Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Các loại vũ khí hóa học, sinh học .........  (Đọc 39658 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline orion8x

  • Cựu thành viên
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 710
  • Chị tha cho em , em còn vợ nhỏ con thơ .
Các loại vũ khí hóa học, sinh học .........
« vào lúc: Tháng Sáu 26, 2006, 09:36:17 AM »
   8/1945 đã đánh dấu lịch sử bằng sự tuyên bố ra đời của bom nguyên tử . Sức tàn phá của Bom nguyên tử ( còn gọi là bom A ) đã san bằng hai thành phô , 200 ngàn người chết tại chỗ , 200 ngàn ngườ nữa chết sau những năm gần đó , và di chứng phóng xạ tới bây giờ vẫn còn . Sức mạnh của nó phải làm cho Robert Oppenheimer - cha để bom A hối hận , không chỉ ông mà là cả những người thực hiện dự án Manhattan đều bị cảm thấy có tội đối với nhân loại . Có lẽ đó là loại bom khủng khiếp nhất con người có thể tạo ra .
   Nhưng tai họa là khi Liên xô cho nổ quả bom nguyên tử đầu tiên thì dự án bom H đc trình duyệt . Nó đc dự đoán là loại bom có sức hủy diệt cực lớn , sức mạnh gấp ngàn lần bom A . Trong cuộc thử nghiệm nó , bom H đã xóa sổ một đảo san hô . Tuy nhiên , đó vẫn chưa đc coi là bom H
                        Sư Tầm
Kể từ bây giờ, orion xin rút khỏi h2vn. Việc học kín hết thời gian của tớ òi, không thể onl thường xuyên như trước đc nữa. Những việc khác liên quan tới 4rum xin liện hệ với các mod khac để giải quyết nhé.

Cộng đồng Hóa học H2VN

Các loại vũ khí hóa học, sinh học .........
« vào lúc: Tháng Sáu 26, 2006, 09:36:17 AM »

Offline hoachem14

  • Iridium
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 448
Re: Về những loại vũ khí mới
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Sáu 26, 2006, 10:02:55 PM »
    Chà, vậy mà người ta ước tính lượng bom Mỹ tthả xuống VN còn dữ hơn cả bom A trăm lần
"Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho anh mà hãy hỏi anh đã làm gì cho đất nước"(J.F.Kenedy)

Offline orion8x

  • Cựu thành viên
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 710
  • Chị tha cho em , em còn vợ nhỏ con thơ .
Re: Về những loại vũ khí mới
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Sáu 29, 2006, 03:35:37 PM »
  Bom A đã có sức hủy diệt khủng khiếp , đã thế , chính phủ Mỹ còn ngâm kíu ra một loại bom mẹ ( bom H ) sức tàn phá đc dự đoán là gâp trăm lần bom A . Nó từng phá hủy cả một đảo san hô ( trong khi thử nghiệm ) . Nếu chiến tranh TG thứ III , không bít trái đất có nứt ra vì bom đạn hay không .
  Bom  H tuy nổ mạnh , nhưng lg phóng xạ không nhìu như bom A , nó mang tính hủy diệt nhìu hơn là giết chóc . Vậy mà chính phủ Mỹ còn đề xuất một loại vũ khí mới - Bom neutron . Loại bom cực kì "bẩn" này đc tạo ra cho mục đích giết người . Sức nổ nhỏ ( sao với 2 thứ kia ) nhưng nó tạo ra một lg phóng xạ khổng lồ , có thể biến một vùng rộng lớn thành vùng đất chết mà không cần tàn phá nó bằng thuốc nổ .
  Tớ mà có bom này thì tớ sẽ cho nổ ngay tại nơi nghiên cứu ra nó ( tiếc là 4rum cấm bàn về chính trị )
Kể từ bây giờ, orion xin rút khỏi h2vn. Việc học kín hết thời gian của tớ òi, không thể onl thường xuyên như trước đc nữa. Những việc khác liên quan tới 4rum xin liện hệ với các mod khac để giải quyết nhé.

Offline nguyentannhat

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 283
    • Vật Liệu
Các loại vũ khí hóa học, sinh học .........
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Sáu 29, 2006, 10:12:25 PM »
Việc Iran thực hiện công nghệ làm giàu Uranium khiến dư luận quốc tế lo ngại. Theo các chuyên gia, 1 kg Uranium được làm giàu tương đương 15.000 tấn thuốc nổ TNT.

Trong cuộc khủng hoảng hạt nhân ở Iran hiện nay, mục tiêu của các cường quốc Phương Tây là bằng mọi cách ngăn chặn để Iran không thể sở hữu được loại “thuốc nổ” có sức huỷ diệt hàng loạt, cụ thể là không thể làm chủ được công nghệ chế tạo hai loại nhiên liệu hạt nhân Uranium (tên gọi thông thường là Urani, viết tắt là U) và Plutonium (hay Plutoni, Pu).

Nhưng trước mắt, cấp bách nhất, là vấn đề Uranium. Họ buộc Iran phải từ bỏ chương trình làm giàu loại thuốc nổ này.

Quả bom Uranium định mệnh

Hiểm hoạ của quả bom nguyên tử chế tạo từ chất Uranium đối với con người không còn là câu chuyện trên sách vở.

Sáu mươi năm đã đi qua, nhưng nhân loại, và trước hết là người dân Nhật chưa thể nào và có lẽ không bao giờ quên ngày Thứ Hai kinh hoàng của năm 1945 ấy.

Ảnh chụp từ máy bay Thành phố Hiroshima trước và sau nổ bom nguyên tử vào ngày 6/8/1945. Sau vụ nổ (ảnh bên phải), Hiroshima chỉ còn là bình địa. (Ảnh từ internet).
Đúng 8 giờ 15 phút sáng ngày Thứ Hai, 6/8/1945, một quả bom nguyên tử đã được ném xuống Hiroshima.

Đó là loại bom bằng nhiên liệu Uranium.


Litle boy-Quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới. "Lõi" của quả bom này là 1 kg Uranium "giàu" với thành phần đồng vị U-235 chiếm trên 90%. Quả bom này đã nổ ở Hiroshima (Nhật) vào ngày 6/8/1945 và gây ra cái chết cho hơn 20 vạn người.

Dù chỉ dài 3,3 mét, đường kính 0,7 mét, nặng 4 tấn, có tên gọi mĩ miều là "Chú Nhóc Con" (Little Boy), nhưng sức huỷ diệt mạnh như 15 ngàn tấn thuốc nổ thông thường TNT, nó đã biến 92% thành phố Hiroshima thành gạch vụn và tro tàn, làm chết hơn 20 vạn người.

Thực sự, quả bom 4 tấn đó chỉ chứa 1 kg nhiên liệu ròng, hay nói cách khác chỉ gồm 1kg chất nổ Uranium với thành phần đồng vị U235 chiếm trên 90%.

Chính 1kg chất nổ ấy đã tạo nên sức tàn phá mạnh bằng 15 ngàn tấn thuốc nổ TNT thông thường!

Đến nay, trong các kho vũ khí của các cuờng quốc hạt nhân đã có những quả bom nguyên tử với sức huỷ diệt khủng khiếp lớn hơn, hàng chục và thậm chí cả trăm lần so với "Chú Nhóc Con" tàn phá Hiroshima năm xưa.

Nhưng, dù bom nhỏ hay bom lớn, tất cả đều đòi hỏi phải có công nghệ làm giàu Uranium nhằm tạo được một lượng cần thiết Uranium giàu, tức là loại Urani có thành phần đồng vị U235 rất cao.

Vậy, thế nào là U235 giàu và làm giàu Uranium như thế nào?
Uranium giàu

Nguyên tố Uranium, được phát hiện hơn 200 năm trước (năm 1789) bởi nhà hoá học M.G. Klapơrôt (người Đức).

Và tên nguyên tố này chính là tên gọi để kỷ niệm sự kiện phát hiện ngôi sao Urani, hay Thiên Vương Tinh trong Thái dương hệ của chúng ta.

Ngay từ đầu, nhiều đặc tính thông thường của Urani đã được khám phá.

Chẳng hạn, đó là kim loại nặng, màu trắng bạc, nhiệt độ nóng chảy 1133 độ C và nhiệt độ sôi là 3.500 độ C.

Chẳng có gì đáng chú ý nếu nguyên tố Urani không có một thuộc tính rất quan trọng - tính phóng xạ.

Chính với phát minh tia phóng xạ tự nhiên phát ra từ quặng Urani và Thôri, Marie Curie cùng chồng (Pierre Curie) và người thầy của mình (Henry Becquerel) đã được trao tặng Giải Nobel Vật lý năm 1903.
Không dừng ở đó, Marie Curie giành hẳn tám năm để tìm tòi những chất phóng xạ ẩn chứa trong quặng Urani và đưa đến cho nhân loại một công cụ quý giá sử dụng trong lĩnh vực y học, địa chất v.v...Và vinh quang lại đến với bà: Một giải Nobel thứ hai đã được trân trọng trao tặng riêng cho Marie Curie (1911), giải Nobel Hoá Học về phát minh các nguyên tố mới chưa hề biết trước đó - Radium và Polonium .

Nhưng quan trọng nhất và có ý nghĩa nhất đối với Urani là tính chất phân hạch của U-235, được các nhà khoa học lỗi lạc E. Fermi (Ý), O. Hahn và Ph. Strassman (Đức) phát hiện vào những năm 30 của thế kỷ trước.

Dưới tác dụng của nơtron, hạt nhân U -235 bị phân ra hai mảnh, đồng thời giải phóng 2-3 nơtron mới và toả ra một năng lượng lớn 200 MeV (200 triệu điện tử-vôn).

Như đã nói ở trên, chỉ 1kg Urani giàu trong “Chú Nhóc Con” đã phát ra năng lượng khổng lồ tương đương 15 ngàn tấn thuốc nổ TNT!

Phân hạch hạt nhân: Những hạt nơ-trôn bắn vào hạt nhân Uranium khiến cho hạt nhân Uranium vở ra thành nhiều hạt nhân nhỏ hơn và phóng thích một nguồn năng lượng cực kỳ lớn. (Nguồn: http://ffden-2.phys.uaf.edu/)

Chính tính chất này đã biến Urani thành một loại nhiên liệu lý tưởng sử dụng cho mục đích quân sự là chế tạo thuốc nổ hạt nhân hoặc ứng dụng trong mục đích hoà bình là xây dựng nhà máy điện hạt nhân (dùng năng lượng hạt nhân làm ra điện).

Uranium trong tự nhiên (Nguồn: web.em.doe.gov)

Các tài liệu địa chất cho biết Urani tự nhiên tồn tại dưới dạng hỗn hợp ôxit urani U2O8 trong quặng pesơblin.

Quặng này là nguyên liệu xuất phát để điều chế kim loại nguyên chất hoặc các hợp chất khác.

Họ cũng xác định rằng lượng Urani có trong quả đất tương đối ít, hàm lượng trung bình trong đất đá chỉ chiếm khoảng ba phần triệu (3.10 4%), gần như cùng hàm lượng của các nguyên tố hiếm hoi khác như Bo, Môlipđen, Ytecbi và Tali.

Kim loại Urani lại gồm hai thành phần đồng vị chủ yếu, U-238 và U-235.

Trong đó, U-238 chiếm hàm lượng áp đảo với 99,7%. Còn đồng vị U-235 quá ư nghèo, chỉ chiếm 0,3% (tức 3 phần ngàn). Điều oái oăm là U-235 hiếm, nhưng quý. Vì chỉ U-235 mới tham gia phản ứng hạt nhân dây chuyền, một phản ứng cần thiết để duy trì sự cung cấp nhiệt cho hoạt động của nhà máy điện hay tạo nên vụ nổ cần thiết.

Nói cách khác, chỉ hạt nhân U-235 này mới là nhiên liệu của nhà máy điện hạt nhân hoặc “thuốc nổ” của bom nguyên tử.

Trong thực tế, khó có thể tách được một lượng U-235 ròng tuyệt đối.

Chỉ có thể làm giàu đồng vị U-235 trong hỗn hợp kim loại Urani đến một tỉ lệ nhất định. Với độ giàu khoảng 5% (hay U-235 giàu 5%), kim loại hỗn hợp Uranium đã có thể dùng làm nhiên liệu cho nhà máy điện hạt nhân.

Nhưng để làm chất nổ cho bom nguyên tử thì U-235 phải chiếm trên 90% trong hỗn hợp kim loại Uranium. Người ta gọi đó là Uranium "giàu".
Công nghệ "làm giàu" Uranium

Như vậy, quá trình tăng thành phần U-235 trong kim loại hỗn hợp Uranium được gọi là công nghệ làm giàu Uranium.

Quá trình này trở nên rất quan trọng, nếu không nói là quyết định để biến chất Urani thành thứ vật liệu quý hiếm như vậy.

Phương pháp ly tâm để tách đồng vị U 235 ra khỏi U-238 dựa trên sự khác nhau về lực ly tâm của các phân tử khí nhẹ và nặng hơn. Sự tách riêng bằng phương pháp ly tâm được thực hiện trong các xy lanh quay. Hổn hợp các phân tử các loại khác nhau khi đi vào các xy lanh quay được tách thành hai dòng. Những phân tử nặng hơn bị gạt ra vùng ngoại biên của máy ly tâm và chuyển động xuống dưới dọc theo thành ngoài, còn cũng những phân tử ấy nhưng nhẹ hơn thì bị đẩy vào phần trung tâm hướng lên trên dọc theo trục của máy ly tâm. Trong phương pháp này, U 238 và U 235 chỉ đạt được sự tách riêng hoàn toàn khi cho hỗn hợp khí đi qua máy liên tục hàng nghìn lần. (Theo "Định luật tuần hoàn và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố của Mendeleep". N.P.Agaphosin, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội-1981).

Hiện nay, có nhiều phương pháp để làm giàu Uranium như: Tách đồng vị điện từ (Electromagnetic Isotope Separation), Khuyếch tán nhiệt (Thermal Diffusion), Khuyến tán khí (Gaseous Diffusion), Khí động học (Aerodynamic Processes), tách đồng vị La-de (Laser Isotope Separation), Trao đổi iôn và hoá học (Chemical and Ion Exchange), Tách Plasma (Plasma Separation) và Khí ly tâm (Gas Centrifuge).

Phương pháp phổ biến để làm giàu Uranium hiện nay là phương pháp ly tâm (Iran hiện đang sử dụng phương pháp này).

Muốn đạt độ giàu U-235 càng cao và thu được khối lượng nhiên liệu lớn, cần có nhiều máy ly tâm, hàng trăm, hàng nghìn và thậm chí hàng chục nghìn cỗ máy.

Rõ ràng, với hàng trăm máy siêu ly tâm đang làm việc hết công suất, Iran đã có công nghệ làm giàu Uran.

Quốc tế, trước hết là các siêu cường trong Hội đồng bảo an LHQ, đang hết sức quan ngại, đó cũng là điều dễ hiểu.

Không chỉ vậy, Iran còn làm tăng cơn sốt của cuộc khủng hoảng bằng tuyên bố về ý định xây dựng lò phản ứng hạt nhân nước nặng.

theo Vietnamnet
Nguyễn Tấn Nhật
mail: [email protected]

Offline I Am That I Am

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 2
Hồi âm: Về những loại vũ khí mới
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Tám 10, 2006, 09:55:21 PM »

Bom H(bom hidro-bom khinh khí) đúng là có sức mạnh hơn hẳn so với bom A(bom Atomic-bom nguyên tử)nhưng ko đến nỗi hàng trăm lần như bạn nói đâu.Mình có thể đưa ra 1 so sánh sau đẻ chứng minh:1 tấn Uranium đã làm giàu có thể giải phóng năng lượng tương đương với 2 triệu tấn than đá đốt hết ,nhưng 1 tấn Đơteri (hidro nặng) thì tương đương với 10 triệu tấn than đá đốt hết.Thế nên cùng lắm bom H chỉ mạnh gấp 5 lần bom A thôi.các bạn có thể đọc thêm về vấn đề này trong quyển Từ điển bách khoa quân sự.
À quên mất,mình là thành viên mới của forum.Mong các bạn chỉ giáo nha!
« Sửa lần cuối: Tháng Tám 11, 2006, 07:06:46 AM gửi bởi I Am That I Am »

Offline orion8x

  • Cựu thành viên
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 710
  • Chị tha cho em , em còn vợ nhỏ con thơ .
Hồi âm: Về những loại vũ khí mới
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Tám 30, 2006, 11:04:54 PM »
  Đồng ý ! Níu thực sự mạnh gấp trăm lần thì một quả bom H tàn phá cỡ một góc trái đất chứ chả chơi . Thực sự thì những điều trên chỉ là sưu tầm từ các bài báo , orion không có kiến thức mảng này nhìu lắm . Chắc nó phóng đại lên thui .
 
Kể từ bây giờ, orion xin rút khỏi h2vn. Việc học kín hết thời gian của tớ òi, không thể onl thường xuyên như trước đc nữa. Những việc khác liên quan tới 4rum xin liện hệ với các mod khac để giải quyết nhé.

Offline langtuchudu1986

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 5
http://www.hoahocvietnam.com
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Hai 20, 2007, 09:46:01 AM »
Tìm ra cách an toàn hơn để dò các khoáng uranium     
10/02/2007 
Mối đe dọa từ bom bẩn và các kế hoạch sử dụng năng lượng hạt nhân như nguồn năng lượng khiến các nhà khoa học tại Đại học Công nghệ Queensland tìm ra một cách mới an toàn hơn để dò ra sự nhiễm phóng xạ trong đất.

Giáo sư Ray Frost thuộc trường Khoa học Hóa học và Vật lý của QUT đã tìm ra cách nhận biết, từ một vị trí ở xa, những trầm tích dầu được chắt lọc qua đất và nước.

 
“Khả năng dễ dàng và sẵn sàng phát hiện ra các khoáng uranium, đặc biệt là các khoáng vật thứ sinh, có tầm quan trọng rất lớn, đăc biệt trong tình hình khủng bố và sự gia tăng khai thác uranium như hiện nay”. Giáo sư Frost nói. “Điều ít được biết đến là nhiều khoáng uranium, đặc biệt là các khoáng thứ sinh, hòa tan được và có thể dịch chuyển hoặc chuyển vào nước đến các vùng rất xa so với vị trí mà uranium được tìm thấy.

 
Điều này có nghĩa là khoáng uranium có thể xuất hiện trong đất và trầm tích từ những nguồn gốc không rõ và tại những địa điểm rất xa so với nguồn gốc của chúng.

 
Giáo sư Frost nói rằng với việc sử dụng kỹ thuật phổ cận hồng ngoại, các khoáng phóng xạ có thể được phát hiện bởi những nhà khoa học đang ở rất xa vùng bị nhiễm. Nhờ việc sử dụng máy dò quang học dạng sợi và kỹ thuật phổ cận hồng ngoại, chúng ta thấy rằng có thể phát hiện được khoáng uranium có hiện diện trong đất hay không. Phổ cận hồng ngoại có thể nhận dạng được loại của khoáng uranium hiện diện. Điều này có nghĩa là hiện nay chúng ta có thể xác định được có hay không có sự tồn tại của các trầm tích phóng xạ và sự nguy hiểm mà những trầm tích này có thể gây ra cho cả môi trường và cộng đồng.

 
Phổ cận hồng ngoại là một kỹ thuật sử dụng nguồn ánh sáng để quét bề mặt vật liệu để xác định tính chất hóa học của bề mặt đó. Trong khi tiến hành, ta có thể xác định xem các khoáng uranium có tồn tại trong đất hay không.

 
Giáo sư Frost nói rằng những đề xuất về sử dụng năng lượng hạt nhân trong việc sản xuất điện tại Úc cũng như các nước khác cho thấy rằng sẽ còn sự gia tăng khai thác uranium trong tương lai.

 

”Điều này dẫn đến phí phạm các mỏ và sự tích lũy các khoáng nguy hiểm”. Ông cho rằng điều này có liên quan đến những mối quan tâm đang gia tăng về nguy cơ vũ khí của khủng bố, còn được gọi là bom bẩn, làm nổi bật tầm quan trọng của việc sẵn sàng nhận diện được các khoáng uranium. Giáo sư Frost cho rằng khi có khả năng khoáng phóng xạ uranium rải rác trên những vùng diện tích rộng thì rõ ràng phải cần đến việc kiểm tra mở rộng trên nhiều vị trí của vùng để xác định khả năng nhiễm phóng xạ.

 

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
Re: Làm giàu Uranium
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Năm 04, 2007, 10:27:44 AM »
Uranium nguy hiểm như vậy mà sao nhiều nước thích làm giàu uranium thế không biết. Liên Hiệp Quốc phải có biện pháp mạnh mới được .
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 08, 2009, 12:04:43 AM gửi bởi Phạm Việt Hùng »
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
Re: Về những loại vũ khí mới
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Chín 22, 2007, 12:02:39 PM »
Khủng khiếp thật
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline dothoa

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 57
Vũ khí hóa học dài tập
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Mười 16, 2007, 01:46:18 PM »
theo wiki
Vũ khí hóa học là loại vũ khí sử dụng chất hóa học (thường là chất độc quân sự) gây tổn thương, nguy hại trực tiếp cho người, động vật và cây cỏ. Vũ khí hóa học là một trong những loại vũ khí hủy diệt lớn gây chết người hàng loạt. Vũ khí hóa học dựa trên đặc điểm độc tính cao và gây tác dụng nhanh của chất độc quân sự để gây tổn thất lớn cho đối phương.
Trong các cuộc chiến tranh, xung đột rất xa xưa, người ta đã biết sử dụng các loại vũ khí hóa học như tên tẩm thuốc độc do thổ dân da đỏ dùng để tiêu diệt ác thú, đánh giặc ngoại xâm. Người ta cũng sử dụng chất độc bỏ vào giếng nước ăn để tiêu diệt hàng loạt sinh lực đối phương. Trước Công Nguyên người ta người Ấn Độ đã biết dùng khói hơi ngạt để hạ đối phương.
Lịch sử
Tuy nhiên Vũ khí hóa học được sử dụng phổ biến nhất từ thế kỷ 20, đặc biệt là trong hai cuộc đại chiến thế giới, trong chiến tranh Việt Nam và một số cuộc chiến khác. Trong Đệ nhất thế chiến, cả hai phe tham chiến đều dùng Khí làm chẩy nước mắt, khí Clo, khí photgen gây ngạt chứa trong chai, trong đạn pháo, đạn cối làm cho 1.360.000 người bị nhiễm độc vì hơi ngạt trong đó có 94.000 người chết. Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã sử dụng nhiều loại vũ khí hóa học đặc biệt là chất độc da cam gây hậu quả nặng nề đến tận ngày nay.

Offline dothoa

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 57
Chất độc da cam
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Mười 16, 2007, 01:48:10 PM »
theo wiki
Chất độc da cam (CĐDC), (tiếng Anh: Agent Orange - Tác nhân da cam), là tên gọi của một loại chất thuốc diệt cỏ và làm rụng lá cây được quân đội Hoa Kỳ sử dụng tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Chất này đã được dùng trong những năm 1961-1971 và nhiều người cho rằng đã làm tổn thương sức khỏe của những người dân thường cũng như binh lính Việt Nam, lính Mỹ cũng như lính Úc, Hàn Quốc, Canada, New Zealand có mặt như quân đồng minh của Mỹ mà có tiếp xúc với chất này, cũng như con cháu họ.

Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, mục đích quân sự chính thức của CĐDC là làm rụng lá cây rừng để quân đội du kích Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam không còn nơi trốn tránh. CĐDC là một chất lỏng trong; tên của nó được lấy từ màu của những sọc được vẽ trên các thùng phi dùng để vận chuyển nó. Quân đội Hoa Kỳ còn có một số mã danh khác để chỉ đến các chất được dùng trong thời kỳ này: "chất xanh" (Agent Blue, cacodylic acid), "chất trắng" (Agent White, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D và picloram), "chất tím" (Agent Purple) và "chất hồng" (Agent Pink).

Đến năm 1971, CĐDC không còn được dùng để làm rụng lá nữa; 2,4-D vẫn còn được sử dụng để làm diệt cỏ. 2,4,5-T đã bị cấm dùng tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác.

Ảnh hưởng đến con người
Người ta đã tìm thấy CĐDC có chứa chất độc dioxin, nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư, dị dạng và nhiều rối loạn chức năng ở cả người Việt lẫn các cựu quân nhân Hoa Kỳ.

CĐDC và Chiến tranh Việt Nam
Một bản báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ vào tháng 4 năm 2003 đã kết luận rằng trong Chiến tranh Việt Nam, 3.181 làng đã bị phun với các chất diệt cỏ. Khoảng 2,1 đến 4,8 triệu người "hiện diện vào lúc phun". Thêm vào đó, nhiều quân nhân Mỹ cũng bị phun hoặc có tiếp xúc với các chất này trong các khu vực vừa phun. Bản báo cáo này đầu tiên được thực hiện bởi quân đội Hoa Kỳ để tìm hiểu bao nhiêu cựu quân nhân đã phục vụ trong các khu vực bị phun. Những nhà nghiên cứu được phép truy cập các hồ sơ quân sự và tài liệu hoạt động của không quân chưa được nghiên cứu trước đây. Ước tính này đổi số thể tích CĐDC được phun giữa 1961 và 1971 thành 7.131.907 lít, hơn số đã được phỏng đoán vào năm 1974.

Vụ kiện của các nạn nhân Việt Nam
Ngày 31 tháng 1 năm 2004, nhóm bảo vệ quyền lợi nạn nhân CĐDC, Hội Nạn nhân Chất độc da cam/dioxin Việt Nam (The Vietnam Association of Victims of Agent Orange/Dioxin - VAVA) đã kiện hơn 30 công ty Mỹ phải bồi thường do trách nhiệm gây ra thương tích vì đã sản xuất chất hóa học này. Dow Chemical và Monsanto là hai công ty sản xuất CĐDC lớn nhất cho quân đội Hoa Kỳ đã bị nêu tên trong vụ kiện cùng các công ty khác. Trước đây nhiều cựu quân nhân Hoa Kỳ đã thắng một vụ kiện tương tự.

Vào ngày 10 tháng 3 năm 2005, quan tòa địa hạt (Jack Weinstein) đã bác đơn kiện, quyết định rằng những đòi hỏi của đơn kiện không có cơ sở pháp luật. Quan tòa kết luận rằng CĐDC đã không được xem là một chất độc dưới luật quốc tế vào lúc Hoa Kỳ dùng nó; rằng Hoa Kỳ không bị cấm dùng nó để diệt cỏ; và những công ty sản xuất chất này không có trách nhiệm về cách sử dụng của chính quyền.

Chính phủ Hoa Kỳ, vốn có quyền miễn tố (sovereign immunity), không phải là một bị cáo trong đơn kiện. Tuy nhiên, vào năm 1984 cũng từ phiên tòa của vị quan tòa này, chính các công ty trên đã chi khoảng 180 triệu USD cho các gia đình người Mỹ là cựu chiến binh Việt Nam mặc dù không thừa nhận có hành động sai trái.

Ngày 7 tháng 4, 2005 các nguyên đơn Việt Nam đã tiếp tục gửi đơn kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm của Mỹ đòi lật lại quyết định của tòa sơ thẩm.

Dự kiến Tòa Phúc thẩm sẽ cho ý kiến có mở phiên xử phúc thẩm hay không vào đầu quý 2, 2006.

Offline dothoa

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 57
Các loại vũ khí hóa học, sinh học .........
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Mười 16, 2007, 01:53:32 PM »
theo wiki
Vũ khí hạt nhân (tiếng Anh: nuclear weapon) là loại vũ khí mà năng lượng của nó do các phản ứng phân hạch hoặc/và nhiệt hạch gây ra. Một vũ khí hạt nhân nhỏ nhất cũng có sức công phá lớn hơn bất kỳ vũ khí quy ước nào. Vũ khí có sức công phá tương đương với 10 triệu tấn thuốc nổ có thể phá hủy hoàn toàn một thành phố. Nếu sức công phá là 100 triệu tấn (mặc dù hiện nay chưa thể thực hiện được) thì có thể phá hủy một vùng với bán kính 100 - 160 km. Cho đến nay, mới chỉ có hai quả bom hạt nhân được dùng trong Đệ nhị thế chiến: quả bom thứ nhất được ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) vào ngày 6 tháng 8 năm 1945 có tên là Little Boy và được làm từ uranium; quả sau có tên là Fat Man và được ném xuống Nagasaki, cũng ở Nhật Bản ba ngày sau đó, được làm từ plutonium.

Hơn hai ngàn vụ nổ hạt nhân sau đó là do việc thử nghiệm hạt nhân, chủ yếu là do các quốc gia sau đây thực hiện: Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan.

Các nước hiện nay công bố có vũ khí hạt nhân là Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan. Thêm vào đó, Israel có nhiều dấu hiệu chứng tỏ sở hữu bom hạt nhân mặc dù chưa bao giờ chính thức thừa nhận. Gần đây, CHDCND Triều Tiên cũng công bố đã chế tạo được vũ khí hạt nhân. Ukraina cũng có thể sở hữu một quả bom hạt nhân cũ từ thời Liên Xô do sai lầm của thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Việc phi quân sự hóa năng lượng hạt nhân đã được đề xuất cho rất nhiều các ứng dụng dân sự.


Các loại vũ khí hạt nhân
Vũ khí hạt nhân đơn giản nhất lấy năng lượng từ quá trình phân hạch (còn gọi là phân rã hạt nhân). Một vật liệu có khả năng phân rã được lắp ráp vào một khối lượng tới hạn, trong đó khởi phát một phản ứng dây chuyền và phản ứng đó gia tăng theo tốc độ của hàm mũ, giải thoát một năng lượng khổng lồ. Quá trình này được thực hiện bằng cách bắn một mẫu vật liệu chưa tới hạn này vào một mẫu vật liệu chưa tới hạn khác để tạo ra một trạng thái gọi là siêu tới hạn. Khó khăn chủ yếu trong việc thiết kế tất cả các vũ khí hạt nhân là đảm bảo một phần chủ yếu các nhiêu liệu được dùng trước khi vũ khí tự phá hủy bản thân nó. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom nguyên tử, còn gọi là bom A.

Các loại vũ khí cao cấp hơn thì lấy năng lượng nhiều hơn từ quá trình nhiệt hạch (còn gọi là tổng hợp hạt nhân). Trong loại vũ khí này, bức xạ nhiệt từ vụ nổ phân rã hạt nhân được dùng để nung nóng và nén đầu mang tritium, deuterium, hoặc lithium, từ đó xảy ra phản ứng nhiệt hạch với năng lượng được giải thoát lớn hơn rất nhiều. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom khinh khí, còn gọi là bom hydro, bom H hay bom nhiệt hạch. Nó có thể giải thoát một năng lượng lớn hơn hàng ngàn lần so với bom nguyên tử.

Người ta còn tạo ra các vũ khí tinh vi hơn cho một số mục đích đặc biệt. Vụ nổ hạt nhân được thực hiện nhờ một luồng bức xạ neutron xung quanh vũ khí hạt nhân, sự có mặt của các vật liệu phù hợp (như đồng hoặc vàng) có thể gia tăng độ ô nhiễm phóng xạ. Người ta có thể thiết kế vũ khí hạt nhân có thể cho phép neutron thoát ra nhiều nhất; những quả bom như vậy được gọi là bom neutron. Về lý thuyết, các vũ khí phản vật chất, trong đó sử dụng các phản ứng giữa vật chất và phản vật chất, không phải là vũ khí hạt nhân nhưng nó có thể là một vũ khí với sức công phá cao hơn cả vũ khí hạt nhân.


Năng lượng của vụ nổ hạt nhân
Năng lượng này được xác định theo công thức nổi tiếng của Albert Einstein: E = mc2

    Trong đó:

        E là năng lượng có thể được giải phóng
        m là khối lượng vật chất tham gia phản ứng
        c là vận tốc ánh sáng trong chân không

Ảnh hưởng của vụ nổ hạt nhân
Năng lượng từ vụ nổ vũ khí hạt nhân thoát ra ở bốn loại sau đây:

    * Áp lực — 40-60% tổng năng lượng
    * Bức xạ nhiệt — 30-50% tổng năng lượng
    * Bức xạ ion — 5% tổng năng lượng
    * Bức xạ dư (bụi phóng xạ) — 5-10% tổng năng lượng

Lượng năng lượng giải thoát của từng loại phụ thuộc vào thiết kế của vũ khí và môi trường mà vụ nổ hạt nhân xảy ra. Bức xạ dư là năng lượng được giải thoát sau vụ nổ, trong khi các loại khác thì được giải thoát ngay lập tức.

Năng lượng được giải thoát bởi vụ nổ bom hạt nhân được đo bằng kiloton hoặc megaton - tương đương với hàng ngàn và hàng triệu tấn thuốc nổ TNT (tri-nitro-toluen). Vũ khí phân hạch đầu tiên có sức công phá đo được là vài ngàn kiloton, trong khi vụ nổ bom khinh khí lớn nhất đo được là 10 megaton. Trên thực tế vũ khí hạt nhân có thể tạo ra các sức công phá khác nhau, từ nhỏ hơn một kiloton ở các vũ khí hạt nhân cầm tay như Davy Crockett của Hoa Kỳ cho đến 54 megaton như Bom Sa hoàng (Tsar-Bomba) của Liên Xô (bom này chỉ đưa ra với mục đích chính trị chứ khó thao tác được).

Hiệu ứng quan trọng nhất của vũ khí hạt nhân là áp lực và bức xạ nhiệt có cơ chế phá hủy giống như các vũ khí quy ước. Sự khác biệt cơ bản là vũ khí hạt nhân có thể giải thoát một lượng lớn năng lượng tại một thời điểm. Tàn phá chủ yếu của bom hạt nhân không liên quan trực tiếp đến quá trình hạt nhân giải thoát năng lượng mà liên quan đến sức mạnh của vụ nổ.

Mức độ tàn phá của ba loại năng lượng đầu tiên khác nhau tùy theo kích thước của bom. Bức xạ nhiệt suy giảm theo khoảng cách chậm nhất, do đó, bom càng lớn thì hiệu ứng phá hủy do nhiệt càng mạnh. Bức xạ ion bị suy giảm nhanh chóng trong không khí, nên nó chỉ nguy hiểm đối với các vũ khí hạt nhân hạng nhẹ. Áp lực suy giảm nhanh hơn bức xạ nhiệt nhưng chậm hơn bức xạ ion.


Phóng bom hạt nhân
Thuật ngữ vũ khí hạt nhân chiến lược được dùng để chỉ các vũ khí lớn với các mục tiêu phát hủy lớn như các thành phố. Vũ khí hạt nhân chiến thuật là các vũ khí hạt nhân nhỏ hơn được dùng để phá hủy các mục tiêu quân sự, viễn thông hoặc hạ tầng cơ sở. Theo tiêu chuẩn hiện đại thì các quả bom ném xuống Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945 có thể được coi là các vũ khí hạt nhân chiến thuật (sức công phá là 13 và 22 kiloton), mặc dù, các vũ khí hạt nhân chiến thuật nhẹ hơn và nhỏ hơn đáng kể.

Các phương pháp phóng vũ khí hạt nhân là:
Bom hấp dẫn
Không một vũ khí hạt nhân nào đủ tiêu chuẩn là bom gỗ - đó là từ lóng mà quân đội Hoa Kỳ dùng để chỉ một loại bom hoàn thiện, không phải bảo hành sửa chữa, không nguy hiểm dưới mọi điều kiện trước khi cho nổ. Bom hấp dẫn là loại bom được thiết kế để được thả xuống từ các máy bay. Yêu cầu của loại bom này là phải chịu được các dao động và thay đổi về nhiệt độ và áp suất của không khí. Lúc đầu, các vũ khí thường có một cái chốt an toàn ở trạng thái đóng trong quá trình bay. Chúng phải thỏa mãn các yêu cầu về độ ổn định để tránh các vụ nổ hoặc rơi bất ngờ có thể xảy ra. Rất nhiều loại vũ khí có một thiết bị đóng ngắt để khởi động quá trình nổ. Các vũ khí hạt nhân của Mỹ thỏa mãn các tiêu chuẩn an toàn nói trên sẽ được ký hiệu bởi chữ cái "B", và tiếp theo (không có dấu nối) là các ký hiệu vật lý cần thiết. Ví dụ bom B61 là một loại bom như vậy, được Mỹ chế tạo rất nhiều và lưu trữ trong các kho chứa đạn dược trong nhiều thập kỷ.

Có nhiều kỹ thuật ném bom như thả bom tự do trong không khí, thả bom bằng dù với cơ chế cho nổ chậm để máy bay ném bom có thời gian thoát khỏi vùng nguy hiểm khi bom nổ.

Những quả bom hấp dẫn đầu tiên chỉ có thể được mang bằng pháo đài bay B-29. Thế hệ bom tiếp theo vẫn rất lớn và nặng, chỉ có các pháo đài bay B-52, máy bay ném bom lớn V mới có thể mang được. Nhưng vào giữa những năm 1950, người ta có thể chế tạo được các vũ khí nhỏ, nhẹ hơn và có thể được mang bằng các máy bay chiến đấu kiêm ném bom bình thường.

Tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hạt nhân
Các tên lửa đạn đạo là các tên lửa có chất nổ, được máy tính hoặc người điều khiẻn, sau khi phóng thì chúng chỉ chịu ảnh hưởng của lực hấp dẫn và lực cản của không khí gây ra. Tên lửa đạn đạo dùng để mang các đầu đạn với tầm xa từ mười cho đến vài trăm km. Các tên lửa đạn đạo liên lục địa hoặc các tên lửa đạn đạo vượt đại châu được phóng từ các tàu ngầm có thể theo các lộ trình dưới quỹ đạo hoặc quỹ đạo với tầm xa xuyên lục địa. Các tên lửa đầu tiên chỉ có thể mang một đầu đạn, thường với sức công phá khoảng megaton. Các tên lửa như vậy yêu cầu phải có khả năng hoạt động với tính chính xác rất cao để đảm bảo phá hủy mục tiêu.

Từ những năm 1970, các tên lửa đạn đạo hiện đại được phát triển với khả năng nhắm tới mục tiêu với độ chính xác cao hơn nhiều. Điều này làm cho một tên lửa, trong một lần phóng, có thể mang đến hơn một chục đầu đạn và nhắm tới các mục tiêu độc lập với nhau. Mỗi đầu đạn có thể có sức công phá vài kiloton. Đây là một điểm mạnh quan trọng của tên lửa đạn đạo có nhiều đầu đạn. Nó không chỉ cho phép phá hủy các mục tiêu khác nhau, độc lập với nhau mà còn có thể cùng công phá một mục tiêu theo kiểu bủa vây hoặc có thể tác chiến với các vũ khí chiến thuật khác để vô hiệu hóa tất cả các hệ thống phòng thủ của đối phương. Vào những năm 1970, Liên Xô công bố kế hoạch nhằm chế tạo ra các tên lửa đạn đạo nhiều đầu đạn. Số tên lửa như vậy đủ lớn để cứ mỗi 19 giây đến 3 phút thì phóng một tên lửa tới các thành phố lớn của nước Mỹ, và việc đó có thể được thực hiện liên tục trong một giờ đồng hồ.

Tên lửa mang đầu đạn ở trong các kho lưu trữ đạn được của Hoa Kỳ được ký hiệu bằng chữ "W" ở đầu, ví dụ W61 có các tính chất như B61 nói ở trên nhưng có các yêu cầu về môi trường khác hẳn.

Tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân
Tên lửa hành trình có thể mang đầu đạn hạt nhân, bay ở độ cao rất thấp, khoảng cách ngắn và được dẫn đường bởi các hệ thống điều khiển bên trong hoặc bên ngoài (như hệ thống định vị toàn cầu - GPS) làm cho chúng khó có thể bị đối phương phát hiện và ngăn chặn. Tên lửa hành trình mang được trọng lượng nhỏ hơn tên lửa đạn đạo rất nhiều nên sức công phá của đầu đạn mà nó mang thường là nhỏ. Tên lửa hành trình không thể mang nhiều đầu đạn nên không thể công phá nhiều mục tiêu. Mỗi tên lửa như vậy chỉ mang một đầu đạn mà thôi. Tuy nhiên, do gọn nhẹ nên tên lửa hành trình quy ước có thể được phóng đi từ các bệ phóng di động trên mặt đất, từ các chiến hạm hoặc từ các máy bay chiến đấu. Tên của các đầu đạn dành cho tên lửa hành trình của Mỹ không khác biệt với tên của các đầu đạn dành cho tên lửa đạn đạo.
Các phương pháp khác
Các phương pháp mang đầu đạn hạt nhân khác gồm súng cối, mìn, bom phá tàu ngầm, ngư lôi,... Vào những năm 1950, Hoa Kỳ còn phát triển một loại đầu đạt hạt nhân với mục đích phòng không có tên là Nike Hercules. Sau đó, nó được phát triển thành loại tên lửa chống tên lửa đạn đạo với đầu đạn lớn hơn. Phần lớn các vũ khí hạt nhân phòng không đều không được dùng vào cuối những năm 1960, các bom phá tàu ngầm không được dùng vào năm 1990. Tuy vậy, Liên Xô (và sau đó là Nga) vẫn tiếp tục duy trì tên lửa chống tên lửa đạn đạo với đầu đạn hạt nhân. Một loại vũ khí chiến thuật nhỏ, nhẹ, hai người mang (thường hay bị gọi nhầm là bom xách tay) cũng khá phổ biến mặc dù nó không chính xác và không tiện lợi lắm.

Lịch sử vũ khí hạt nhân
Những vũ khí hạt nhân đầu tiên được Hoa Kỳ chế tạo cùng với sự giúp đỡ của Anh Quốc trong Đệ nhị thế chiến, đó là một phần của dự án Manhattan tối mật. Lúc đầu, việc chế tạo vũ khí hạt nhân là sự lo sợ Đức Quốc xã có thể chế tạo và sử dụng trước quân đội đồng minh. Nhưng cuối cùng thì hai thành phố của Nhật Bản là Hiroshima và Nagasaki lại là nơi chịu sức tàn phá của những quả bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1945. Liên Xô chế tạo và thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên vào năm 1949. Cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều phát triển vũ khí hạt nhân nhiệt hạch vào những năm giữa của thập niên 1950. Việc phát minh ra các tên lửa hoạt động ổn định vào những năm 1960 đã làm cho khả năng mang các vũ khí hạt nhân đến bất kỳ nơi nào trên thế giới trong một thời gian ngắn trở thành hiện thực. Hai siêu cường của chiến tranh Lạnh đã chấp nhận một chiến dịch nhằm hạn chế việc chạy đua vũ khí hạt nhân nhằm duy trì một nền hòa bình mong manh lúc đó.

Vũ khí hạt nhân từng là biểu tượng cho sức mạnh quân sự và sức mạnh quốc gia. Việc thử nghiệm hạt nhân thường để kiểm tra các thiết kế mới cũng như là gửi các thông điệp chính trị. Một số quốc gia khác cũng phát triển vũ khí hạt nhân trong thời gian này, đó là Anh Quốc, Pháp, Trung Quốc. Năm thành viên của "câu lạc bộ các nước có vũ khí hạt nhân" đồng ý một thỏa hiệp hạn chế việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở các quốc gia khác mặc dù có ít nhất hai nước (Ấn Độ, Nam Phi) đã chế tạo thành công và một nước (Israel) có thể đã phát triển vũ khí hạt nhân vào thời điểm đó. Vào đầu những năm 1990, nước kế thừa Liên Xô trước đây là nước Nga cùng với Hoa Kỳ cam kết giảm số đầu đạn hạt nhân dự trữ để gia tăng sự ổn định quốc tế. Mặc dù vậy, việc phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn tiếp tục. Pakistan thử nghiệm vũ khí đầu tiên của họ vào năm 1998, CHDCND Triều Tiên công bố đã phát triển vũ khí hạt nhân vào năm 2004. Vũ khí hạt nhân là một trong những vấn đề trọng tâm của các căng thẳng về chính trị quốc tế và vẫn đóng vai trò quan trọng trong các vấn đề xã hội từ khi nó được khởi đầu từ những năm 1940. Vũ khí hạt nhân thường được coi là biểu tượng phi thường của con người trong việc sử dụng sức mạnh của tự nhiên để hủy diệt con người.
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 16, 2007, 01:56:13 PM gửi bởi dothoa »

Offline dothoa

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 57
Phát hiện nhà máy vũ khí hoá học lớn nhất thế giới
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Mười 16, 2007, 01:57:22 PM »
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc vừa tìm thấy dấu tích của một nhà máy sản xuất vũ khí hoá học lớn nhất thế giới mà quân Nhật từng sử dụng trong thời Thế chiến II.

Với diện tích 100 km2, toàn bộ nhà máy nằm trên vùng thảo nguyên Bayanhan ở khu Nội Mông phía Bắc Trung Quốc.

"Đây có lẽ là nhà máy thử nghiệm khí gas lớn nhất và được bảo tồn tốt nhất thế giới". Xu Zhanjiang, nhà nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội thành phố Harbin, đông bắc tỉnh Hắc Long Giang, nhận định.

Theo China Daily, quân đội Nhật Bản đã sử dụng nhà máy từ đầu thập niên 40 như một phần trong kế hoạch trù bị tấn công Liên Xô. Tờ này cũng trích lời một ông lão 80 tuổi người địa phương cho biết người Nhật từng thử nghiệm bom khí gas trên người sống ngay giữa thảo nguyên.
"Nhiều người đã ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng trên thảo nguyên, và sau đấy, họ như bị phát cuồng lên. Cả gia súc cũng thế", ông kể lại.

Nhà máy này đã được phát hiện trong chương trình làm phim tài liệu về tội ác chiến tranh của lính Nhật tại khu vực Đông Bắc Trung Quốc. Người ta đã không thể phát hiện ra sự tồn tại của nó trong suốt 60 năm qua vì nhà máy nằm ngay giữa vùng thảo nguyên rộng lớn không có người ở, tại một khu vực có diện tích gần gấp đôi ... Thổ Nhĩ Kỳ.

Theo Châu Anh

Tiền phong/AFP, ChinaDaily

Offline dothoa

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 57
Vũ khí sinh học, phòng chống khủng bố sinh học
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Mười 21, 2007, 08:37:43 PM »
Vũ khí sinh học, phòng chống khủng bố sinh học

Lê Thế Trung*
Hiện nay đã có trên 50 loại vi khuẩn, virus, độc tố có nguồn gốc sinh vật được nghiên cứu và liệt kê trong danh mục vũ khí sinh học dùng để tấn công khủng bố sinh học và chiến tranh sinh học. Công tác phòng chống khủng bố sinh học, vũ khí sinh học, thảm họa sinh học là công tác của toàn xã hội, toàn cộng đồng. Từng cá nhân, từng tập thể đều có trách nhiệm tự bảo vệ, phòng chống, giảm nhẹ thiệt hại, ứng phó kịp thời, không để lây lan, cứu chữa sớm và có hiệu quả người mắc.
I. Vũ khí sinh học

Các loại vũ khí sử dụng trong chiến tranh bao gồm: vũ khí nổ - cháy, hóa học, sinh học và phóng xạ. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã sử dụng vũ khí hóa học, chiến tranh thế giới thứ II đã sử dụng vũ khí nguyên tử. Vũ khí sinh học (bệnh dịch hạch) cũng đã có trong Ðại chiến II và sau đó được sử dụng thăm dò trong chiến tranh Triều Tiên nhưng chưa đạt hiệu quả. Trong những thập kỷ qua, môn sinh học phân tử phát triển tạo ra các chủng vi sinh vật đột biến bằng cách can thiệp vào gen di truyền tạo ra các chủng mới kháng thuốc kháng sinh, chống lại kháng thể do vaccin tiêm phòng và có độc lực cao. Thông qua công nghệ di truyền (genetic engineering) đã thay đổi cấu trúc gen để tạo ra các vi sinh vật (vốn không gây bệnh) có khả năng gây bệnh mới, hoặc các vi sinh vật gây bệnh có khả năng kháng thuốc mạnh, có độc lực cao. Hiện nay cũng đã thử nghiệm cấy một số độc tố vào gen của một số trực khuẩn gây viêm cơ hoại thư để tăng khả năng sát thương, gây các thể bệnh nguy kịch. Những vi sinh vật này đã trở thành các vũ khí mới được gọi là vũ khí gen, vũ khí di truyền, vũ khí ADN...

Các nhà nghiên cứu vũ khí đã có một đánh giá về kinh tế như sau: để tạo ra hiệu quả sát thương cho dân cư một khu vực có diện tích là 1km2 thì nếu dùng vũ khí thông thường (conventional weapons) phải tốn 2.000 đô la Mỹ, nếu dùng vũ khí hạt nhân (nuclear weapons) phải tốn 800 đô la, nếu dùng vũ khí hóa học dạng khí độc thần kinh (nerve-gas weapons) phải tốn 600 đô la, còn nếu dùng vũ khí sinh học (biological weapons) thì chỉ tốn 1 đô la.

Trên thế giới, một số nước đã triển khai nghiên cứu các vũ khí sinh học và cách phòng chống trong nhiều năm dựa trên kết quả nghiên cứu của các viện nghiên cứu sản phẩm sinh học, vi sinh vật, độc học, bệnh lây tối nguy hiểm, động vật học, thực vật học, di truyền học...

Các binh sĩ Hoa Kỳ đều được huấn luyện về phòng chống vũ khí hạt nhân, sinh học, hóa học (vũ khí N, B, C), từng binh sĩ được phát một tờ hướng dẫn phòng vệ bản thân trước cuộc tấn công hạt nhân, hóa học, sinh học. Quân đội Hoa Kỳ đã nghiên cứu các chất liệu dùng trong chiến tranh sinh học, cách phòng vệ trong chiến tranh sinh học, phòng chống các chất hóa học và phòng vệ chiến tranh hạt nhân.

Riêng về vũ khí sinh học, đứng trên quan điểm quân sự phải đạt các yêu cầu sau đây:

1. Là sinh vật phẩm dùng trong hoàn cảnh chiến tranh và điều kiện chiến thuật, phải có khả năng gây sát thương (bằng cách gây bệnh, gây các tổn thương, gây nhiễm độc) làm thiệt hại sinh lực đối phương, làm tổn thất cả con người, động vật chăn nuôi, cây, hoa màu, làm hư hại cơ sở vật chất kỹ thuật của nước đối địch.

2. Các sinh vật phẩm được dùng trong chiến tranh sinh học phải có: hiệu quả sát thương cao, thời gian ủ bệnh ngắn, việc sản xuất, bảo quản, vận chuyển được thuận lợi, có khả năng sản xuất một số lượng lớn, giá thành không quá tốn kém.

3. Cách sử dụng các sinh vật phẩm chiến tranh sinh học rất đa dạng: dạng bột, dạng lỏng, dạng bụi dịch lông phun (aerosol)...

Trong 3 dạng xâm nhập nhiễm bệnh, nhiễm độc (qua da, qua đường hô hấp, qua đường tiêu hóa) thì có hiệu quả nhất và xâm nhập nhanh nhất là đường thở vì liều lượng vi khuẩn hoặc độc tố gây bệnh, gây độc thường ít hơn so với khi bị nhiễm khuẩn một cách tự nhiên. Do đó, dùng dưới dạng khí dung (aerosol) các phần tử gây bệnh, gây độc có kích thước từ 2 đến 4 micron. Gây nhiễm bệnh qua thực phẩm, nước uống... nếu rửa sạch, nấu chín, lọc nước và khử trùng nước bằng cloramin thì hiệu quả gây bệnh sẽ không còn hoặc bị hạn chế nhiều. Qua đường da: một số nha bào và vi khuẩn hoặc độc tố (như T2 mycotoxin...) xâm nhập qua cả da lành (qua đường các ống lông, ống tuyến mồ hôi, tuyến bã).

4. Các vi sinh vật được lựa chọn làm vũ khí sinh học là:

- Các vi khuẩn (bacteria): dùng các loại gây bệnh nguy hiểm, tối nguy hiểm - các loại vi khuẩn đơn bào tồn tại tự do trong thiên nhiên dưới dạng bào tử.

- Các virus gây bệnh: loại này phải sống nhờ vào các tế bào sống để sinh sản qua sao chép di truyền.

- Các rickettsia: loại vi sinh vật có các đặc điểm của vi khuẩn và virus.

- Các chlamydia: vi sinh vật ký sinh bắt buộc trong các tế bào.

- Các nấm: là các thực vật nguyên thủy.

- Các độc tố (toxin): các chất độc do vi sinh vật tiết ra; các chất độc tách chiết từ các cơ thể sống.

Ðể sản xuất một vũ khí sinh học cần có những yêu cầu kỹ thuật sau đây:

1. Nghiên cứu số lượng vi khuẩn, độc tố cần thiết để gây được bệnh cho một cá thể, hoặc một tập thể nhất định.

2. Ðịnh được độc lực gây hại hoặc độc lực để gây được thể nguy kịch, nặng của bệnh hoặc nhiễm độc.

3. Xác định rõ được khả năng sinh bệnh của vật phẩm sinh học.

4. Xác định thời gian ủ bệnh từ khi nhiễm vật phẩm sinh học đến khi phát sinh các triệu chứng đầu tiên.

5. Xác định khả năng lây nhiễm từ người bị sang người khác.

6. Ước định tỷ lệ người bị tử vong khi mắc bệnh hoặc nhiễm độc (tử vong nói chung, tử vong theo thể loại bệnh nhiễm độc).

7. Tính bền vững tồn tại trong môi trường thiên nhiên của chủng bệnh hoặc chất độc sinh học.

Các sản phẩm sinh học được phân loại: bền và không bền, dễ bốc hơi hay không bốc hơi.

8. Không quá khó khăn trong sản xuất bảo quản, vận chuyển và phân phối.

Ðể sử dụng cũng cần có những yêu cầu sau đây:

1. Ðiều tra nắm rõ đối tượng: khả năng miễn dịch của các cá thể (đã được tiêm chủng loại gì, thời gian sau tiêm chủng).

2. Nắm chắc tình hình môi sinh khu vực sẽ được sử dụng: thời tiết, khí hậu, thủy văn, nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, hướng gió...

3. Công tác phòng chống của cộng đồng và cá nhân: ý thức cảnh giác, sự hiểu biết, công tác giám sát dịch bệnh và nhiễm độc thực phẩm, công tác vệ sinh phòng bệnh, công tác an ninh và trật tự xã hội.

4. Khả năng cứu chữa của đối phương: cứu chữa tại chỗ, cứu chữa khẩn cấp, cứu chữa chuyên khoa (tổ chức, cán bộ, trang bị, thuốc chuyên trị...).


Offline dothoa

  • Yêu... Hóa học
  • ***
  • Bài viết: 57
Re: Vũ khí sinh học, phòng chống khủng bố sinh học
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười 21, 2007, 08:38:00 PM »
Vũ khí khủng bố sinh học - tấn công khủng bố sinh học

Mục đích của tấn công khủng bố sinh học là giết hại, gây tổn thất cho người, gia súc, hoa mầu cây quả... gây hoang mang trong xã hội, phá hoại cơ sở hạ tầng và môi sinh. Do đó, bọn khủng bố đã lựa chọn một số tác nhân vi sinh vật gây bệnh như Bacillus anthracis (trực khuẩn bệnh than), Yersinia pestis coccobacillus (Trực cầu khuẩn dịch hạch), Orthopoxvirus (virus đậu mùa), Staphylococcal enterotoxin B (tụ cầu có độc tố ruột B) và các vi khuẩn, virus gây bệnh nguy hiểm khác: virus Ebola, virus Marburg, virus viêm não, virus sốt xuất huyết, trực cầu khuẩn Francisella tularensis, bệnh sốt Q, trực khuẩn tả, thương hàn và một số độc tố có nguồn gốc sinh vật như botulinum (ngoại độc tố của trực khuẩn Clostridium botulinum), bufotoxin (độc tố lấy từ tuyến da cóc), saxitoxin (độc tố lấy từ 1 loại hến Sasidomus), batrachotoxin (độc tố lấy từ da ếch Phyllobates bicolore), tetrodotoxin (độc tố lấy từ gan và trứng của cá độc Tetraodontidae), ricin (chiết xuất từ hạt cây Ricinus communis)...

Theo nhà sinh học Kanatfan Alibelov, cựu lãnh đạo chương trình vũ khí sinh học của Liên Xô cũ từ 1988 đến 1992, sau đó sang Hoa Kỳ đổi tên là Ken Alibek hiện làm việc ở Viện Nghiên cứu vũ khí sinh học tại thủ đô Washington từ năm 1993 đến nay, thì tùy mục đích khủng bố mà chọn các dạng sản phẩm sinh học thích hợp:

- Nếu dùng để giết hại sẽ sử dụng các vi khuẩn gây bệnh tối nguy hiểm, tử vong cao hoặc các chất độc sinh phẩm, các độc tố gây nhiễm độc nặng và tử vong.

- Nếu dùng để gây hoang mang, để gieo rắc tâm trạng sợ hãi, bất ổn định trong xã hội thì dùng nhiều loại vi sinh vật gây bệnh cảnh khác nhau, dễ lây truyền trong cộng đồng, đường lây nhiễm khác nhau.

- Nếu dùng để gây tổn thất về kinh tế, dùng các vi sinh vật gây hại cho gia súc, gia cầm thành các ổ dịch lớn, dùng côn trùng, sâu bệnh phá hoại mùa màng, hoa màu, cây ăn quả, dùng các mầm bệnh phá hoại chăn nuôi thủy sản.

- Nếu dùng để phá hoại cơ sở hạ tầng thì sử dụng các vi sinh vật, mầm bệnh có khả năng phát tán nhanh trong hệ thống đường xá, toa xe, máy bay, tầu thuyền, bến cảng, khu đông dân cư, bưu phẩm.

- Hiện nay đã có trên 50 loại vi khuẩn, virus độc tố có nguồn gốc sinh vật được nghiên cứu và liệt kê trong danh mục vũ khí sinh học dùng để tấn công khủng bố sinh học và chiến tranh sinh học. Ðây cũng là một hình thái thảm họa do con người gây ra vì các vũ khí sinh học này là những chủng bệnh, các độc tố có độc lực mạnh gây bệnh nguy kịch với tỷ lệ tử vong cao, với khả năng lây nhiễm qua nhiều đường (da, vết thương, hô hấp, tiêu hóa...), có khả năng phát tán rộng và xa (chứa trong thư, bưu phẩm gửi qua nhiều quốc gia), dùng dưới nhiều dạng: bột, dịch, dạng phun, dùng sinh vật mang bệnh, sinh vật truyền bệnh, dùng dạng vũ khí (bom, đạn rocket, tên lửa chứa các mầm bệnh, độc tố...). Nhân loại tiến bộ lên án vũ khí hóa học, hạt nhân, sinh học vì tính năng hủy diệt con người, vũ khí sinh học đã thành một mối nguy cơ thảm họa cho sức khỏe cộng đồng do đó chúng ta cần cảnh giác và cần biết cách phòng chống loại vũ khí này, biết cách đáp ứng và xử trí không để các cuộc tấn công sinh học trở thành một thảm họa sinh học, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, đến cuộc sống của chúng ta, đến trạng thái ổn định đi lên của nước ta trong tình hình diễn biến phức tạp của thế giới hiện nay.

II. Vụ tấn công khủng bố sinh học tại Hoa Kỳ hiện nay

Bệnh than (Anthrax) và trực khuẩn bệnh than (Bacillus anthracis) đã trở thành vũ khí tấn công khủng bố sinh học trong cuối tháng 9 và tháng 10 vừa qua ở Hoa Kỳ, khởi đầu phát bệnh ở bang Florida, tiếp đó cả ở thủ đô Washington và bang New York, hiện nay đang có xu hướng xuất hiện rộng hơn ở một số bang khác.

Tại sao những kẻ khủng bố lại chọn trực khuẩn than? Trực khuẩn than là loại trực khuẩn Gram (+) tồn tại trong thiên nhiên dưới dạng nha bào nên bền vững, vi khuẩn sinh trưởng ở nhiệt độ 37oC trong các môi trường nuôi cấy thông dụng, là loại vi khuẩn gây bệnh nhiệt thán ở gia súc ăn cỏ như trâu, bò, dê, cừu... nên người mắc bệnh này thường làm nghề chăn nuôi, thú ý, công nghệ da, hoặc những người ăn thịt động vật bị nhiễm bệnh than. Bệnh than lây nhiễm qua đường da, đường tiêu hóa, đường thở (các nha bào trực khuẩn bay trong bụi, không khí). Ðộng vật bị nhiễm bệnh than biểu hiện bằng tổn thương ở da; vết viêm mủ trên nền phù nề rộng có phủ lớp hoại tử màu đen như than, thường thấy ở chân của động vật. Thường gặp thể bệnh than kết hợp với nhiễm các loại vi khuẩn khác như Clostridium chauvoei và có thể cả Clostridium septicum (cũng là các loại vi khuẩn kị khí tồn tại dưới dạng nha bào gây phù lớn dưới da, nề khí và nổi nhiều u cục).

Trực khuẩn than gây bệnh bằng ngoại độc tố (có 3 thành phần) gây hoại tử mô và phù nề. Phần bao của trực khuẩn bệnh than gây ức chế nặng các tế bào thực bào của cơ thể.

Trực khuẩn bệnh than dưới dạng bào tử kích thước nhỏ dưới 5(m, với số lượng 8.000 đến 20.000 bào tử khi hít thở, chúng có khả năng vào tới các phế nang tận cùng của phổi, cư trú ở các phế bào và qua hệ bạch huyết di chuyển tới các hạch bạch huyết trung thất. Tại đó trực khuẩn than sinh trưởng, theo đường máu gây nhiễm khuẩn huyết và nhiễm khuẩn nhiều nơi trong cơ thể.

Cho đến nay đã có một biên tập viên ảnh tờ báo The Sun ở Florida và hai nhân viên bưu điện tại bưu cục Brentwood (thủ đô Washington) chết vì bệnh than do khủng bố. Hội chứng bệnh lý của những người mắc bệnh là nặng vì nhiễm khuẩn bệnh than do hít thở với thời gian ủ bệnh từ 1 đến 5 ngày với các triệu chứng sốt cao, tím tái, ra nhiều mồ hôi, khó thở, hạch trung thất sưng to, nhiễm khuẩn huyết, phế viêm, viêm màng não do đó dẫn tới tử vong ở những trường hợp quá nặng, mặc dù được cứu chữa tích cực. Hiện còn 3 người nữa cũng mắc bệnh than qua đường hô hấp, diễn biến bệnh đang nặng.

Cũng đã có 6 người mắc thể bệnh than qua da có thời gian ủ bệnh từ 1 đến 10 ngày sau đó xuất hiện tổn thương ở da (sưng đỏ, mụn nước, hoại tử mầu đen). Nếu điều trị sớm và tốt thì khỏi, để lại sẹo da. Nếu sức đề kháng cơ thể kém (vì ngoại độc tố của trực khuẩn than gây hoại tử mô, phù và ức chế các tế bào thực bào của cơ thể) và điều trị không đúng sẽ bị nhiễm khuẩn huyết và nhiễm độc toàn thân, tỷ lệ tử vong trong loại bệnh than qua da này là 5%. Nguy hiểm là dạng bệnh than do hít thở như đã nêu ở phần trên với tỷ lệ tử vong tới 90% số trường hợp. Nhiễm bệnh than qua đường dạ dày ruột, thời gian ủ bệnh từ 2 đến 5 ngày, có biểu hiện đi ngoài ra máu, nôn ra máu, đau bụng, nôn mửa, chán ăn, sốt, trường hợp nặng bị sốc nhiễm độc, hạch mạc treo tràng sưng to, tổn thương niêm mạc phần hồi tràng và manh tràng, tỷ lệ tử vong từ 25% đến 75% số trường hợp (trung bình là 50%).

Theo các tài liệu về y học thảm họa được công bố trong số các tác nhân sinh học gây bệnh qua đường hô hấp được làm vũ khí sinh học, thì trực khuẩn bệnh than được nêu lên hàng đầu. Do các đặc điểm tồn sinh lâu dài dưới dạng bào tử, sinh trưởng ở nhiệt độ 37oC và nhiễm bệnh qua 3 đường (da, thở, ăn uống) gây bệnh với tỷ lệ cao nếu nhiễm bệnh than qua đường hít thở nên trực khuẩn bệnh than đã được dùng làm vũ khí khủng bố có hiệu quả.

Các địa điểm bị tấn công là Văn phòng Quốc hội (Thượng viện, Hạ viện, một số nghị sĩ), bưu điện (các bưu cục, nhân viên bưu điện), tòa soạn một số báo và một số hãng truyền hình, trung tâm vũ trụ Kennedy và một số cơ sở khác...

Các nhà chức trách an ninh tình báo Hoa Kỳ đang tiếp tục truy tìm thủ phạm gieo rắc bệnh than nhưng cũng chưa xác định được. Cục điều tra Liên bang (FBI) và Cục tình báo Trung ương (CIA) cho rằng chính những kẻ khủng bố trong nước reo rắc trực khuẩn bệnh than qua các lá thư chứa chất bột màu trắng có bào tử trực khuẩn bệnh than. Các nhà khoa học Hoa Kỳ cũng xác nhận vi khuẩn bệnh than tìm thấy ở 2 bang New York, Florida và thủ đô Washington đều có nguồn gốc chung, đều là các bào tử dạng mịn dễ di chuyển trong không khí, là các bào tử tự nhiên chứ không phải sản phẩm tạo ra bởi công nghệ sinh học và là loại vi khuẩn có ở ngay Hoa Kỳ.

Ngày 28/10/2001 cũng đã phát hiện và xác minh thêm một trường hợp mắc bệnh than ở một nữ nhân viên bưu điện Hamilton bang New Jersey, nâng số nhiễm bệnh than lên 15 và 34 mẫu máu dương tính bệnh than ở 1100 nhân viên bưu điện được kiểm tra sức khỏe và xét nghiệm bệnh than.

Ðể ghi nhớ về độc lực của trực khuẩn bệnh than cần nêu: năm 1979 tại Liên Xô cũ đã có một thảm họa sinh học từ một sơ xuất trong quản lý chủng trực khuẩn than, đã có trên 100 người nhiễm bệnh than trong đó tử vong 66 nạn nhân.
III. Cảnh giác phòng chống khủng bố sinh học, thảm hoạ sinh học

Công tác phòng chống khủng bố sinh học, vũ khí sinh học, thảm họa sinh học là công tác của toàn xã hội, toàn cộng đồng. Từng cá nhân, từng tập thể đều có trách nhiệm tự bảo vệ, phòng chống, giảm nhẹ thiệt hại, ứng phó kịp thời, bao vây cô lập cách ly ổ bệnh, mầm độc, thanh khử trùng, tẩy độc làm sạch môi sinh, không để lây lan, cứu chữa sớm và có hiệu quả người mắc.
Các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm điều tra phân lập xác định mầm bệnh, loại độc tố và tiến hành các biện pháp hữu hiệu để giải quyết hậu quả của vũ khí sinh học.