Loading

Like H2VN trên Facebook
nha thuoc truc tuyen

Tác giả Chủ đề: Kiến thức về ngành Nhuộm  (Đọc 101491 lần)

0 Thành viên và 12 Khách đang xem chủ đề.

Offline vuquoc

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 3
    • Email
Re: KỸ THUẬT NHUỘM BẰNG CÁC LỚP THUỐC NHUỘM KHÁC NHAU
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2008, 11:46:00 AM »
Gửi bạn ueih2 & chipchip.

Mình sẵn sàng giải thích tất cả các câu hỏi hoặc hỗ trợ bạn về tài liêu, vui lòng liên hệ theo eMail:quocvumai@yahoo.com

Cộng đồng Hóa học H2VN

Re: KỸ THUẬT NHUỘM BẰNG CÁC LỚP THUỐC NHUỘM KHÁC NHAU
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Bảy 29, 2008, 11:46:00 AM »

Offline tiin

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
    • Email
Re: KỸ THUẬT NHUỘM BẰNG CÁC LỚP THUỐC NHUỘM KHÁC NHAU
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Mười 25, 2008, 03:15:05 PM »
Bạn nào biết CTCT của thuốc nhuộm hoạt tính Levafix Brilliant Yellow E-GA 200%, làm ơn bảo mình với. Mình cảm ơn lắm lắm!

Offline ott

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 2
    • Email
Re: KỸ THUẬT NHUỘM BẰNG CÁC LỚP THUỐC NHUỘM KHÁC NHAU
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Mười Một 04, 2008, 09:06:01 PM »
nghề cao quý nhất là giáo viên.nghề bạc bẽo nhất là nghề nhuộm (nghề đổi trắng thay đen) :D

Offline ott

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 2
    • Email
Re: KỸ THUẬT NHUỘM BẰNG CÁC LỚP THUỐC NHUỘM KHÁC NHAU
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Mười Một 04, 2008, 09:18:07 PM »
các anh chi than phiền rất nhiều vấn đề, nhưng vấn đề làm thề nào để chính xác từ thí nghiệm ra máy lại không thấy ai dằn vặt nhau thế nhi?

Offline trieu phuong linh

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
  • tôi yêu thích môn hóa học
    • Email
Re: KỸ THUẬT NHUỘM BẰNG CÁC LỚP THUỐC NHUỘM KHÁC NHAU
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Mười Một 05, 2008, 07:22:47 AM »
tại sao lại nói vậy mỗi 1 nghề có cái hay của nó,nghề giáo viên có cái hay của nghề giáo viên ,nghề nhuộm có cái hay của nghè nhuộm,đổi trắng thành đen cũng hay dấy chứ

Offline qht

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 1
    • Email
Các hãng sản xuất thuốc nhuộm nào đang cung cấp thuốc nhuộm nhiề
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Ba 14, 2009, 06:49:38 PM »
Mọi người có biết  10 tên hãng sản xuất thuốc nhuộm nào đang cung cấp thuốc nhuộm nhiều nhất ở Việt Nam ?
Tìm giúp mình với

sonquan1421988

  • Khách
Re: Các hãng sản xuất thuốc nhuộm nào đang cung cấp thuốc nhuộm nhiề
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Ba 26, 2009, 01:52:36 PM »
Bayer (Tân Châu Co, Ltd phân phối)
Ciba
Matex
Sumitomo (Nhật Bản)
Henkel
Grunau
Tân Hồng Phát
Chemicolor
ICI
BASF

sonquan1421988

  • Khách
Nghiên cứu công nghệ nhuộm vải bông bằng thuốc hoạt tính đa chức năng
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Tư 03, 2009, 01:36:30 PM »
Đây là đề tài nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thùy, được đăng trên www.vinatex.com

Thuốc nhuộm hoạt tính đa chức là một trong những loại thuốc nhuộm mới đang được ứng dụng trong công nghệ nhuộm vải, sợi bông có nhiều ưu việt so với thuốc nhuộm hoạt tính truyền thống . Đối với thuốc nhuộm hoạt tính thông thường trước kia, sản phẩm vải bông sau nhuộm khó có gam màu đậm. Hơn nữa lại tiêu tốn khá nhiều thuốc nhuộm, xử lý sau nhuộm tốn nhiều điện, nước, và dòng nước thải chứa lượng thuốc nhuộm lớn gây hại đến môi trường. Chính vì thế mà thuốc nhuộm hoạt tính đa chức có ý nghĩa thực tiễn cao, đáp ứng được những yêu cầu mà tương lai Việt Nam đang mong đợi. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu để ứng dụng thuốc nhuộm hoạt tính đa chức vào trong ngành nhuộm. Ngành dệt may Việt Nam cũng đã có những ứng dụng nhất định trong việc sử dụng thuốc nhuộm hoạt tính đa chức nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tận dụng hết được tính năng của loại thuốc nhuộm này.
 

1.    Nội dung và đối tượng nghiên cứu.

1.1.   Nội dung nghiên cứu

Nội dung của đề tài là xác định điều kiện tối ưu để nhuộm vải bông bằng thuốc nhuộm hoạt tính đa chức năng đạt độ lên màu cao.

1.2.   Đối tượng nghiên cứu

* Vật liệu: Vải cotton 100% (lấy từ Công ty cổ phần nhuộm Yên Mỹ) được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu - loại vải phổ biến nhuộm bằng thuốc nhuộm hoạt tính. Vải đã qua quá trình tiền xử lý: rũ hồ, nấu, tẩy trắng và làm bóng. Các mẫu vải dùng để nghiên cứu đã được giặt sạch hoá chất (pH = 7). Các chỉ tiêu kỹ thuật của vải nghiên cứu được nêu trong bảng 1.

Bảng 1: Các chỉ tiêu kỹ thuật của vải

* Thuốc nhuộm: Thuốc nhuộm được sử dụng để nghiên cứu là thuốc nhuộm hoạt tính đa chức có tên thương mại Cibacron S do hãng Ciba cung cấp. Do trong phân tử của nhóm thuốc nhuộm này có 3 nhóm mang màu và 3 nhóm hoạt tính nên độ lên màu và hiệu quả gắn màu rất cao. Cibacron S được giới thiệu là loại thuốc nhuộm có thể nhuộm các màu đậm, rất đậm một cách kinh tế, độ bền màu với một số tác nhân khá cao cùng tính chất giặt rất tốt. Đề tài lựa chọn 3 loại thuốc nhuộm đại diện cho nhóm thuốc nhuộm Cibacron S có tên là Cibacron Red S-2B, Cibacron Navy S-G, Cibacron Yellow S-3R để nghiên cứu.

1.3.   Qui trình công nghệ được thực hiện như sau:

Dung dịch thuốc nhuộm và chất điện ly (Na2SO4) được cấp vào ở 30oC, sau đó gia nhiệt đến 60oC trong 30 phút. Sau 10 phút cấp kiềm (Na2CO3) và nhuộm ở 60oC trong t phút (t thay đổi từ 30 đến 70 phút).

1.4.   Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng và thiết bị thử nghiệm

* Cường độ lên màu thể hiện thông qua chỉ số K/S đo trên máy đo màu quang phổ phản xạ Spectrophotometer.

* Độ bền màu với giặt xà phòng – Tiêu chuẩn ISO 105 C03 - thử nghiệm trên máy thử độ bền màu  Linitest, hiệu Original Hanau-Germany

* Độ bền màu với clo – Tiêu chuẩn ISO 105 C06 - thử nghiệm trên máy thử độ bền màu Linitest, hiệu Original Hanau-Germany.

* Độ bền màu với ma sát – Tiêu chuẩn ISO 105 X12 - thử nghiệm trên máy thử độ bền màu ma sát Staining Tester.

* Độ bền màu với mồ hôi – Tiêu chuẩn ISO 105 E04 - thử nghiệm trên dụng cụ thử độ bền màu mồ hôi Persipirometer.

2.     2. Kết quả nghiên cứu và bàn luận.

Mối quan hệ giữa thời gian nhuộm, dung tỉ nhuộm, nồng độ chất điện ly với cường độ lên màu được xác lập thông qua chỉ số K/S thể hiện ở các đồ thị 1, 2, 3.

Đồ thị 1


Đồ thị 2
Đồ thị 3
Qua các đồ thị có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Cường độ lên màu không quá nhạy cảm với cả ba yếu tố thời gian, dung tỉ và nồng độ muối. Điều này có nghĩa cường độ lên màu sẽ không bị sai lệch nhiều nếu các yếu tố nêu trên không được khống chế tốt trong một phạm vi nhất định.

- Cường độ lên màu tăng dần khi thời gian, nồng độ muối tăng và dung tỉ giảm. Tuy nhiên giá trị này tăng không đáng kể ở khoảng thời gian nhuộm trên 60 phút, nồng độ chất điện ly khoảng từ 70 g/l trở lên và dung tỉ dưới 1:10.

Số liệu đo được bằng thực nghiệm đã được xử lý bằng phương pháp mô hình tổ hợp quay trung tâm để tìm điều kiện nhuộm tối ưu cho vải bông bằng thuốc nhuộm hoạt tính đa chức Cibacron S.

Kết hợp với việc đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng về độ bền màu, điều kiện công nghệ tối ưu của quá trình nhuộm tận trích ở 60oC đã tìm được là:

Thời gian nhuộm: 50 phút.

Dung tỉ nhuộm: 1:10

Nồng độ chất điện ly (muối): 70g/l


Tiến hành thí nghiệm nhuộm đối chứng giữa các cặp thuốc nhuộm:

- Cibacron Yellow S-3R và Cibacron FN-2R

- Cibacron Red S-2B và Cibacron Red FN-2R

- Cibacron Navy S-G và Cibacron Navy FN-B

trên vải bông 100% theo qui trình công nghệ đã lựa chọn thu được kết quả như sau:

Các mẫu nhuộm bằng thuốc nhuộm Cibacron S đều có tỷ lệ lên màu cao hơn nhiều so với mẫu nhuộm bằng thuốc nhuộm Cibacron FN tương ứng (đồ thị 4). Bên cạnh đó, các sản phẩm nhuộm này đều có độ bền màu giặt xà phòng, độ bền màu với mồ hôi, độ bền màu với ma sát và đặc biệt độ bền màu với clo cao hơn so với mẫu nhuộm đối chứng từ 0,5 đến 1 cấp (bảng 2).

Đồ thị 4

Bảng 2: Độ bền màu (ĐBM) của mẫu nhuộm Cibacron S và mẫu nhuộm Cibacron FN đối chứng


3.     3. Kết luận.


Qua nghiên cứu điều kiện công nghệ nhuộm tối ưu của thuốc nhuộm hoạt tính đa chức Cibacron S có thể rút ra kết luận sau đây:

a)      Đối với ba loại thuốc nhuộm đã lựa chọn thì thời gian, nồng độ muối và dung tỉ có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nhuộm. Điều kiện nhuộm tối ưu cho cả ba màu khi nhuộm theo phương pháp tận trích là:

·        Thời gian nhuộm: 50 phút.

·        Dung tỉ nhuộm: 1:10

·        Nồng độ chất điện ly (muối): 70g/l

b)      Với điều kiện công nghệ kể trên, với cả ba màu đã nghiên cứu đều có:

·        Tỷ lệ lên màu (qua chỉ số K/S)

·        Độ bền màu giặt xà phòng

·        Độ bền màu với ma sát

·        Độ bền màu với mồ hôi

·        Độ bền màu với clo

cao hơn so với thuốc nhuộm đối chứng (thuốc nhuộm hoạt tính lưỡng chức) cùng hãng sản xuất và đang được các công ty dệt nhuộm Việt Nam sử dụng hiện nay (từ 0,5 đến 1 cấp).

c)      Do tiết kiệm được thuốc nhuộm, tỷ lệ lên màu cao và độ lặp lại tốt nên khi sử dụng loại thuốc nhuộm này có thể hạ được giá thành sản xuất so với thuốc nhuộm hoạt tính lưỡng chức, giảm được chi phí khử màu nước thải nhuộm.

d)      Cũng do có độ lên màu cao hơn hẳn so với thuốc nhuộm hoạt tính thông thường trên thị trường, mầu đậm và rất đậm đạt được với nồng độ phần trăm khá thấp so với các thuốc nhuộm hoạt tính khác nên chúng phù hợp với nhuộm màu đậm.

Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng trong thực tế nhuộm các màu đậm đến rất đậm cho vải sợi bông. Với điều kiện nhuộm tìm được, các kỹ sư công nghệ có thể sử dụng thuốc nhuộm Cibacron S một cách hợp lý, đảm bảo chất lượng sản phẩm nhuộm, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất đồng thời không gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái…

ThS. Nguyễn Thị Thuỳ

sonquan1421988

  • Khách
Nhuộm vải bằng chất màu tự nhiên
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Tư 03, 2009, 01:48:33 PM »
PGS.TS Hoàng Thị Lĩnh (ĐH Bách Khoa Hà Nội) đã tìm ra công nghệ dùng lá cây, vỏ cây...để nhuộm vải sợi bông và lụa tơ tằm, thay cho phẩm màu nhân tạo. 
Theo PGS.TS  Hoàng Thị Lĩnh (ĐH Bách Khoa Hà Nội), tác giả của công trình nghiên cứu, công nghệ trên còn góp phần bảo vệ môi trường do không cần dùng thuốc nhuộm tổng hợp. Ngoài ra, rất dễ chuyển giao cho nông dân để sản xuất hàng thủ công, góp phần xoá đói, giảm nghèo


10 năm nghiên cứu
Con đường đến với nghiên cứu này của PGS Lĩnh bắt đầu từ năm 1996 khi bà được một số tổ chức phi chính phủ mời tham gia vào dự án giúp dân tộc thiểu số nâng cao độ bền màu của thổ cẩm.
Có một thực tế là rất ít chất nhuộm tự nhiên được sử dụng để nhuộm các loại vải hiện nay, kể cả tơ tằm. Đối với đồng bào thiểu số cũng vậy, họ thường dùng chất nhuộm tổng hợp, nếu dùng chất nhuộm tự nhiên thì chủ yếu là trong cây chàm.
Là chuyên gia hoá nhuộm, trong quá trình tham gia dự án, PGS Lĩnh đã phát hiện trong thiên nhiên có sẵn các nguồn nguyên liệu làm chất nhuộm. Vậy làm sao cứ phải dùng chất nhuộm tổng hợp, gây ô nhiễm môi trường?
Thế là hai năm sau, bà xin đăng ký đề tài khai thác sử dụng các chất nhuộm màu tự nhiên để nhuộm vải bông, lanh và tơ tằm. Trong phòng thí nghiệm, PGS Lĩnh đã sử dụng lá bàng, lá tre, lá thiên lý, lá xà cừ, lá găng, ngải cứu, lá bạch đàn, lá chè, lá hồng xiêm, vỏ cây sà cừ... để nhuộm vải sợi bông, lanh và vải tơ tằm.
 
Ban đầu, bà làm bằng phương pháp thủ công: nấu lá lên để lấy dung dịch màu trong lá rồi nhúng vải vào nhuộm. Trong dung dịch màu có bổ sung một số chất làm tăng khả năng lên màu, đều màu, bền màu và tạo ra các ánh màu, gam màu khác nhau.
Sở dĩ PGS Lĩnh dùng phương pháp tách chiết dịch màu là vì hai nguyên nhân.
Thứ nhất, nếu tách chất màu trong lá rồi chế thành thuốc nhuộm tinh khiết thì sẽ rất tốn kém.
Thứ hai, trong dung dịch màu có nhiều tạp chất và những tạp chất này góp phần tạo ra những gam màu trầm, tự nhiên mà không thể có được nếu dùng thuốc nhuộm tổng hợp. Dung dịch màu được tận dụng tối đa vì nước đầu tiên sẽ được dùng để nhuộm màu đậm, những nước còn lại sẽ cho các gam màu nhạt hơn.
 
Quy trình công nghệ hoàn chỉnh
Theo thời gian, PGS Lĩnh đã phát triển được ý tưởng về công nghệ, vừa tách dịch màu, vừa nhuộm vải trên thiết bị công nghiệp với số lượng lớn. Nguyên liệu sau khi thu gom được đưa vào bộ phận phụ trợ bên cạnh máy nhuộm để chiết dung dịch màu. Sau đó, dung dịch được đưa trực tiếp vào máy nhuộm để nhuộm vải như phương pháp nhuộm thông thường.
PGS Lĩnh cho biết lá chè già (bị vứt bỏ trên các nông trường chè), hạt lương nho (hạt cà ri sẵn có trong miền Nam), lá hồng xiêm và lá bàng là những nguồn nguyên liệu dồi dào nhất, có thể được sử dụng trong sản xuất. Mỗi loại có thể tạo ra 5 gam màu khác nhau, từ đậm tới nhạt. Còn nếu phối các gam màu của các loại lá này với nhau thì sẽ tạo ra nhiều gam màu độc đáo hơn nữa.
Kết quả nghiên cứu và thử nghiệm cũng khẳng định các màu tự nhiên này đặc biệt thích hợp với vải tơ tằm. Một phát hiện thú vị nữa trong quá trình nghiên cứu là lá chè có khả năng kháng nhàu cho lụa tơ tằm trong khi lá bàng và bạch đàn làm tăng khả năng kháng khuẩn cho sản phẩm.
 
Một số khách nước ngoài đã tìm tới PGS Lĩnh hỏi mua vải tơ tằm được nhuộm bằng chất màu tự nhiên này song bà chưa thể đáp ứng do không có vốn để triển khai sản xuất.
Trăn trở duy nhất của nhà khoa học tâm huyết này là tìm được người cộng tác để ứng dụng  kết quả nghiên cứu vào sản xuất quy mô lớn, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường, vừa tạo ra sản phẩm có tính sinh thái cao, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân.
Đã có một số người tìm đến hỏi về công nghệ nhuộm độc đáo này và PGS Lĩnh không ngần ngại tiết lộ bí quyết. Thế nhưng, sau đó bà không nghe tin gì về họ. Tiếc ư? hoàn toàn không vì đối với PGS Lĩnh, hạnh phúc lớn nhất là kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào đời sống.
 
Minh Sơn

sonquan1421988

  • Khách
Re: Nhuộm vải bằng chất màu tự nhiên
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Tư 04, 2009, 09:42:03 PM »
Vấn đề độc hại của thuốc nhuộm gây ra cho môi trường đã làm đau đầu các nhà khoa học, cũng như các chuyên gia trong ngành. Các đề tài nghiên cứu đã ra đời nhưng đã có bao nhiêu đề tài cuối cùng được áp dụng vào thực tế nhà máy?
Và tại sao chúng ta lại chưa công nghiệp những thuốc nhuộm tự nhiên?
Và tại sao chúng ta không thử thuốc nhuộm tự nhiên trên các loại vải khác nhau như polyester, spandex, CD,...?
Màu sắc được nâng cao, sự đa dạng ánh màu, phối màu,...
Và cuối cùng, em phải làm gì để có thể bắt nhịp được quá trình nghiên cứu ấy?

sonquan1421988

  • Khách
Re: Nhuộm vải bằng chất màu tự nhiên
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Tư 04, 2009, 10:05:31 PM »
1. Thuốc nhuộm màu chàm (Wikipedia.com)

Thuốc nhuộm màu chàm hay thuốc nhuộm chàm hay bột chàm là một loại thuốc nhuộm với màu xanh chàm (xem bài màu chàm) dễ nhận ra. Thành phần hóa học tạo ra thuốc nhuộm màu chàm là indigotin. Người cổ đại chiết lấy thuốc nhuộm chàm tự nhiên từ một vài loài thực vật cũng như một trong hai loài ốc biển (Hexaplex trunculus hay Haustellum brandaris) nổi tiếng của người Phoenicia, nhưng gần như tất cả thuốc nhuộm màu chàm ngày nay đều được sản xuất bằng phương pháp tổng hợp.

Trong số các ứng dụng của thuốc nhuộm màu chàm có sản xuất vải bông chéo (denim) cho loại quần áo bò (jeans) màu xanh chàm. Dạng của thuốc nhuộm màu chàm dùng cho thực phẩm được gọi là "indigotine", và nó được liệt kê tại USA như là FD&C Blue No. 2, và tại Liên minh châu Âu như là E132.

Một cục thuốc nhuộm màu chàm

1.1 Nguồn sử dụng

Một số loài thực vật, như tùng lam (Isatis tinctoria), đã từng là nguồn cung cấp thuốc nhuộm chàm trong lịch sử, nhưng phần lớn thuốc nhuộm màu chàm tự nhiên là thu được từ các loài trong chi Chàm (Indigofera), có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới. Trong các khu vực có khí hậu ôn đới thuốc màu chàm cũng có thể thu được từ tùng lam (Isatis tinctoria) và nghể chàm (Polygonum tinctorum), mặc dù từ các loài trong chi Indigofera thì sản lượng thuốc nhuộm là cao hơn. Loài chàm có giá trị thương mại chủ yếu tại châu Á là cây chàm (Indigofera tinctoria). Tại Trung Mỹ và Nam Mỹ thì hai loài Indigofera suffruticosa (chàm anil) và Indigofera arrecta (chàm Natal) là quan trọng nhất.

Bột màu chàm tự nhiên là nguồn thuốc nhuộm duy nhất cho tới năm 1900. Tuy nhiên, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn thì bột màu chàm tổng hợp đã gần như thay thế hoàn toàn cho bột màu chàm tự nhiên.

Tại Hoa Kỳ, công dụng chủ yếu của thuốc nhuộm màu chàm là trong sản xuất vải bông chéo để may quần áo bò. Trên một triệu bộ quần áo bò của thế giới được nhuộm màu chàm mỗi năm. Trong nhiều năm, thuốc màu chàm cũng được dùng để sản xuất len màu xanh nước biển sẫm.

Màu chàm không liên kết quá bền với sợi vải vì thế việc mặc và giặt liên tục có thể làm bay màu của vải một cách chậm chạp

Thuốc màu chàm cũng được sử dụng để tạo màu thực phẩm (FD&C Blue No. 2 hay E132) . Thông số cho FD&C Blue No. 2 bao gồm ba hóa chất, trong đó thành phần chính là muối indigotindisulfonat natri.

Indigotinesulfonat natri cũng được sử dụng như là thuốc nhuộm màu trong thử nghiệm chức năng thận, như là thuốc thử để phát hiện các nitrat và clorat cũng như trong thử nghiệm sữa.
Thuốc nhuộm màu chàm

1.2 Lịch sử

Thuốc nhuộm màu chàm là một trong các loại thuốc nhuộm cổ nhất được sử dụng để nhuộm màu trong công nghiệp dệt vải và in ấn. Nhiều quốc gia châu Á, như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản v.v đã sử dụng thuốc nhuộm màu chàm trong nhiều thế kỷ. Thuốc nhuộm này cũng được các nền văn minh cổ đại khác ở Mesopotamia, Ai Cập cổ đại, Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại, Anh tiền sử, Mesoamerica, Peru, Iran và châu Phi biết tới.

Người ta coi Ấn Độ là trung tâm cổ nhất trong ngành thủ công nghiệp nhuộm màu chàm của Cựu thế giới. Đây cũng là nơi cung cấp đầu tiên thuốc nhuộm màu chàm cho châu Âu vào thời đại Hy-La. Sự gắn liền của màu chàm với Ấn Độ được phản ánh trong các từ trong tiếng Hy Lạp để chỉ loại thuốc nhuộm và vùng đất này, đó là indikon và Ἰνδία (India-Ấn Độ). Người La Mã sử dụng từ indicum, nó được chuyển qua và thể hiện trong tiếng Italia và cuối cùng là trong tiếng Anh với từ indigo.

Tại vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia), tấm bảng ghi bằng chữ hình nêm kiểu tân-Babilon trong thế kỷ 7 có đưa ra công thức để nhuộm màu len, trong đó len màu xanh da trời (uqnatu) được sản xuất bằng cách ngâm trong nước chàm và đưa quần áo ra ngoài không khí lặp đi lặp lại vài lần. Bột chàm có lẽ đã được nhập khẩu từ Ấn Độ.

Người La Mã sử dụng thuốc màu chàm làm chất nhuộm màu cho thuốc màu và cho các mục đích y tế, mỹ phẩm. Đây là một xa xỉ phẩm do các thương nhân Ả Rập nhập khẩu từ Ấn Độ vào vùng ven Địa Trung Hải.

Thuốc nhuộm màu chàm vẫn còn là mặt hàng khan hiếm tại châu Âu trong suốt thời kỳ Trung cổ. Thuốc nhuộm từ tùng lam, với thành phần hóa học đồng nhất, đã được sử dụng để thay cho thuốc nhuộm màu chàm.

Vào cuối thế kỷ 15, nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha là Vasco da Gama đã phát hiện ra hành trình đi biển để tới Ấn Độ. Điều này đã dẫn tới việc thiết lập quan hệ thương mại trực tiếp của người châu Âu với Ấn Độ, quần đảo Gia vị, Trung Quốc, Nhật Bản. Các nhà nhập khẩu đã có thể tránh các khoản thuế nặng nề do các trung gian người Ba Tư, Levant và Hy Lạp đặt ra cũng như độ dài của các hành trình đường bộ đầy nguy hiểm đã từng được sử dụng trước đây. Kết quả là việc nhập khẩu và sử dụng thuốc nhuộm màu chàm tại châu Âu cũng gia tăng đáng kể. Phần lớn thuộc nhuộm màu chàm dùng tại châu Âu đến từ châu Á thông qua các hải cảng tại Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh. Tây Ban Nha nhập khẩu thuốc nhuộm này từ các thuộc địa của mình ở Nam Mỹ. Nhiều đồn điền trồng chàm được các quốc gia châu Âu hùng mạnh thiết lập tại các vùng nhiệt đới; với sản lượng lớn tại Jamaica và South Carolina, trong đó sức lao động chủ yếu là của các nô lệ da đen châu Phi hay châu Mỹ gốc Phi. Các đồn điền chàm cũng phát triển tại quần đảo Virgin. Tuy nhiên, Pháp và Đức đã đặt việc nhập khẩu thuốc màu chàm ra ngoài vòng pháp luật vào thế kỷ 16 để bảo hộ cho công nghiệp sản xuất thuốc màu từ tùng lam của cư dân bản xứ.

Màu chàm là nền tảng trong nhiều thế kỷ cho các truyền thống dệt may ở Tây Phi. Từ những người dân du cư Tuareg ở sa mạc Sahara tới Cameroon, quần áo nhuộm chàm là biểu hiện của sự giàu có. Phụ nữ nhuộm chàm quần áo ở phần lớn các khu vực, với người Yoruba ở Nigeria và người Manding ở Mali là những người rất thành thạo trong công việc của họ. Những thợ nhuộm Hausa là nam giới làm việc tại các hố nhuộm chàm của cộng đồng đã từng là nền tảng của sự giàu có của thành phố cổ Kano, và ngày nay người ta vẫn có thể nhìn thấy họ miệt mài làm công việc của mình tại các hố nhuộm đó.

Tại Nhật Bản, bột chàm là đặc biệt quan trọng trong thời kỳ Edo khi nước này bị cấm nhập khẩu lụa và người Nhật bắt đầu nhập khẩu và trồng bông. Rất khó để nhuộm màu cho sợi bông, ngoại trừ dùng bột chàm. Thậm chí ngày nay, màu chàm vẫn là thích hợp cho kimono mùa hè Yukata, do y phục truyền thống này gợi nhớ lại thiên nhiên và biển xanh.

Năm 1865 nhà hóa học người Đức là Johann Friedrich Wilhelm Adolf von Baeyer bắt đầu làm việc với thuốc nhuộm màu chàm. Công trình của ông lên đến đỉnh điểm trong việc lần đầu tiên tổng hợp ra thuốc nhuộm màu chàm vào năm 1880 từ o-nitrobenzalđêhít và axeton bằng việc bổ sung hiđrôxít natri hay hiđrôxít bari hoặc amoniac loãng và việc thông báo về cấu trúc hóa học của nó vào 3 năm sau. BASF đã phát triển quy trình sản xuất có thể khả thi về mặt thương mại và được sử dụng vào năm 1897, còn tới năm 1913 thì thuốc nhuộm màu chàm tự nhiên đã gần như bị thay thế hoàn toàn bằng thuốc nhuộm màu chàm tổng hợp. Vào thời điểm năm 2002, 17.000 tấn thuốc nhuộm màu chàm tổng hợp đã được sản xuất trên khắp thế giới.

Trong thế kỷ 19, người Anh mua phần lớn thuốc nhuộm màu chàm từ Ấn Độ. Với sự ra đời của chất thay thế theo phương pháp tổng hợp thì nhu cầu về thuốc nhuộm màu chàm tự nhiên đã giảm xuống và các trang trại trồng chàm không còn đem lại lợi nhuận nữa.

Trong văn chương, vở kịch Nildarpan của Dinabandhu Mitra (1830-1873) được viết dựa trên cuộc sống của các nô lệ và cảnh lao động cưỡng bức của họ trong việc trồng chàm ở Ấn Độ khi đó. Nó đóng một vai trò quan trọng trong cuộc nổi dậy của người Bengal năm 1858 gọi là Nilbidraha.

1.3 Phát triển trong công nghệ nhuộm

Bột chàm (Indigo) là thuốc nhuộm khó sử dụng do nó không hòa tan trong nước; để hòa tan, nó cần phải trải qua một số biến đổi hóa học. Khi vải cần nhuộm được đưa ra khỏi bể nhuộm, bột chàm nhanh chóng kết hợp với ôxy trong không khí và chuyển hóa thành dạng không hòa tan. Khi lần đầu tiên nó có tương đối sẵn tại châu Âu vào thế kỷ 16, các thợ nhuộm và thợ in châu Âu đã gặp nhiều khó khăn với bột chàm do tính chất đặc biệt này. Nó cũng là hóa chất có khả năng gây ngộ độc do đòi hỏi một vài biến đổi hóa học, và do vậy có nhiều cơ hội gây thương tổn cho người lao động. Trên thực tế, trong thế kỷ 19, nhà thơ người Anh William Wordsworth đã nói tới những hoàn cảnh gian khổ của các công nhân làm nghề nhuộm chàm ở thành phố quê hương ông là Cockermouth trong bài thơ tự truyện của ông "The Prelude". Để nói về điều kiện làm việc kinh khủng của họ và lòng cảm thương mà ông dành cho họ, ông đã viết, "Doubtless, I should have then made common cause/ With some who perished; haply perished too,/ A poor mistaken and bewildered offering - / Unknown to those bare souls of miller blue."

Quy trình tiền công nghiệp để nhuộm màu bằng bột chàm được sử dụng tại châu Âu là hòa tan bột chàm trong nước tiểu để lâu. Nước tiểu khử bột chàm không hòa tan trong nước thành chất hòa tan trong nước gọi là bột chàm trắng hay leucoindigo, nó sinh ra dung dịch màu lục-vàng. Vải nhuộm trong dung dịch này sẽ chuyển thành màu chàm sau khi bột chàm trắng bị ôxi hóa và trở thành bột chàm. Urê tổng hợp để thay thế cho nước tiểu chỉ có trong thế kỷ 19.

Một phương pháp tiền công nghiệp khác, sử dụng tại Nhật Bản, là hòa tan bột chàm trong bể chứa nung nóng, trong đó mẻ cấy vi khuẩn ưa nhiệt và kỵ khí được duy trì. Một vài loài vi khuẩn sinh ra hiđrô như là sản phẩm của quá trình trao đổi chất của chúng, nó có thể chuyển hóa bột chàm không hòa tan thành bột chàm trắng hòa tan. Vải nhuộm trong các bể chứa này được trang trí bằng các kỹ thuật shibori, kasuri, katazome, tsutsugaki. Các ví dụ về quần áo được nhuộm bằng các kỹ thuật này có thể nhìn thấy trong các tác phẩm của Hokusai và các nghệ sĩ khác.

Hai phương pháp khác để áp dụng trực tiếp bột chàm được phát triển tại Anh trong thế kỷ 18 và được sử dụng nhiều trong thế kỷ 19. Phương pháp thứ nhất, gọi là pencil blue (bút chì lam) do nó được áp dụng chủ yếu bằng bút chì hay chổi, có thể được sử dụng để thu được tông màu sẫm. Trisulfua asen và chất làm đặc được thêm vào bể chứa bột chàm. Hợp chất của asen làm chậm quá trình ôxi hóa của bột chàm đủ kéo dài để quét lớp thuốc nhuộm lên trên vải.

Phương pháp thứ hai gọi là china blue (lam Trung Hoa) do nó tương tự như sứ men lam-trắng của Trung Quốc. Thay vì sử dụng dung dịch bột chàm trực tiếp, quy trình sẽ là việc in dạng không hòa tan của bột chàm lên trên vải. Bột chàm sau đó bị khử trong một chuỗi các bể chứa sulfat sắt (II), với quá trình ôxi hóa giữa mỗi lần ngâm nước. Quy trình china blue có thể tạo ra các kiểu mẫu sắc nét, nhưng nó không thể tạo ra tông màu sẫm như ở phương pháp pencil blue.

Vào khoảng năm 1880 quy trình glucoza được phát triển. Nó đã cho phép có khả năng in trực tiếp bột chàm lên vải và có thể tạo ra các bản in bột chàm sẫm màu không đắt tiền mà không thể đạt được với phương pháp china blue.

1.4 Thuộc tính hóa học

Bột chàm là chất bột kết tinh màu lam sẫm, nóng chảy ở 390°-392°C. Nó không hòa tan trong nước, rượu, ête nhưng hòa tan trong cloroform, nitrobenzen, axít sulfuric đặc. Cấu trúc hóa học của bột chàm tương ứng với công thức C16H10N2O2.

Chất có nguồn gốc tự nhiên là indican, nó không màu (hay màu trắng) và hòa tan trong nước. Indican có thể dễ dàng bị thủy phân để tạo ra glucoza và indoxyl. Các chất ôxi hóa nhẹ, như phơi nhiễm ra không khí, chuyển hóa indoxyl thành bột chàm.

Quy trình sản xuất đã phát triển vào cuối thế kỷ 19 hiện vẫn còn được sử dụng trên khắp thế giới. Trong quy trình này, indoxyl được tổng hợp bằng cách nấu chảy phenylglyxinat natri trong hỗn hợp của NaOH với sodamid.
Một vài hợp chất đơn giản hơn cũng có thể được sản xuất bằng cách phân hủy indigo; các hợp chất này bao gồm anilin và axít picric. Phản ứng hóa học có tầm quan trọng thực tế duy nhất là khử nó bằng urê thành bột chàm trắng. Bột chàm trắng bị tái ôxi hóa thành bột chàm sau khi nó được dùng để nhuộm vải.
Bột chàm xử lý với axít sulfuric sinh ra chất có màu lam-lục. Nó đã có sẵn từ giữa thế kỷ 18. Bột chàm được sulfonat hóa còn gọi là lam Saxon hay indigo cacmin.

Tía Tyre là thuốc nhuộm màu tía có giá trị trong thời cổ đại. Nó được sản xuất từ các chất bài tiết ra của các loại ốc biển vùng Địa Trung Hải. Năm 1909 cấu trúc hóa học của nó được thể hiện là 6,6′-dibromoindigo. Nó chưa bao giờ được sản xuất tổng hợp trên nền tảng thương mại.

Cấu trúc SMILES của indigo là S=O=c3c(=c2[nH]c1ccccc1c2=O)[nH]c4ccccc34 và số CAS là 12626-73-2.

1.5 Tổng hợp hóa học

Bột chàm có thể sản xuất theo phương pháp tổng hợp bằng nhiều cách. Phương pháp nguyên bản, lần đầu tiên được Heumann sử dụng năm 1897 để tổng hợp bột chàm là nung nóng axít N-(2-cacboxyphenyl)glyxin tới 200°C trong khí trơ với NaOH. Nó sinh ra axít indoxyl-2-cacboxylic, một chất dễ dàng bị khử cacboxylat và ôxi hóa trong không khí thành bột chàm.
Phương pháp nguyên bản của Heumann trong tổng hợp bột chàm (indigo).
Phương pháp tổng hợp hiện đại của bột chàm là khác biệt một chút với phương pháp nguyên bản và việc phát minh ra phương pháp này được coi là của Pfleger vào năm 1901. Trong quy trình này, N-phenylglyxin được xử lý bằng các chất kiềm nóng chảy (NaOH hay KOH) chứa sodamid (NaNH2). Nó sinh ra indoxyl, sau đó chất này bị ôxi hóa trong không khí thành bột chàm.
Phương pháp Pfleger trong tổng hợp bột chàm

sonquan1421988

  • Khách
Re: Nhuộm vải bằng chất màu tự nhiên
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Tư 04, 2009, 10:13:03 PM »
2. NHUỘM TƠ TẰM BẰNG THUỐC NHUỘM TỰ NHIÊN ĐƯỢC CHIẾT XUẤT TỪ LÁ CÂY TÍA TÔ TÂY
(Bài viết được đăng trên website của Bộ Công Thương-Vụ Khoa học Công nghệ-Thông tin khoa học công nghệ)

   
2.1 LỜI GIỚI THIỆU

   Sự bắt đầu của một thiên niên kỷ mới đảm bảo đem đến rất nhiều thay đổi quyết liệt trong cuộc sống con người. Một trong những sự biến chuyển này là hướng tới những loại thuốc nhuộm tự nhiên và cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả so với loại thuốc nhuộm tổng hợp là loại hoá chất hiện đang mất dần chỗ đứng do những nhận thức mang tính quốc tế về bảo vệ môi trường và sinh thái. Với loại thuốc nhuộm tự nhiên không ô nhiễm hiện đang xuất hiện như là một sự lựa chọn hoàn hảo do chúng không độc hại và dễ sử dụng.

  Trong bối cảnh hiện nay, thuốc nhuộm tự nhiên là chất tạo màu trong ngành dệt và may mặc thời trang ngày càng thích đáng hơn so với trước đây ở bên trong và bên ngoài đát nước (Ấn độ). Đây là một quốc gia mà đang có một mạng lưới đang phát triển bao gồm các nhà nghiên cứu thuốc nhuộm tự nhiên, những nhà sản xuất, nhà tổ chức và người tiêu dùng. Do đó, toàn cảnh hiện nay của việc thúc đẩy sử dụng thuốc nhuộm tự nhiên là rất lạc quan và nhiều hứa hẹn.

          Nghề thủ công cổ đại sử dụng thuốc nhuộm tự nhiên đang được hồi phục lại trong các ngành dệt thoi, dệt kim và những người công nhân sản xuất kim dệt phát hiện lại những đặc tính mềm mại, mỏng, bóng láng và hơn tất cả đó là màu sắc sống động đồng thời cùng với việc phát hiện ra được rất nhiều màu sắc rõ nét, tươi sáng. Thuốc nhuộm tự nhiên bền vững trong thời gian dài và lưu giữ được vẻ đẹp và sự quyến rũ tuyệt vời. Chúng tạo ra được một sự phối hợp hài hoà giữa những gam màu và nếu như màu sắc phai đi thì tạo ra những ánh màu câm tuyệt vời.

          Có rất nhiều thời gian để tập trung vào nghiên cứu về các phương pháp chiết xuất, nguồn đầu vào rẻ, mới mẻ để sản xuất ra một lượng vừa đủ những chất màu tự nhiên, an toàn và có thể tồn tại độc lập được mà có thể lấy lại được những danh tiếng từ trước, ít nhất là thay thế được với loại thuốc nhuộm tổng hợp.

2.2 CÁC BƯỚC THÍ NGHIỆM

Lựa chọn vải thí nghiệm

          Loại vải tơ tằm được chọn để nghiên cứu là loại vải cho ánh màu rực rỡ với loại thuốc nhuộm đã chọn.

Tiền xử lý vải lụa tơ tằm

          Người ta chuẩn bị dung dịch bột giặt trung tính (Genteel) chứa 0,5ml genteel/100ml nước và được đun nóng đến 50 độ C. Vải tơ tằm được nhúng vào trong dung dịch này và khuấy nhẹ trong 30 phút. Sau đó, vải được giũ trong nước máy, phơi trong bóng râm và là khi còn ẩm.

2.2.1 Chọn thuốc nhuộm

          Cây tía tô tây là một loại cây thảo mộc lâu năm nhưng thuộc loại cây bụi nhỏ. Một tán lá nhỏ có kích thước từ 30 - 60cm, giống như cây khổ sâm có nhiều đốm màu khác nhau trên lá. Với những vết, sọc, chấm của những màu sắc đối lập nhau trên tán lá cây thì những gam màu như xanh lá cây nhạt, nâu, hạt dẻ, màu tía, đồng thiếc, màu đồng,... cùng hoặc không cùng với mép diềm lá, vỏ sò tạo vẻ đẹp như bức tranh. Những cây này yêu cầu nhiệt độ tối thiểu là 55 độ C và phải được đất màu mỡ, đủ ánh nắng.

2.2.2 Chọn chất cầm màu

          Ở đây người ta đưa ra nghiên cứu ba chất cầm màu kim loại đó là sunphát nhôm kali, sunphát đồng và sunphát sắt và ba chất cầm màu tự nhiên với tên gọi Bahera, vỏ cây Pomegranate và lá cây chè. Với mối chất cầm màu thí nghiệm với bốn nồng độ khác nhau đó là .05, .10, .15 và .20gm cho nhôm; .01, .02, .03 và .4gm cho sunphát đồng và sunphát sắt; 1, 2, 3 và 4gm cho tương ứng với Bahera, vỏ cây Pomegranate và lá cây chè. Các nhà nghiên cứu cũng tiến hành ba cách cầm màu đó là cầm màu trước, trong và cầm màu sau.

2.2.3 Đánh giá các biến sô nhuộm

          Người ta tiến hành thực hiện một loạt các thí nghiệm để xác định các biến số nhuộm chẳng hạn như nồng độ trích ly trung bình và tối ưu của nguyên liệu nhuộm, thời gian trích ly, thời gian nhuộm, nồng độ chất cầm màu và phương pháp cầm màu.

* Môi trường trích ly để nhuộm

          Thuốc nhuộm từ lá cây tía tô tây được chiết xuất từ kiềm, axít và nước trung tính. Người ta chuẩn bị axít trung tính bằng cách cho 1ml axít hyđrôcloric vào trong 100ml nước. Kiềm trung tính được chuẩn bị bằng cách cho 1gm Na2CO3 vào 10ml nước. Sau đó nguyên liệu nhuộm được cho vào từng dung dịch và đung nóng lên tơi 60 độ C trong thời gian 1 giờ đồng hồ. Với mỗi phần chiết thuốc nhuộm, cho một lượng vải tơ tằm đã biết bào và nhuộm trong 60 phút. Phương pháp nhuộm này cho màu sắc trên tơ tằm đẹp nhất và cách này được chọn để nghiên cứu về sau.

* Nồng độ nguyên liệu nhuộm

          Chuẩn bị năm nồng độ nguyên liệu nhuộm khác nhau bằng cách đun nóng 2, 4, 6, 8 và 10gm nguyên liệu nhuộm trong 100ml nước ở nhiệt độ 80 độ C trong 1 giờ. Sau đó dung dịch này được lọc và làm lạnh.

          Mật độ quang học của dung dịch nhuộm trước và sau khi nhuộm được ghi lại và phần trăm thấm hút nước cũng được tính toán. Nồng độ chỉ ra cho thấy phần trăm thấm hút nước cao nhất đã được chọn là nồng độ tối ưu để nghiên cứu thêm.

* Thời gian tận trích thuốc nhuộm

          Năm mức nồng độ thuốc nhuộm được chọn, mỗi loại bao gồm 100ml nước axít và được đun lần lượt trong 30, 45, 60, 75 và 90 phút. Với mỗi dung dịch tận trích, người ta cho vào đó một lượng vải tơ tằm đã cho và nhuộm trong 60 phút. Vải nhuộm được giặt bằng nước và phơi trong bóng râm. Phần trăm hấp thụ nước được tính cho riêng từng mẫu và trên cơ sở các kết quả thu được sẽ tối ưu hoá thời gian nhuộm tận trích.

* Thời gian nhuộm

          Năm dung dịch nhuộm của lá tía tô tây được chuẩn bị bằng cách tận trích thuốc nhuộm với nồng và thời gian tận trích tối ưư trong 100ml nước. Việc nhuộm các mẫu vải tơ tằm trước giặt được tiến hành lần lượt trong 30, 45, 60, 75 và 90 phút./.

sonquan1421988

  • Khách
Re: Nhuộm vải bằng chất màu tự nhiên
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Tư 04, 2009, 10:17:12 PM »
3. Nhuộm vải bằng chất mầu chiết xuất từ thảo mộc
(đăng trên báo Nhân Dân)

Các chuyên gia Phòng Hóa nhuộm và xử lý hoàn tất sản phẩm dệt - may (Khoa Công nghệ dệt - may và thời trang, Trường đại học Bách khoa Hà Nội) đã hoàn thiện công nghệ nhuộm vải cotton, vải tơ tằm bằng chất mầu tự nhiên được chiết xuất từ lá các loại cây sẵn có ở nước ta như: chè, bàng, bạch đàn, hồng xiêm, sắn dây, thiên lý, tre...

Ðây là công nghệ dựa trên kỹ thuật truyền thống của đồng bào các dân tộc địa phương, nhưng đã được nâng lên bằng những kỹ thuật mới nên màu vải sau khi nhuộm bền hơn, sặc sỡ hơn và vải ít bị nhàu. Ðiều quan trọng hơn là nó có ưu điểm về khả năng bảo vệ da, tính kháng khuẩn cao và nước thải trong quá trình nhuộm không hủy hoại môi trường như các loại thuốc nhuộm có nguồn gốc từ hóa chất.
 
Ðề tài này được hình thành từ những chuyến đi thực tế của PGS-TS  Hoàng Thị Lĩnh tới vùng đồng bào dân tộc thiểu số chuyên nhuộm vải thổ cẩm thủ công bằng lá chàm và củ nâu ở Lạng Sơn, Sơn La, Lào Cai, Hòa Bình. Nhưng nguồn nguyên liệu này ngày càng khan hiếm. Hầu hết bà con dân tộc phải sử dụng hóa chất để thay thế vừa dễ bị phai, vừa có hại cho da. Vì thế tác giả đã nghiên cứu, đưa các loại lá vào tách chiết lấy dung dịch màu, sau đó bổ sung một số hợp chất có tỷ lệ thích hợp và cho vải vào nhuộm đều.

Ðể tăng số lượng vải cho một lần nhuộm, đồng thời bảo đảm đồng đều của màu trên vải nhuộm, nhóm nghiên cứu đã hoàn thiện quy trình công nghệ nhuộm đơn giản: Sau khi thu gom nguyên liệu, rửa sạch đưa vào bộ phận phụ trợ có nhiệm vụ tách chiết lấy dung dịch chất mầu rồi chuyển vào máy nhuộm. Trong bộ phận máy nhuộm, thiết kế thêm giỏ lọc tạp chất từ nguyên liệu. Mỗi lần nhuộm ít nhất cũng phải đạt công suất 200 m vải/lần.
 
Mỗi loại lá cây cho ít nhất năm loại mầu khác nhau và khi tận dụng dung dịch loãng của hai loại cây khác nhau sẽ cho ra nhiều loại mầu phong phú.

sonquan1421988

  • Khách
Re: Nhuộm vải bằng chất màu tự nhiên
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Tư 04, 2009, 10:21:48 PM »
4. Nhuộm Thâm
(http://blog.timnhanh.com/docongkysuu/comment/nhuom-mau-xua.35AB2062.html)

Truyền thuyết kể rằng, khi quân Mã Viện đuổi hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, tới một làng, quân Mã chợt hoa mắt vì thấy những sào vải đen phơi dọc ngang không biết lối nào mà lần. Quân Mã sợ rơi vào trận đồ bát quái của hai bà, đành quay ra tìm đường khác. Ngôi làng trong truyền thuyết khiến quân Mã Viện phải hốt hoảng ấy chính là Huê Cầu, thuộc tổng Huê Cầu, huyện Tế Giang (sau thuộc Văn Giang), phủ Thuận An (sau đổi phủ Thuận Thành), trấn Kinh Bắc, nay thuộc thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Còn những sào vải đen khiến quân giặc tưởng là "trận đồ bát quái" kia, chính là nghề tổ của làng - nghề nhuộm thâm.
Ai lên Đồng Tỉnh,
Huê Cầu Đồng Tỉnh bán thuốc,
Huê Cầu nhuộm thâm
Nào ai đi chợ Thanh Lâm
Mua anh một áo vải thâm hạt dền...,


Nói quanh nói quẩn những Đồng Tỉnh, Huê Cầu, Thanh Lâm, thì chẳng qua cũng là một lời tỏ tình, kiểu Hôm qua tát nước đầu đình..., áo nhuộm thâm là cái cớ, nhưng cái cớ ấy từng là một phần không thiếu được trong đời sống người nông dân Việt Nam.

Trong số gần 500 làng nghề từng tồn tại ở đồng bằng sông Hồng, làng ươm tơ dệt vải có lẽ là làng nghề đông nhất. Dọc theo các con sông, các bãi bồi đều là những bãi dâu rười rượi, và nhất định phía trong những bãi dâu ấy có lanh canh tiếng thoi đưa cửi dệt. Nhưng trừ Huê Cầu ra, không thấy nói đến làng nào có nghề nhuộm. Các cụ bà Nguyễn Thị Thoan (làng dệt Đại Mỗ), Nguyễn Thị Mùi (làng dệt La Khê) đều cho biết làng chỉ dệt vải rồi mang vải mộc ra chợ Đình (chợ đình làng) hoặc chợ Hà Đông bán cho lái buôn. Nơi sẽ nhuộm tất cả thứ vải lụa ấy rồi đem bày bán chính là phường Hàng Đào nơi Kẻ Chợ. Hàng Đào nổi tiếng về nhuộm điều, các mầu đỏ, hồng, hoa đào... Đến thế kỷ 18, trong Thượng Kinh phong vật chí ghi chép lại thì: "Phường Hàng Đào làm nghề nhuộm mầu: mầu trắng như tuyết, mầu đỏ như tiết, mầu đen như mực... Mầu vàng là chính. Màu tạp thì có mầu hoa hiên, thiên thanh, hoa đào, cánh trả, quan lục, không mầu nào giống mầu nào". Rồi thì người Hàng Đào cũng bắt đầu "chuyên môn hóa" công việc, theo nhà nghiên cứu Chu Quang Trứ trong Tìm hiểu làng nghề thủ công điêu khắc cổ truyền, Hàng Đào chỉ giữ lại việc nhuộm điều, chuội trắng nhờ bên Cầu Gỗ, còn lại giao cho Hàng Thợ Nhuộm... (đều thuộc Hà Nội). Duy có một thức nhuộm mà phường Hàng Đào không khi nào tự làm được, ấy là nhuộm thâm (đen). Bởi nhuộm thâm thời ấy, tất cả bằng mầu thực bắt buộc phải có... bùn, người Hàng Đào phải giao vải mộc về nơi khác, và Huê Cầu chính là nơi nổi tiếng về cái thức nhuộm rất dân dã và cũng rất lạ lùng này. Cứ theo truyền thuyết thì nghề nhuộm thâm ở Huê Cầu cũng có ngót nghét 2.000 năm !

Người Huê Cầu nhún nhường lắm về nghề tổ của làng mình: Ruộm (nhuộm) thâm chẳng hết bao nhiêu/Hết một nắm đất với niêu lá sòi. Nhưng cái "chẳng hết bao nhiêu" ấy kể ra thì những nhà nhuộm bây giờ nghe cũng phức tạp: Đầu tiên phải nhuộm gụ bằng củ nâu, đun trong nước lá sòi (một loại cây thân gỗ mọc hoang), có nơi dùng lá bàng, hoặc hạt dền như trong câu ca dao, sau đó lấy bùn trát kín, việc trát bùn phải được làm đi làm lại vài lần. Sau khi nhuộm xong, tấm vải không đen nhánh, không đen bóng, mà có mầu đen thâm, bàng bạc, song hầu như không bao giờ phai. Các khe của sợi vải sau khi nhuộm sẽ được lấp kín, tấm vải cực kỳ dai và bền, dày dặn nhưng mặc lại không nóng, không bí. Chuyện rằng có những người mẹ nghèo, đêm ngủ dùng váy thâm lót cho con, tấm váy này có tác dụng như một tạ giấy thời hiện đại, chính được may bằng loại nái (một loại vải dày) nhuộm bùn. Trước đây, những mầu sắc rực rỡ thường chỉ được dùng trong các ngày lễ hội.

Trong đời sống thường ngày, nhất là đối với người lao động, mầu vải thâm vẫn là gam mầu chính. Một anh chàng nhắn gửi "ai" đó: Mua anh một áo vải thâm hạt dền. Sau này khi Nguyễn Đình Thi viết về Đất nước Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn, không biết có phải là tấm áo đó không ? Và không chỉ thế, người Huê Cầu còn tự hào vì nghề nhuộm của mình đã ra khỏi làng, vào cả những nơi chốn cao sang.

Theo gia phả họ Cao, ở làng có cụ Cao Quý Công từng được triều đình nhà Nguyễn vời vào kinh đô Huế nhuộm vải vóc cho hoàng tộc.
Nhưng đấy là chuyện của những thế kỷ trước. Bây giờ đến Huê Cầu hỏi làng nghề, người trẻ thì gãi đầu cười trừ. Mấy bà bán hàng đầu chợ nói rằng làm gì còn ai nhuộm. Cách Huê Cầu khá xa (về thị xã Hải Dương rồi đi thêm chừng 10 km nữa), ở huyện Nam Sách còn chợ Thanh Lâm. Không ai hiểu tại sao cái áo nhuộm thâm ở Huê Cầu lại có thể lưu lạc đến một cái chợ cách nó đến 40-50 km, xưa kia đấy là một khoảng cách đáng kể. Hóa ra, chợ Thanh Lâm trong câu ca xưa không phải ở Nam Sách, Hải Dương. Theo bác Tô Xuân Thạch, nhà giáo về hưu đã bỏ nhiều năm tìm lục lại sử sách về làng, đó là chợ Thanh Lâm (hay Cách Lâm) nằm ở đầu làng Lê Cao bên cạnh Huê Cầu. Khi quân Hán đô hộ Việt Nam, khu gia binh của thành Luy Lâu được đặt trên đất Xuân Cầu, hình thành nên khu chợ gần đấy. Chợ Thanh Lâm này còn có ngôi quán mang tên Hàng Vải, đây chính là nơi bán sản phẩm nhuộm đặc trưng của làng.Nay thì chợ Thanh Lâm ấy cũng không còn, khi dân làng đào đất làm lò gạch phát hiện nhiều nền phế tích xưa, trong đó có cả nền quán Hàng .
Hàng Vải mất, Thanh Lâm cũng chẳng còn, làng mất nghề, chỉ còn lại độc cái tên từng ghi dấu vào ca dao một thuở, dân làng chủ yếu chạy chợ và đi làm thuê ngoài Hà Nội. Mấy năm nay, Huê Cầu cũng muốn mở lại hội làng, nhưng bàn đi bàn lại chẳng biết nên tổ chức thế nào. Vì đình chùa miếu mạo không còn, nghề tổ cũng mất (ngoài nghề nhuộm, Huê Cầu còn có đặc sản bánh mỡ song cũng đã thất truyền), thế hệ trẻ gần như không biết chút gì về quá khứ xưa. Bác Thạch ngậm ngùi nói một câu nghe chừng rất đúng với Huê Cầu bây giờ: Thế mới hiểu những giá trị truyền thống có ý nghĩa như thế nào trong đời sống hiện đại.
Làng Huê Cầu không còn ai biết nghề nhuộm thâm, nhưng đất dệt xứ bắc vẫn còn. Làng Nội Duệ (Bắc Ninh) có bà Năm nay đã ngoại 80 là người sót lại cuối cùng của làng chuyên sống bằng nghề nhuộm thuê. Tay bà vài hôm lại có một mầu: khi xanh, khi đỏ, lúc tím, lúc lại vàng. Đấy là mầu của thuốc nhuộm, bây giờ là thuốc hóa học, nhuộm xong bà lại phải dùng thuốc hóa học khác để rửa phòng thuốc nhuộm ăn vào da. Trước kia nhuộm màu tự nhiên bà không phải lo điều ấy, mà vải không phai, bây giờ thuốc hiện đại, mầu phai, bà thắc mắc lắm. Bây giờ cũng không ai thuê bà nhuộm thâm nữa, nhưng nếu bạn muốn, bà vẫn sẵn sàng.

sonquan1421988

  • Khách
Re: Nhuộm vải bằng chất màu tự nhiên
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Tư 04, 2009, 10:31:11 PM »
5. Lãnh Mỹ A (Tân Châu-An Giang)
(Theo báo Điện tử Đại học An Giang)

Lãnh Mỹ A- là một thương hiệu nổi tiếng của lụa Tân Châu. Quê hương xứ lụa Tân Châu là một làng nghề một thời vang bóng nhưng nay đã mai một rất nhiều. Những hàng dâu bát ngát ven đường, những khung cửi cất lên những tiếng dệt vải trong những đêm trăng ….tất cả tạo nên một bức tranh hoành tráng về thời hoàng kim của lụa Tân Châu.
Ca dao Nam Bộ có câu:
"Trai nào bằng trai hai huyện
Tháng ngày dệt lụa trồng dâu
Gái nào thảo bằng gái Tân Châu
Thờ cha nuôi mẹ quản đâu nhọc nhằn"
[/i]

Nói về nghề tơ tằm, chúng ta thấy rằng đây là một trong những nghề thủ công truyền thống nổi tiếng ở An Giang. Nhìn lại lịch sử, khi chiếm được Nam Kỳ, một trong những nghề thủ công nghiệp mà Thực Dân Pháp quan tâm khai thác là nghề dâu tằm. Pháp chọn Tân Châu làm trọng điểm để thực hiện các biện pháp phát triển nghề tằm tơ cả Nam Kỳ nhằm cung cấp tơ tằm cho chính quốc. Chúng cho thành lập ở Tân châu một Viện tằm tơ (tháng 7/1908). Vì thế không có gì ngạc nhiên khi Tân Châu cũng là trung tâm sản xuất và buôn bán tằm tơ nổi tiếng ở Nam Kỳ và Campuchia lúc bấy giờ. Chính nhờ có Viện này mà tằm tơ được tuyển chọn những giống tốt cho năng suất và chất lượng cao để tiến hành nhân giống, đồng thời cũng tiến hành phổ biến kỹ thuật đến người dân trong vùng. Song song đó, Chính quyền lúc bấy giờ cũng đã miễn thuế đất cho diện tích trồng dâu và những chính sách hỗ trợ khác nữa. Vùng Tân Châu là vùng đất cù lao có đất đai, khí hậu thích hợp cho việc trồng dâu nuôi tằm. Năng suất trồng dâu và chất lượng tơ nơi đây tốt hơn những nơi khác. Lúc đầu nông dân nuôi những giống kén vàng nhưng sau đó với đà phát triển đã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nên nông dân đã chuyển sang nuôi những giống tằm lưỡng hệ trắng và các cặp lai của nó. Những giống tằm này cho năng suất cũng như chất lượng kén và tơ cao hơn. Tuy nhiên việc nuôi tằm rất cực nhọc nhất là vào thời điểm tằm ăn lên.

Sau khi xử lý kén là đến giai đoạn ươm tơ. Trước đây nghề ươm tơ còn đơn giản theo lối cổ truyền như: kén được cho vào nồi nước sôi, sau đó kéo mối tơ và gắn vào bánh xa quay, người thợ ươm tơ khuấy đôi đũa liên hồi vào nồi nấu kén đồng thời tay cũng quay đều đầu bánh xe để cuộn tròn các sợi tơ. Quay mãi cho đến khi còn lại xác con tằm. Về sau nông dân đã cải tiến khâu ươm tơ sử dụng xa ươm tơ bông sen và cơ giới hoá để nâng cao năng suất và chất lượng tơ. Tơ thô sau đó được tháo ra từ các bó để se lại thành sợi to. Rồi được dệt lại thành những tấm lụa.

Lụa Tân Châu nổi tiếng với thương hiệu Lãnh Mỹ A là một trong những loại mặt hàng “độc nhất vô nhị” mà bất kỳ người phụ nữ nào ở thế kỷ XX cũng đều mơ ước được mặc những chiết quần lãnh đầy nét quyến rũ này. Lãnh Mỹ A là một loại lụa dệt bằng tơ tằm, được gia công bằng những công thức rất độc đáo. Nó không có nhiều màu sắc như những loại vải hiện nay, nó chỉ có một màu đen huyền bóng loáng và không bao giờ phai màu. Điều đặc biệt và cũng là nét đặc trưng cho sản phẩm này chính là khả năng không co giãn và không hút ẩm của nó. Lãnh Mỹ A mặc vào mùa hè thì rất thoáng mát, mặt vào mùa đông thì ấm áp lạ thường . Dấu hiệu dễ nhận thấy được của những người thợ nhuộm lụa Tân Châu là đôi bàn tay bị đen do tiếp xúc với phẩm nhuộm. Nhưng điều đặc biệt ở đây là phẩm nhuộm không phải là những hoá chất được pha chế như hiện nay, nó là nhựa của một loại quả gọi là quả mặc nưa. Loại quả này có nguồn gốc từ Campuchia được những người thợ nhuộm mua quả chở về (mùa thu hoạch quả mặc nưa bắt đầu vào khoảng tháng 5 tháng 6). Sau đó người dân nơi đây tự trồng lấy, không ngờ loại cây này lại rất thích hợp với vùng đất Tân Châu.

Cây mặc nưa là một loại cây gỗ có màu đen, thân già thì xù xì do có những mảng da bong ra, lá mỏng, chùm quả tròn trĩnh gần giống như quả nhản đung đưa trước gió. Những quả mặc nưa sau khi thu hái đem về được phân loại lớn nhỏ khác nhau và đặc biệt là loại bỏ những quả chín vì không còn nhựa nữa. Trái mặc nưa được đem về giã nát bằng cối đá hoặc bằng máy nghiền sau đó hoà vào nước tạo nên một dung dịch có màu vàng rất đẹp, màu này sẽ chuyển sang màu đen huyền khi tiếp xúc với không khí và nhiệt độ. Dung dịch này được gạn bỏ bả và được dùng để nhuộm lụa Tân Châu.


Lụa sau khi nhuộm xong được phơi trong nắng, những bãi phơi lãnh rất rộng được trải bằng như tàu lá dừa hoặc trồng cỏ. Có những sân phơi làm những cộc phơi những cây hàng dài 20 mét. Lụa sau khi dệt xong thành từng cây màu trắng có những hoa văn đơn giản nhưng rất phù hợp với màu sắc đen huyền của lãnh. Những tấm lụa được nhúng vào trong dung dịch nước mặc nưa sau đó vắt kỹ đem ra nắng phơi, một ngày có thể nhuộm nhiều lần như thế rồi phơi. Cái đen huyền của nhựa mặc nưa thấm vào từng sợi tơ. Công việc này lặp đi lặp lại nhiều ngày nếu như thời tiết bình thường thì khoảng 40-45 ngày thì hoàn tất công đoạn nhuộm. Trong khi đó khoảng 5 đến 7 ngày người thợ nhuộm phải đem những cây hàng (đơn vị tính cho một cây lụa) đi nện (công đoạn bắt buộc khi gia công Lãnh Mỹ A, bởi lẽ sợi vải phải chịu tác dụng lực cơ học lên bề mặt mới tạo độ bóng bền cho lãnh). Lãnh sau khi phơi khô được quấn lại thành cuộn tròn và đem đi nện. Lúc trước những người thợ nện dùng những cây búa gỗ nện, những sau này họ sử dụng những máy nện hàng, những tiếng nện hàng đêm khuya tạo nên nét đẹp của vùng quê xứ lụa. Thế cũng chưa hết, lụa còn trải qua các giai đoạn hồ, xả nữa mới tạo được một tấm lụa Mỹ A tuyệt đẹp mang một màu đen huyền bóng loáng.

Nghề trồng dâu nuôi tằm có lẽ cực thịnh nhất vào giai đoạn 1935-1965. Từ năm 1976 đến nay nghề trồng dâu nuôi tằm chỉ còn rải rác ở một số nơi. Công ty tơ lụa An Giang có trụ sở đóng ở Tân Châu sau một thời gian hoạt động đã đóng cửa do sản phẩm làm ra chi phí cao không cạnh tranh được với hàng vải ngoại nhập, hàng may mặc đã tràn ngập thị trường với giá rẻ, chính vì thế các hộ trồng dâu nuôi tằm đã chuyển sang làm những nghề khác.

Giờ đây lụa Tân Châu đã không còn như trước nữa, những cảnh phơi lụa trên những cánh đồng, cảnh tất bật khi mưa đến, những câu hát vang cả khúc sông của những cô thiếu nữ xả lụạ chỉ còn trong ký ức. Nhưng những gì lịch sử đã ghi lại là mãi mãi.
Tài liệu tham khảo
Lê Minh Tùng. 2003. Tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp. Trong Địa Chí An Giang tập 1
An Giang: UBND Tỉnh An Giang:459-461.

 

Bác sĩ trực tuyến tu dien thuoc

drug dictionary thuocsi.com beautiful places in the world trathuoc.com

Tư vấn