, túc thiếu âm thận kinh.
Sách Bản thảo tái tân: nhập 3 kinh Tỳ Phế Thận.
Thành phần chủ yếu:

Chrysophanic acid, emodin, rhein, chrysophanic acid, anthrone, lecithin.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Bổ ích tinh huyết ( Chế thủ ô), dùng sống có tác dụng giải độc, triệt ngược, nhuận tràng, thông tiện, tư âm cường tráng. Chủ trị tinh huyết hư, sốt rét lâu ngày, ung sang độc, chứng loa lịch, chứng táo bón.

Trích đoạn Y văn cổ:

Sách Hà thủ ô lục: " trị ngũ trĩ, bệnh lưng gối, làm mạnh gân lực, ích tinh tủy, tráng khí, làm đen tóc, kéo dài tuổi thọ. Trị bệnh phụ nữ sau sanh, xích bạch đới, lî lâu ngày không khỏi".
Sách Nhật hoa tử bản thảo: " uống lâu dễ có con, trị bệnh ở bụng, các chứng lãnh khí trường phong".
Sách Bản thảo cương mục: " trị can phong .. Thủ ô trắng vào phần khí, Thủ ô đỏ vào phần huyết, thuốc khí ôn, vị đắng, sáp; đắng bổ thận, ôn bổ can, thu liễm tinh khí, dưỡng huyết ích can, cố tinh thận, kiện gân cốt, làm đen râu tóc là vị thuốc tư bổ tốt".
Sách Dược phẩm hóa nghĩa: " ích ca liễm huyết tư âm. triệt hư ngược, chỉ thận tả".
Sách Bản kinh phùng nguyên: " Hà thủ ô sống tính phát tán, trị sốt rét nóng lạnh, các chứng ung thư bối sang đều dùng được. Dùng tưới sắc uống thông tiện, tác dụng không khác Nhục thung dung.".
Sách Bản bảo thuật: " trị trúng phong, đầu thống, hành tý, hạc tất phong, chứng động kinh, hoàng đản".
Sách Bản thảo cầu chân: " Hà thủ ô nhập vào Can để ích huyết khu phong kiêm bổ thận ..là thuốc tuấn bổ chân âm tiên thiên, thuốc cũng cần cho điều bổ dinh huyết của hậu thiên, thuốc dưỡng tinh thần, điều bổ nguyên khí".
Sách Thần nông bản thảo kinh độc: " Hà thủ ô dùng trị sốt rét và lî lâu ngày . cái hay của Hà thủ ô là nhập Thiếu dương kinh, khí rất mạnh, mạnh nên triệt được ngược tà, vị của thuốc rất sáp, sáp nên chặn được ngược tà, nếu bệnh chưa hết cho thêm Sài, Linh, Quất, Bán. Nếu đã khỏi nên thêm Sâm, Truật, Kỳ, Qui cho thêm 1, 2 thang".
Sách Bản thảo tái tân: " bổ phế hư chỉ thổ huyết".
B.Kết quả nghiên cứu Dược lý hiện đại:

Hà thủ ô có tác dụng hạ Cholesterol huyết thanh, được chứng minh rõ trên mô hình gây cholesterol cao ở thỏ nhà, thuốc còn có tác dụng làm giảm hấp thu cholesterol của ruột thỏ, theo tác giả, thuốc có thành phần hữu hiệu kết hợp với cholesterol ( Tư liệu tham khảo Tân y học 5 - 6, 1972). Thuốc có tác dụng phòng chống và giảm nhẹ xơ cứng động mạch. Có thể tác dụng giảm xơ cứng động mạch và do thuốc có thành phần Lecithin ( Tư liệu tham khảo Tân y học 5 - 6, 1972).
Thuốc làm chậm nhịp tim. Làm tăng nhẹ lưu lượng máu động mạch vành và bảo vệ được cơ tim thiếu máu.
Thuốc có khả năng nâng cao sức chống lạnh của chuột nhắt. Hà thủ ô trắng có tác dụng tăng cường miễn dịch.
Thuốc giữ được tuyến ức của chuột nhắt già không bị teo mà giữ được mức như lúc chuột còn non, tác dụng này có ý nghĩa chống lão hóa nhưng cơ chế còn cần nghiên cứu thêm.
Thuốc có tác dụng nhuận tràng do dẫn chất oxymethylanthraquinone làm tăng nhu động ruột ( Trích yếu văn kiện nghiên cứu Trung dược - Nhà xuất bản Khoa học xuất bản 1965, trang 345 - 346). Hà thủ ô sống có tác dụng nhuận tràng mạnh hơn Hà thủ ô chín.
Tác dụng kháng khuẩn và virus: thuốc có tác dụng ức chế đối với trực khuẩn lao ở người và trực khuẩn lî Flexner. Thuốc có tác dụng ức chế virus cúm ( Học báo Vi sinh vật 8,164, 1960).
Glucozit Hà thủ ô trắng có tác dụng ức chế tế bào ung thư.
Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng huyết hư, cơ thể suy nhược: có triệu chứng lưng gối mỏi nhức, váng đầu, hoa mắt, tóc bạc sớm, di tinh, huyết trắng nhiều, dùng bài:

Hà thủ ô hoàn: Hà thủ ô 20g, Thỏ ty tử 12g, Đương qui 12g, Ngưu tất 12g, Bổ cốt chí 12g, tán bột mịn, luyện hoàn với mật ong. Mỗi lần uống 8 - 12g, ngày 2 lần với nước sôi nguội hoặc nước muối nhạt. Trường hợp ra mồ hôi trộm hoặc ra nhiều mồ hôi ( tự hãn) gia Hoàng kỳ, Long cốt, Mẫu lệ, Bạch truật, Hoàng tinh, Chích thảo.
Trường hợp mất ngủ do huyết hư, dùng bài: Chế Hà thủ ô, Bắc Sa sâm, Qui bản, Long cốt, Bạch thược, mỗi thứ 12g, sắc uống.
Trường hợp thận yếu, đau lưng mỏi gối, di tinh nặng hoặc băng lậu đới hạ, sinh dục yếu, dùng bài: Thất bảo mỹ nhiệm đơn ( Thiệu ứng Tiết): Chế Thủ ô 20g, Bạch phục linh, Ngưu tất, Đương qui, Thỏ ty tử, Phá cố chỉ, mỗi thứ 12g, luyện mật làm hoàn, mỗi lần 12g, ngày 2 lần.
2.Trị lipid huyết cao, xơ cứng động mạch, cao huyết áp, bệnh động mạch vành: có tác dụng làm giảm hoặc hết triệu chứng, ổn định bệnh, làm tăng sức, thường kết hợp với Ngân hạnh diệp, Câu đằng. Có công trình nghiên cứu dùng viên Hà thủ ô ( mỗi viên nặng 0,25g gồm thuốc sống 0,81 trong đó 30% bột Hà thủ ô, 70% cao nước chế thành), mỗi lần uống 5 - 6 viên ( có người uống 8 - 10 viên), ngày 3 lần, dùng thuốc liên tục trong 2 - 12 tuần, lâu nhất 14 tháng. Trị 178 ca cholesterol huyết thanh cao, kết quả tốt 38,2%, tiến bộ 23,6%, tỷ lệ kết quả 61,8% cholesterol huyết thanh giảm bình quân 39mg% trong đó 32% bệnh nhân giảm xuống mức bình thường, đối với bệnh nhân vừa và cao, kết quả tốt ( Bệnh viện Nhân dân Thượng hải số 3 trực thuộc Y học viện điều trị trị bằng viên Hà thủ ô, Báo Công nghiệp Y dược 1974,6:1).

Trị huyết áp cao, dùng bài Hà thủ ô hợp tể: Chế Hà thủ ô, Sinh địa, Huyền sâm, Sinh Bạch thược, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Sa uyển tật lê, Hy thiêm thảo, Tang ký sinh, Hoài Ngưu tất, mỗi thứ 12g, sắc nước uống.

3.Trị sốt rét lâu ngày, thương âm khó lành: dùng bài:

Hà thủ ô 40g, Sài hồ 12g, Đậu đen 20g, sắc nước phơi sương 1 đêm, sáng hầm lên uống nóng.
Hà Nhân ẩm: Chế Hà thủ ô 16g, Đảng sâm, Đương qui, Trần bì, Oåi khương, mỗi thứ 12g, sắc uống.
4.Trị táo bón: trị táo bón do huyết hư, tân dịch hao tổn, dùng Tứ thạch, Đơn thạch, Đơn sâm, Ngũ vị tử, Toan táo nhân, Xuyên khung ( lượng nhỏ), có kết quả. Có tác giả dùng dịch tiêm Hà thủ ô 20% tiêm bắp mỗi lần 4ml, ngày 1 lần, 20 - 30 ngày là một liệu trình; trường hợp nặng chích 1 ngày 2 lần, cách nhật, liệu trình 15 - 20 ngày, nghỉ 15 - 20 ngày, ngủ khá hơn thì 9 ngày 1 lần hoặc uống Hà thủ ô mỗi lần 5 - 7 viên ( 0,5g/viên), ngày 3 lần, trường hợp uống lâu dài, ngày 2 lần sáng tối. Trường hợp bệnh nhẹ hoặc bệnh giảm, mỗi tối uống 6 - 10 viên trước lúc ngủ. Uống và chích thay đổi dùng. Đã trị 141 ca, khỏi lâm sàng 53,9%, tiến bộ ngủ tốt 44,7%, tỷ lệ có kết quả 98,6%, theo tác giả tốt hơn loại thuốc ngủ Bromure và Meprobamate ( Bệnh viện 201 Giải phóng quân, Phân tích lâm sàng 141 ca mất ngủ bằng Hà thủ ô, Thông tin Trung thảo dược 1974,5:38).

6.Trị ho gà: dùng Hà thủ ô 6 - 12g, Cam thảo 1,5 - 3g, mỗi ngày 1 thang sắc, chia 4 - 6 lần uống, có người uống xong tiêu chảy nhẹ, dùng Kha tử hoặc Anh túc xác. Đã trị 35 ca khỏi 19 ca, cơ bản khỏi 8 ca, tiến bộ 4 ca, không kết quả 1 ca ( Vương Khởi Minh, Báo cáo về kết quả bước đầu điều trị ho gà bằng Hà thủ ô, Báo Trung y Giang tô 1965,3:10).

7.Trị sốt rét: Dùng Hà thủ ô 18 - 25g, Cam thảo 1,5 - 3g, trẻ em giảm lượng, sắc đặc sau 2 giờ, chia 3 lần uống trước bữa ăn. Trị 17 ca kết quả đều tốt ( Vương Khaởi Minh, Báo cáo 17 ca sốt rét điều trị bằng Hà thủ ô, Báo Y học Quảng Đông 1964,4:31).

8.Trị tóc bạc: Dùng Hà thủ ô chế, Thục địa hoàng mỗi thứ 30g, Đương qui 15g, ngâm vào 1000ml rượu trắng 10 - 15 ngày, sau cùng mỗi lần 15 - 30ml, uống liên tục cho đến khi kết quả. Điều trị 36 ca ( 20 ca bạc từng đám, 16 ca rải rác bệnh kéo dài từ 1 đến 10 năm, kết quả khỏi 24 ca, tiến bộ 8 ca, tỷ lệ kết quả 88,9% ( Triệu Hồng Bân, Rượu Hà thủ ô trị tóc bạc, Tạp chí Trung Y Sơn đông 1983,4:41).

9.Trị tổn thương thần kinh quay: dùng Hà thủ ô 30g sắc, chia uống sáng và chiều, liệu trình 1 tháng. Theo dõi 14 ca, tỷ lệ khỏi 86,7% ( Truyền Bằng Liêu, Báo cáo 14 ca tổn thương thần kinh quay trị bằng Hà thủ ô, Tạp chí Trung hoa Trung y cốt thương khoa 1988,1:34).

10.Ngoài ra còn có báo cáo dùng trị mề đay, lở nhọt, trị nốt ruồi, tinh trùng yếu.

11.Giới thiệu một số bài thuốc đơn giản có Hà thủ ô thường dùng trong nhân dân để bổ dưỡng đối với người suy nhược:

Hà thủ ô 10g, Đại táo 5g, Thanh bì 2g, Trần bì 3g, Sinh khương 3g, Cam thảo 2g, nước 600ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Hà thủ ô hoàn: Hà thủ ô 1.800g thái mỏng, Ngưu tất 600g thái mỏng. Hai vị trộn đều, dùng 1 đấu to đậu đen đãi sạch. Cho thuốc vào chõ, cứ một lượt thuốc 1 lượt đậu. Đồ chín đậu, lấy thuốc ra phơi khô. Làm như vậy 3 lần rồi tán bột. Lấy thịt Táo đen trộn với bột làm thành viên 0,5g, ngày uống 3 lần, mỗi lần 30 viên, dùng rượu hâm nóng, chiêu thuốc ( theo Hòa tể cục phương).
Hà thủ ô tán ( Bản thảo cương mục): Hà thủ ô cạo vỏ, thái mỏng, phơi khô, tán bột. Ngày uống 4g vào sáng sớm, chiêu với rượu.
Liều dùng và chú ý lúc dùng:

Liều: 10 - 30g thuốc sắc, nấu dạng cao, ngâm rượu hoặc hoàn tán. Dùng ngoài theo yêu cầu bệnh lý, dạng sắc rửa, bột bôi hoặc đắp.
Chú ý:
Trường hợp bổ ích tinh huyết dùng Chế thủ ô để giải độc, nhuận tràng. Trị sốt rét dùng Sinh thủ ô, tác dụng giải độc và nhuận tràng của Thủ ô càng mạnh hơn Sinh thủ ô.
Chế thủ ô so với Thục địa: Thủ ô thiên về bổ can hư, Thục địa thiên về bổ thận hư. Thủ ô bổ nhưng không nê trệ như Thục địa. Theo kinh nghiệm lâm sàng thì nếu tâm huyết kém, não huyết kém dùng Thủ ô tốt, nếu là khí huyết suy nhược, tuần hoàn ngoại vi kém, chân tay lạnh thì dùng Thục địa tốt hơn.
Không nên dùng chung với các loại thuốc khoáng chất như: Từ thạch, Đại giá thạch, không nấu chung trong các dụng cụ bằng sắt

Offline Voi Còi

  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 656
  • Albert Einstein
    • http://www.h2vn.com
Dược liệu
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Hai 04, 2009, 09:33:06 PM »
    HÀ THỦ Ô TRẮNGLà một vị thuốc khác, là rễ cây Hà thủ ô trắng, còn gọi là Bạch Hà thủ ô, Nam Hà thủ ô, là rễ phơi khô của cây Nam Hà thủ ô ( Streptocaulon Juventas ( Lour) Merr, Apocynum Juventas Lour, Tylophora Juventas Woodf, thuộc họ Hoa Thiên lý ( Asclepiadaceae).

Tác dụng dược lý: chưa được nghiên cứu, thuốc có nhiều tinh bột và một chất phản ứng alcaloit có tinh thể chưa xác định.

Các Thầy thuốc Việt nam coi Hà thủ ô trắng có cùng công dụng như Hà thủ ô đỏ: làm cho người già trẻ lại, giúp cho sự giao hợp được bền lâu, tóc bạc hóa đen.

Theo sách Trung dược học: Bạch thủ ô có tác dụng kháng ung thư.