Loading

Like H2VN trên Facebook
nha thuoc truc tuyen

Tác giả Chủ đề: Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.  (Đọc 34591 lần)

0 Thành viên và 7 Khách đang xem chủ đề.

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Năm 11, 2008, 07:42:53 PM »
6. Hiệu ứng hoá sinh của cacbon monoxit CO:
    Khí quyển toàn cầu chứa vào khoảng 530 triệu tấn CO, với thời gian lưu trung bình từ 36 – 110 ngày.
   CO tấn công hemoglobin và thế chỗ O2 tạo ra cacboxi hemoglobin. Phản ứng này có hằng số cân bằng vào khoảng 210:
    HbO2 + CO <--> COHb + O2
Cacboxi hemoglobin là chất bền do vậy CO làm giảm khả năng tải O2 của máu.
   Tác dụng ban đầu của nhiễm độc CO là sự mất khả năng xét đoán, điều này là nguyên nhân gây ra nhiều tai nạn ôtô. Cùng với sự tăng hàm lượng CO thì những rối loạn về quá trình trao đổi chất khác nhau sẽ dẫn đến hậu quả chết người.
   Nhiễm độc CO có thể được điều trị bằng cách đưa người bị nhiễm độc thở O2 trong sạch, do đó phản ứng ngược sẽ xẩy ra. Cảnh sát giao thong làm việc ở những điểm nút giao thong trong những giờ cao điểm đã được khuyên sử dụng bình oxi ở những nước phát triển.
  Hậu quả nhiễm độc CO ở các nồng độ khác nhau:
+ Nồng độ CO là 10 ppm có 2% HbO2 --> COHb: Làm giảm khả năng phán đoán và giác quan.
+ Nồng độ CO là 100 ppm có 15% HbO2 --> COHb: Đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi.
+ Nồng độ CO là 250 ppm có 32% HbO2 --> COHb: Bất tỉnh.
+ Nồng độ CO là 750 ppm có 60% HbO2 --> COHb: Chết sau vài giờ.
+ Nồng độ CO là 1000 ppm có 66% HbO2 --> COHb: Chết rất nhanh.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Cộng đồng Hóa học H2VN

Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #15 vào lúc: Tháng Năm 11, 2008, 07:42:53 PM »

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #16 vào lúc: Tháng Năm 11, 2008, 07:44:23 PM »
7. Hiệu ứng hoá sinh của các oxit nitơ:
   NO ít độc hơn so với NO2. Cũng giống như CO, NO tạo liên kết với hemoglobin làm giảm hiệu suất vận chuyển O2. Trong khí quyển bị nhiễm NO với hàm lượng thấp hơn nhiều CO, vì vậy tác động đến hemoglobin là rất nhỏ. NO2 rất độc đối với sức khoẻ con người. Hậu quả bị nhiễm độc NO2:
+ Nồng độ NO2 là 50 – 100 ppm dưới 1h gây viêm phổi trong 6 – 8 tuần.
+ Nồng độ NO2 từ 150 – 200 ppm dứơi 1h sẽ gây phá huỷ dây khí quản, chết nếu thời gian nhiễm độc 3 – 5 tuần.
+ Nồng độ NO2 là 500 hay lớn hơn trong 2 – 10 ngày thì sẽ chết.
   Việc hít phải NO2 chứa trong các khí khi đốt xenlulozo và phim nitro xenlulozo dẫn tới cái chết. Hai người đã chết và 5 người bị thương khi hít phải NO2 rò rỉ khi phóng tên lửa vượt đại dương Titan II ở Rock, Kansas vào 24/8/1978. NO2 lỏng được dung trong tên lửa như là chất oxi hoá N2H2.
   Cơ chế hoá sinh giải thích tính độc của NO2 vẫn chưa được làm rõ, có thể một số hệ enzim của tế bào phá huỷ bởi NO2, bao gồm sự đehidro hoá lactic và enzim xúc tác. Có thể dung chất chống độc là chất chống oxi hoá như vitamin E
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #17 vào lúc: Tháng Năm 11, 2008, 07:45:54 PM »
8. Hiệu ứng hoá sinh của khi sunfuro SO2:
    Tác động chủ yếu của SO2 là vào cơ quan hô hấp gây nên sự kích thích và làm tăng trở kháng của luồng không khí. Hầu hết mọi người bị kích thích ở nồng độ SO2 là 5 ppm hay cao hơn. Một số người nhạy cảm thậm chí còn bị kích thích ở nồng độ 1 – 2 ppm SO2 và đôi khi xẩy ra sự co thắt thanh quản khi bị nhiễm độc SO2 ở nồng độ 5 – 10 ppm . Những triệu chứng của việc nhiễm độc SO2 là co thắt thanh quản kèm theo sự tăng tương ứng độ cảm với không khí để thở.
   Thảm hoạ lớn nhất do SO2 xẩy ra khi nó được kèm theo với khói. Hiện tượng này được xẩy ra khi có sương mù dầy đặc. Tại Luân Đôn (5 – 9/12/1952) các khói sương mù dầy đặc tồn tại trong 5 ngày lien tục và gây ra 4000 lượt người tử vong, cao hơn so với mức bình thường. Nồng độ cực đại của SO2 là 1,3 ppm và khói là 4 mg/m3. Những nguyên nhân gây ra tử vong là đau dây thanh quản, viêm phổi và lien quan đến các bệnh đường hô hấp. Sương mù tương tự lại được lặp lại vào tháng 12/1962 và có 700 người chết. Tỷ lệ tử vong ít là do dạng khói ít  vì công ước quốc tế về bảo vệ khí quyển năm 1962 đã được thi hành.
   SO2 được các giới chức trách phụ trách sức khoẻ xem như là chất ô nhiễm không khí đáng kể nhất, mặc dù trên thực tế nồng độ 20 ppm nó không gây độc hại, nồng độ chết người chỉ từ 500 ppm trở lên. Nguyên nhân là do SO2 tác động đến người cao tuổi, dặc biệt là bệnh nhân đường hô hấp.
   Đối với thực vật SO2 ở nồng độ cao gây ra sự phá huỷ các mô lá và vùng nằm giữa các gân lá. Khi độ ẩm tăng, tác hại đối với thực vật tăng , tác hại này trở nên cực đại khi lỗ nhỏ trên lá biểu bì bề mặt dung cho sự trao đổi tương hỗ khí với khí quyển được nở ra trong thời gian ban ngày. Ảnh hưởng của khí quyển chứa SO2 ở nồng độ thấp nhưng lâu dài nguy hiểm đối với cây trồng hơn là ở nồng độ cao và thời gian ngắn. SO2 gây ra mưa axit, có tác hại đến thực vật, trừ những loại cây sống dưới nước ở sông ngòi, ao hồ.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #18 vào lúc: Tháng Năm 11, 2008, 07:47:14 PM »
9. Tác dụng hoá sinh của ozon và PAN:
    Ozon và peoxi axetyl nitrat (PAN) là các sản phẩm của quá trình quang hoá:
  CH3-COOONO2  (PAN)
    Cả O3 và PAN đều có tác động tới cơ quan hô hấp  của con người, không khí chứa 50 ppm O3 trong vài giờ sẽ dẫn đến chết do tràn dịch phổi, nghĩa là sự tích luỹ chất lỏng trong phổi. Ở nồng độ thấp O3 gây ra sự tích luỹ chất lỏng trong phổi  và phá hoại các mao quản trong phổi. Những động vật ít tuổi và những người trẻ thường nhậy cảm với tác động gây độc này.
   Hiệu ứng hoá sinh của O3 và PAN chủ yếu là do kết quả của sự phát sinh gốc tự do. Nhóm –SH trên enzim bị tổn hại do sự tấn công của các tác nhân oxi hoá này. Các nhóm –SH bị oxi hoá bởi O3 và PAN. Trong số các amino axit chứa S thì xystein bị PAN tấn công mạnh nhất.
   Các enzim bị làm tê liệt bởi các tác nhân oxi hoá quang hoá gồm izo xitric  đehidrogenaza, maleic đehidro genaza và gluco - 6 – photphat đehidrogenaza, các enzim này bị bao bọc bởi vòng xitric axit và bị làm suy yếu đi sự sản sinh năng lượng tế bào của glucozo. Các tác nhân oxi hoá này ngăn cản hoạt tính của các enzim tổng hợp nên xenlulozo và chất béo trong thực vật.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #19 vào lúc: Tháng Năm 11, 2008, 07:48:56 PM »
10. Hiệu ứng hoá sinh của xianua:
      Xianua có trong các hạt của các loại quả như táo, anh đào, mận, đào. Xianua trong thực vật được lien kết với gốc đường và được gọi là amigđalin. Xianua được giả phóng ra bởi quá trình thuỷ phân axit hoặc enzim (xẩy ra trong dạ dầy):
C6H5-CH2(CN)-O-C6H10O4-O-C6H10O5 + 2H2O --> HCN + 2C6H12O6 + C6H5CHO
    Xianua xâm nhập vào môi trường từ nhiều nguồn. HCN được sử dụng như là các tác nhân sát trùng để tiêu diệt các sinh vật gặm nhấm trong thùng đựng ngũ cốc, nhà và hầm tầu. Xianua được sử dụng trong tổng hợp hoá học khác nhau, trong công nghệ mạ điện, làm sạch kim loại.
   Xianua ức chế enzim oxi hoá đóng vai trò mắt xích trung gian cho quá trình sử dụng O2 để sản xuất ATP. Đầu tiên xianua liên kết với feroxitocrom – oxidaza – metalloprotein chứa sắt, chất này bị khử thành Fe2+ oxit xitocrom oxidaza bởi glucozo. Xianua can thiệp bằng cách tạo lien kết với Fe3+, vì vậy chất này bị thụ động hoá , tức là quá trình sản xuất năng lượng bị ngăn cản. Thêm vào đó CN- còn tạo phức với các hợp chất hematin khác.
   Nhiễm độc xianua có thể xử lý bằng tiêm vào ven (mạch máu) NaNO2 hoặc bằng cách ngửi amylnitrit. Các phản ứng lần lượt là:
a. NO2- oxi hoá hemoglobin Fe(II) thành methemoglobin Fe(III), chất này không có tác dụng vận chuyển O2 tới các mô. Phản ứng này giải thích tính gây độc của NaNO2, nó gây nên thiếu O2 và có thể dẫn đến tử vong.
b. HbFe(III) lien kết với CN- và như vậy giải phóng CN- ra khỏi phức xianua của feroxitocrom axidaza – Fe(III) – oxit.
c. Sự chế hoá tiếp với Na2S2O3 loại được xianua, phản ứng này được xúc tác bởi enzim chứa nhóm SCN- (Rhođanaza) hoặc mitôchnđrial sunfua transfedaza.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #20 vào lúc: Tháng Năm 11, 2008, 07:50:32 PM »
11. Hiệu ứng hoá sinh của thuốc trừ sâu:
     Trong số các thuốc trừ sâu, tác dụng của DDT đối với môi trường được nghiên cứu rộng rãi nhất . Hệ thần kinh trung ương là mục tiêu của DDT , tương tự như nhiều thuốc diệt côn trùng khác. DDT hoà tan trong các mô mỡ và được tích trữ trong màng mỡ bao quanh các tế bào thần kinh (nerve impulse) dọc theo axons (nối liền các tế bào thần kinh). Kết quả là phá huỷ hệ thống thần kinh trung ương và giết chết sâu bọ cần diệt trừ.
    DDT là hợp chất tương đối bền và tồn tại lâu trong môi trường. Còn các nhóm khác như các chất có photpho và nhóm cacbamat bị biến đổi nhanh trong môi trường. Các chất này tác dụng với O2 và nước rồi bị phân huỷ trong vòng vài ngày. Các sản phẩm của sự phân huỷ thường không độc.
    Phương thức tác dụng của thuốc diệt côn trùng là: Cơ chế mà theo đó hiđrocacbon được clo hoá thể hiện tính độc hại với cơ thể vẫn chưa được biết một cách chắc chắn. Có thể giả thiết là chúng bị hoà tan trong các màng mỡ bao quanh các dây thần kinh và can thiệp vào sự chuyển vận các ion vào trong hoặc ra ngoài các dây thần kinh, kết quả là xuất hiện những cơn co giật và dẫn đến tử vong.
     Thuốc trừ sâu có thể ức chế enzim axetyl colinesteraza. Axetyl colin là chất chuyển rung động thần kinh, nó kích động các tế bào thần kinh. Khoảng không gian giữa các tế bào thần kinh (gọi là synapase) chứa cả hai chất axetyl colin và anzim axetyl colinesteraza, chất độc DDT này sẽ phá huỷ axetyl colin và ngăn cản các tế bào thần kinh làm việc.
   Các chất độc trừ sâu tác động lên các enzim hoạt động hình thành dần dần photphoryl và cacbaryl enzim, nồng độ enzim hoạt động giảm đi, axetyl colin không tiếp tục bị phân huỷ đủ nhanh và thần kinh bắt đầu hoạt động ở trạng thái không kiểm soát được, kết quả là côn trùng bị tiêu diệt
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #21 vào lúc: Tháng Năm 11, 2008, 07:53:53 PM »
  DDT là loại thuốc trừ sâu được dung trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, đã có ứng dụng trong nông nghiệp và đã cứu hang triệu người thong qua chương trình kiểm tra dịch bệng sốt rét. Người phát minh ra nó là nhà hoá học Thuỵ Sỹ  Paul Miller, đạt giải thưởng Nobel hoà bình năm 1948. Mặc dù có công dụng vô cùng to lớn cho nhân loại, DDT bị cấm sử dụng ở Mĩ và nhiều nước khác do tác dụng độc hại lâu dài của nó với sức khoẻ con người. Bởi vì DDT rất bền, có thể lưu trữ trong môi trường rất lâu. Con người bị tích luỹ DDT trong dây truyền thực phẩm và tác động lâu dài của nó là không thể lường được.

Metyl isoxianat  CH3-NCO (MIC) là nguyên liệu cho sản xuất thuốc trừ sâu cacbamat. Nó là chất lỏng dễ bay hơi, điểm sôi là 43 – 45 độ, hút ẩm mạnh và do đó được bảo quản trong bình hút ẩm lạnh.
    MIC được tổng hợp nhờ phản ứng của amin với photgen COCl2. Sản phẩm trung gian được phân huỷ bằng cách đun nóng với vôi:
CH3NH3Cl + COCl2 --> CH3NHCOCl + 2HCl
2CH3NHCOCl + 2CaO --> 2CH3NCO + CaCl2 + Ca(OH)2
MIC luôn tồn tại lẫn với COCl2 chưa phản ứng với hàm lượng 2%. Chỉ số giới hạn TVL (Threshold Limiting Value) cho MIC là 0,02 ppm và cho COCl2 là 0,1 ppm. Công nhân tiếp xúc với MIC bị độc hại do bị căng tức ngực và thở do kích thích cơ quan hô hấp. Vì nó chứa kèm COCl2 nên hiệu ứng tổng cộng trở nên chết người trong 24h đối với hầu hết nạn nhân. COCl2 là khí rất độc, được sử dụng trong Chiến tranh thế giới II, các triệu chứng nhiễm độc là co thắt thanh quản, ho, tức và đau ngực. 80% nạn nhân chết trong 24h đầu và số còn lại sẽ chết do viêm phổi.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #22 vào lúc: Tháng Năm 11, 2008, 07:55:28 PM »
12. Các chất gây ung thư (Carsinogens)
     Thuật ngữ Carsinogens bao gồm các nhóm hoá chất gây bệnh ung thư ở người và đọng vật. Carsinogens tác động lên ADN, cản trở chúng truyền các chỉ dẫn cần thiết cho việc tổng hợp các chất, các chất này điều khiển sinh trưởng của tế bào:
    Các chất gây ung thư mà người làm việc nên tránh:
+ 4 – Nitro phenyl sử dụng trong phân tích hoá học.
+ Anpha Naphtyl amin là chất chống oxi hoá, sản xuất phẩm mầu, phim mầu.
+ 4,4 – Metylenbis hay 2 – clo aniline là tác nhân lưu hoá chất dẻo
+ Beta naphtyl amin sản xuất thuốc nhuộm, thuốc thử.
+ Benzidin sản xuất phẩm mầu cau su, chất dẻo, mực in
--> Gây ung thư bàng quang.
+ Metyl cloanilin ete sản xuất nhựa trao đổi ion thường bị nhiễm chất gây ung thư biclo metyl ete.
+ 3,3 – điclo benziđin sản xuất phẩm mầu là chất gây ung thư nổi tiếng.
+ Bis clometyl ete sản xuất nhựa trao đổi ion gây ung thư phổi.
+ Etylenimin chế hoá giấy, vải là chất gây ung thư nổi tiếng.
+ Vinyl clorua sản xuất PVC gây ung thư gan.
+ Etylen điclorua là dung môi công nghiệp, chất sát trùng hạt lương thực và chất phụ gia cho xăng để thu gom Pb, mỗi năm thải ra ngoài môi trường khoảng 74 000 tấn gây ung thư dạ dầy, lá lách, phổi.
    Ngoài các chất trên, các hidrocacbon thơm đa vòng ngưng tụ cũng đáng được chú ý đặc biệt, như benzo anpha piren, crisen, benzofluoranthren
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #23 vào lúc: Tháng Năm 12, 2008, 05:45:08 PM »
IV. Sự phá huỷ môi trường do vũ khí hoá học:

  1. Khái niệm về vũ khí hoá học:
  Vũ khí hoá học là khái niệm để chỉ các hoá chất và các phương tiện sử dụng vào mục đích chiến tranh.
   Trong vũ khí hoá học nếu căn cứ vào bản chất của chat độc người ta chia làm ba nhóm:
+ Nhóm các chất độc.
+ Nhóm các chất tạo khói nguỵ trang.
+ Nhóm các chất gây cháy.
   Còn nếu căn cứ vào hiệu quả sử dụng thì người ta chia chất độc hoá học thành chất độc gây chết và chất độc làm mất tính chiến đấu tạm thời. Ngoài ra còn có vũ khí hoá học hai thành phần chỉ phát huy hiệu quả khi đạn hoá học chạm mục tiêu (phản ứng tạo chất độc tức thời).
   Những chất độc hoá học được chọn làm vũ khí hoá học thường có tính độc cao, xâm nhập nhanh chóng vào cơ thể người, động vật và thực vật, đồng thời tính chất vật lý của chúng tương đối ổn định. Các chất độc hoá học gồm hai loại:
+ Loại chất độc dân dụng thường dung trong nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, y học như các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc nhuộm, dung môi, thuốc sát trùng, thuốc chữa bệnh…
+ Loại chất dộc quân sự như các chất gây ngạt thở, viêm loét, kích thích chẩy nước mắt, hắt hơi, làm rối loạn thần kinh. Các chất đó là: Chất da cam, chất trắng, chất xanh lam, đinoxon, điquat, malathion, CN, DM, CS, ađamxit, BZ, VX…
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #24 vào lúc: Tháng Năm 12, 2008, 05:46:27 PM »
Chất độc hoá học trong vũ khí hoá học có đặc điểm sau:
+ Sát thương được nhiều người, giết hại gia súc, phá hoại mùa màng cùng một lúc trên một phạm vi rọng lớn.
+ Có loại chất độc hoá học có thời gian hiệu quả lâu dài (phụ thuộc vào tính chất vật lý và hiệu lực độc tính). Song cũng có nhiều chất có khả năng gây nhiễm độc cấp tính, đặc biệt có chất gây nhiễm độc chớp nhoáng.
+ Sát thương người, động vật cỏ cây bằng tác dụng hoá học. Hậu quả của nhiễm độc dẫn đến tê liệt hệ thần kinh trung ương hay đến tất cả các cơ quan tổ chức trong cơ thể, ức chế hoặc phá huỷ hoạt tính các enzim, phá huỷ cơ quan tạo máu, gây rối loạn hoạt động sinh lí, dẫn đến nhiễm độc nhẹ hoặc nặng, có thể làm chết người.
+ Việc phát hiện, đề phòng, cứu chữa có những khó khăn nhất định.
+ Chỉ nhằm sát hại tức thời sự sống của sinh vật (người và động thực vật) còn đất đai, tư liệu sản xuất, hầm mỏ, nhà máy cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, lâu dài.
Tác động sinh thái của chất độc hoá học:
    Đối với đất đai sẽ bị giảm độ phì nhiêu vì toàn bộ cây cỏ bị phá huỷ, mất đi kho tích luỹ dinh dưỡng của thiên nhiên. Đất bị xói mòn gây ra nguy cơ bị lũ lụt, đất bị laterit hoá (đá ong hoá). Đất bị nhiễm các chất độc, có những chất độc còn lưu trữ rất lâu trong đất, các côn trùng, vi sinh vật trong đất bị tiêu diệt, do đó việc phục hồi lại các khu rừng, đồng cỏ rất khó khăn. Các loài động vật rừng một mặt bị nhiễm độc các hoá chất, mộ mặt không còn nơi sinh sống dẫn đến bị tiêu diệt hoàn toàn. Kết quả là cả một hệ sinh thái bị phá vỡ và huỷ diệt
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #25 vào lúc: Tháng Năm 12, 2008, 05:47:58 PM »
2. Chiến tranh hoá học ở Việt Nam:
   Từ năm 1961 đến 1975 quân đội Hoa Kì đã rảu xuống miền nam Việt Nam một khối lượng lớn chất độc hoá học nhằm mục đích tăng hiệu quả sát thương, làm giảm hoặc tê liệt sức chiến đấu của quân giải phóng, phá hoại sản xuất. Chiến dịch rải chất diệt cỏ được mang mật danh là chiến dịch “Ranch Hand”.
   Dưới đây là một vài số liệu liên quan đến chiến tranh hoá học ở Việt Nam đã được các nhà khoa học Mỹ công bố và được GS.BS Lê Cao Đài, Thư ký Uỷ ban 10 – 80 trong báo sức khoẻ và đời sống năm 1998 “… các chất chính (Da cam, chất trắng, xanh lam, CS, malathion) rải bằng máy bay trong chiến tranh Việt Nam từ 1962 đến 1972 là 102 500 tấn, trên diện tích 13,6 triệu ha và được coi là 100% diện tích rừng Việt Nam. Chất diệt cỏ quân đội Hoa Kì không chỉ rải một lần, tuỳ từng vùng nghi là nơi tập kết quân sự, hậu cứ đầu vào của quân giải phóng mà rải 2 – 5 lần trở lên. Từ năm 1961 đến 1971 số lượng hoá chất được rải là 72 354 000 lít trên tổng diện tích 1 709 000 ha. Trong số chất độc đó có tới 42 triệu lít chất độc mầu da cam có chứa tới 194 kg đioxin”
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #26 vào lúc: Tháng Năm 12, 2008, 05:49:36 PM »
Điôxin là chất có tính độc cao nhất hiện nay, nó được tạo thành trong quá trình sản xuất 2,4,5 – T ở nhiệt độ cao hơn 280 độ C. Nó có tên khoa học là 2,3,7,8 – tetraclo đibenzoparadioxin, kí hiệu là TCDD.
   Độ độc cao của điôxin được minh hoạ bằng con số sau: Để giết chết một con vật chỉ cần vài phần triệu gam trên 1 kg thể trọng. Lượng cực nhỏ, chỉ cần 1 nanogam/kg (nanogam = phần tỷ gam!) thể trọng gây tai biến sinh sản: Sảy thai, quái thai, chết lưu, dị tật. Liều nhỏ hơn nữa và kéo dài sẽ gây ung thư. Thời gian bán huỷ của đioxin là 10 – 12 năm trong đất và 5 – 8 năm trong cơ thể người.
   Sau nhiều năm chất độc rải xuống Việt Nam dư lượng vẫn còn đáng kể. Năm 1989, đoàn hợp tác Việt - Mỹ phân tích mô mỡ trên 50 người sống ở vùng có nhiễm độc ở Việt Nam thấy còn 22,4 picogam/gam mỡ (pico gam = phần nghìn tỷ gam). Đến nay viện hàn lâm khoa học Mỹ đã chính thức thừa nhận một số loại bệnh so đioxin gây ra như: ung thư tổ chức phần mềm, ulimpho ác tính, bệnh Hodgkin, bệnh xạm da, bệnh ung thư bộ máy hô hấp, bệnh ung thư tuyến tiền liệt, bệnh đau tuỷ, bệnh thần kinh ngoại vi cấp và bán cấp tính, gai đôi.
   Các hoá chất độc dung trong chiến tranh ở Việt Nam:
- Chất diệt cỏ và chất làm rụng lá cây:
+ Chất da cam là dung dịch mầu hống nâu, hoà tan trong dầu, điezen và các dung môi hữu cơ, không hoà tan trong nước. Chất da cam là hỗn hợp 50/50 của hai chất 2,4 – D và 2,4,5 – T. Khi rải không pha loãng và lượng trung bình là 28,06 lít/ha trong đó chứa khoảng 107 mg đioxin.
+ Chất da cam II tương tự chất da cam, chỉ khác là thay thế n – butyl este 2,4,5 – T bằng izo octyl 2,4,5 – T  50% và 50% n – butyl este 2,4 – D.
+ Chất trắng là dung dịch mầu nâu hoà tan trong nước , hỗn hợp ¼ của hai chất  picogam 2,4 – D. Rải với lượng 28,06 lít/ha. Chất da cam, chất trắng là hai chất giả nội tiết của cây, gây rối loạn chuyển hoá làm cây chết.
+ Chất xanh lam là dung dịch mầu vàng nhạt, hoà tan trong nước, là hỗn hợp của axit cacođilic và natri cacođilat. Rải 28,06 lít/ha. Chất xanh làm mất nước của cây, làm cây chết khô.
+ Chất tím là chất độc làm rụng lá cây, nó là hỗn hợp của các este n – butyl 2,4 – D 50%, n – butyl 2,4,5 – T 30% và iso butyl 2,4,5 – T 20% không hoà tan trong nước, hoà tan trong dầu.
+ Chất hồng là chất hỗn hợp của các este  n – butyl 2,4,5 – T 60% v à iso butyl 2,4,5 – T 40%.
+ Chất xanh lá cây chỉ có một phần n – butyl 2,4,5 – T.
+ Chất diệt cỏ khác: Đinoxon là hỗn hợp este khác nhau của 2,4 – D và 2,4,5 – T, trinoxom, điquat…
- Các thuốc trừ sâu: Ngoài các chất diệt cỏ còn phải kể tới các chất diệt côn trùng trong đó chủ yếu là DDT và malathion (lân hữu cơ).
- Chất kích thích: Các chất kích thích CN, DM, CS có tác dụng gây chẩy nước mắt, nước mũi, ngạt thở. Chất DM gây chết người ở nồng độ 1500 mg/m3 trong vòng 10 phút. CS và CN gây ung thư, chúng được nhồi vào lựu đạn, dạn pháo, cối, dung máy bơm bơm vào hầm trú ẩn, địa đạo để đuổi đối phương ra khỏi hầm.


Hết.
« Sửa lần cuối: Tháng Năm 22, 2008, 10:24:41 AM gửi bởi thantang.pro9999 »
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline thantang.pro9999

  • thantang.pro9999
  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • ******
  • Bài viết: 2156
  • Hidden beauty
    • Email
Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #27 vào lúc: Tháng Năm 22, 2008, 10:37:58 AM »
Theo Báo sức khỏe và đời sống

Vi khuẩn ăn Asenic:
  Nhiều vùng nông thôn phải khoan giếng lấy nước ngầm, một trong những chất độc có trong nước ngầm là As. Dùng lâu năm thứ nước ô nhiễm này, As sẽ tích tụ lại trong da, tóc, móng và trong tổ chức nhiều biểu mô như niêm mạc vòm miệng, thực quản, dạ dầy, ruột non gây tổn thương các tổ chức này, điển hình là biến đổi sắc tố da, ung thư da, nhiễm độc thai nghén, sinh con thiếu cân, thai chết lưu và ung thư. Rất nhiều vùng ở Pakistan, Ấn Độ, Argentina, New Zealand, Australia và ngay cả một số vùng ở nước ta bị vấn nạn này. Có thể dùng bể lọc qua cát than để kết tủa, kết hợp với phun để oxi hóa As. Tuy nhiên biện pháp lọc sẽ ít có tác dụng nếu như sắt trong nước vượt quá 0,05 mg/ml
   Sau nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học Australia đã tìm ra vi khuẩn ký sinh ở cừu, ngựa có khả năng hấp thụ được As. Bằng cách dùng vi khuẩn này, người ta đã thử làm sạch nước nhiễm As cho nhiều vùng. So với phương pháp dùng bể lọc thì phương pháp này đỡ tốn kém hơn rất nhiều.
<a href="http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;" target="_blank" class="new_win">http://www.clocklink.com/clocks/5003p-red.swf?TimeZone=JOG&amp;Place=thantang.pro9999&amp;DateFormat=dd+/+mm+/+yyyy+DDD&amp;TimeFormat=HH:mm:ss&amp;</a>
Ngực trầm xinh cho tiếng trái tim vang vọng vào đời chói chang, cho nắng tắt, cho trăng rằm lên, cho vừa đôi chân em đến...

Offline smile_up

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 29
    • Email
Re: Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #28 vào lúc: Tháng Mười 11, 2008, 06:01:27 PM »
Theo tài liệu Độc Học Môi Trường của PGS-TS Trần Hồng Côn ĐHKHTN HN thì thuốc trừ sâu có 2 cách phân loại:
1. Phân loại theo hóa chất: Có 4 loại:
- Các hợp chất cơ Clo
- Các hợp chất cơ phospho
- Các hợp chất Pyrethroit
- Các hợp chất Cacbamat
2. Phân loại cơ chế: có 2 loại:
- Các hợp chất cơ Clo và Các hợp chất Pyrethroit
- Các hợp chất cơ phospho và Các hợp chất Cacbamat.
Phương pháp phân loại thông thường được dựa trên kiểu sử dụng và laọi sinh vật bị tiêu diệt sau đó phân loại tiếp theo cấu trúc hóa học mà từ đó suy ra cùng 1 hiệu ứng sinh học đối với 1 vài loài.
Phân loại theo Tổ chức y tế thế giới. Theo tư liệu của Hội nghị sức khỏe thế giới tổ chức năm 1975, Tổ chức sức khỏe thế giới đã đề nghị phân loại và đã được xuất bản vào năm 1994 như sau:
Ia. Cực kỳ nguy hiểm
Ib. Có độ nguy hiểm cao
II. Nguy hiểm vừa
III. Ít nguy hiểm và gần như không gây nguy hiểm cấp tính khi sử dụng bình thường.
1. Thuốc trừ dịch hại cơ Clo
Là các dẫn xuất clo của một số hợp chất hữu cơ. Các khung cấu tạo đặc trưng chủ yếu là diphenyletan, cyclodien, benzen, hexan.
a) Loại Diclodiphenyletan (DDT, DDD (Rothane), DMC (Dimite), Methoxychlor, Chlozylate):
-Nhiễm độc cấp: Biểu hiện liệt nhẹ(liều uống), mất khả năng diều hòa, loạng choạng, hoa mắt, lẫn lộn, đau đầu, buồn nôn, mệt mỏi, hôn mê, run rẩy chân tay.
-Nhiễm độc mãn: Biểu hiện giảm cân, biếng ăn, thiếu máu nhẹ, run rẩy, mẫu điện não thay đổi, yếu cơ, lo lắng, dễ kích động, căng thẳng thần kinh.
b)Hexachlorocyclohexan (Lindan (anpha isome), Hexachlorobenzen (hỗn hợp các isome))
-Nhiễm độc cấp: Biểu hiện hoa mắt, đau đầu, nôn mửa, cơ vận động quá khích, phản xạ mạnh, co thắt cơ tim, co giật.
-Nhiễm độc mãn: Biểu hiện đau đầu, chóng mặt, rối loạn tâm lý, cáu kỉnh, mẫu điện não đồ thay đổi, mất tỉnh táo, động kinh nhẹ.
c) Cyclodien (Endrrin, Telodrrin, Isodrrin, Endosulfan, Heptaclor, Aldrrin, Dieldrrin, Chlordane, Toxaphene, Chlordecon (Kepone), Hirex)
-Nhiễm độc cấp: Biểu hiện hoa mắt, đau đầu, nôn mửa, cơ vận động quá khích, phản xạ mạnh, co giật cơ tim.
-Nhiễm độc mãn: Biểu hiện đau ngực, viêm khớp, phát ban trên da, mất cân bằng, nói lắp, co giật, tầm nhìn kém, định vị kém, cáu kỉnh, mất trí nhớ, yếu cơ, run tay.
2. Thuốc trừ dịch hại cơ Phospho và cacbamat
Chúng đều là những este, các dẫn xuất hữu cơ của axit phosphoric và axit cacbamic. Chúng đều có tác dụng gây ngộ độc hệ thần kinh. Các tín hiệu và triệu chứng ngộ độc có liên quan đến việc tập trung các gốc acetylcholine tự do, không liên kết. Hậu quả là các nút chuyển giao tín hiệu của thần kinh bị ức chế bởi enzym acetylcholinesteraza (AChE).
-Cơ phospho ester: (XYZ)-P=O/=S
X, Y: Alkyl, Alkoxy, Amido
Z: Aryl, Alkyl, Alkoxy
-Cơ Cacbamat ester: R-O-CH-NH-CH3
R: Alkyl, Aryl.
Các loại thuốc trừ sâu cơ phospho thông dụng: Parathion, Malathion, Fenitrothion, Guthion, Chlorpyrifos, Dichlorios, Temephos, Acephat, Trichlorfon.
Các loại họ cacbamat: Carbaryl, Aminocarb, Propoxur, cabofuran, Pirimicarb, Methomyl.
Chúng gây tác động lên:
a. Các hạch đối giao cảm tự quản của các dây thần kinh của:
-Các tuyến ngoại tiết: chẩy bọt nhiều, chảy nước mắt, mồ hôi.
-Mắt: Co đồng tử, sa mi mắt, mờ mắt, giao hội kém.
-Đường tiêu hóa: Nôn mửa, cứng bụng, phù, chuột rút, không kiềm chế được.
-Đường hô hấp: Cuống phổi bài tiết quá mức, sổ mũi, phù phổi, cứng ngực, viêm và co thắt phế quản, ho, khó thở.
-Hệ tuần hoàn: Loạn nhịp tim, giảm áp lực máu.
-Bàng quang: Tiểu tiện nhiều.
b. Dây thần kinh đối giao cảm và giao cảm tự quản:
-Hệ thống tim mạch: Tim đập nhanh, xao xuyến, tăng huyết áp.
c. Dây thần kinh thể vận động:
-Cơ xương: Bó cơ, chuột rút, giảm phản xạ gân, yếu cơ ngoại biên và hô hấp, cứng lưỡi, run rẩy, mất điều hòa.
d. Não(cảm thụ acetylcholine):
-Hệ thống thần kinh trung ương: Hôn mê, rối loạn tâm thần, hôn mê không phản xạ, khó thở, co giật.
3. Các Pyrethroid ester:
Pyrethrium là thuốc trừ sâu có nguồn gốc tự nhiên, nó là hỗn hợp của 6 este khác nhau với cấu trúc phức tạp được tách ra từ hoa của những giống cúc nào đó.
Các Pyrethroid ester là những chất độc thần kinh và mới chỉ thấy xuất hiện dị ứng trên người.
Các este tổng hợp có thể chia thành 2 loại nhỏ dựa trên cấu trúc và dấu hiệu cũng như triệu chứng ngộ độc của chúng. Loại I (hội chứng T): tác động gần giống DDT, loại II (hội chứng CS): tất cả các este loại này đều có chứa nhóm xyanua. Với loại este này, các triệu chứng như mất điều hòa, xơ vữa động mạch, co cơ, mệt mỏi, tê liệt, đau đầu, buồn nôn.
4. Các loại thuốc trừ dịch hại khác
a)Thuôc diệt cỏ: Là loại chiếm khối lượng lớn nhất trong các loại thuốc trừ dịch hại sử dụng trong trồng trọt. Ví du như: bispyridyl, TCDD (2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin), các axit mạnh, các amin, este, phenol...Thông thường các chất này được sử dụng cùng dung môi pha loãng, tạo huyền phù hay chất ổn định.
Paraquat là chất độc nhất đại diện cho các herbicide, là một chất diệt cỏ theo đường tiếp xúc và không chọn lọc.Nó cũng là chất được biết có hiệu lực gây độc mạnh nhất đối với đường hô hấp. Do paraquat tập trung vào các mô, nơi có nồng độ oxi cao, trước tiên là phổi. Tại đây chúng hành động như 1 xúc tác thực thụ dưới dạng 1 hợp chất trung gian hoạt động mang oxi kết hợp với enzym mono-oxygenâz tạo ra hydro-peoxit phá hủy màng lipit của các phế nang trong phổi nơi thực hiện chức năng trao đổi oxi-CO2 gây triệu chứng giảm huyết tiến triển nhanh, suy hô hấp, về thực chất là chết do "ngạt" và không có cách gì để giải độc.
Diquat là đồng đẳng của paraquat dùng để diệt cỏ. Nó không gây ngộ độc hô hấp nhưng có khả năng hủy hoại gan và thận. Tuy nhiên không phải là chất độc đối với người.
b)Thuốc diệt nấm
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 11, 2008, 08:27:23 PM gửi bởi smile_up »
*&* CÁCH DUY NHẤT ĐỂ CÓ HẠNH PHÚC LÀ CHẤM DỨT LO ÂU VỀ NHỮNG GÌ VƯỢT QUA TẦM KIỂM SOÁT CỦA CHÚNG TA *&*

Offline smile_up

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 29
    • Email
Re: Chất độc hóa học và cơ chế gây độc.
« Trả lời #29 vào lúc: Tháng Mười 11, 2008, 08:25:36 PM »
b) Thuốc diệt nấm(Fungicide):
Thông thường chúng là những chất dạng bột và có độc tính thấp đối với người (LD50 ~ 800-10.000mg/không gian cơ thể). Tuy nhiên đã có bằng chứng về quái thai trên người tiếp xúc thường xuyên với một vài loại thuốc này và cũng có bằng chứng chứng tỏ khả năng gây ung thư trên người khi ung thư là giai đoạn cuối của quá trình đột biến gen.
Các loại thuốc diệt nấm tiêu biểu thường dùng nhất là nhóm etylene-bisdithio-carbamat gồm Nabam (ion liên kết là Na), Zineb (ion liên kết là Zn), Maneb (ion liên kết là Mn), Manozeb (ion liên kết là Mn và Zn); captan, captofol, benomyl, thiabendazole, metalaxyl, thiophanate và nhóm thiocarbamat gồm Ferbam (Fe), Zibam (Zn).
Tiếp xúc nhiều với thuốc diệt nấm có thể bị mẩn ngứa và viêm da, hầu hết gây kích thích mạnh lên niêm mạc, mắt, mũi, cổ họng và đường thở trên.
c) Thuốc diệt chuột
Thường thì độc tính của chúng nhằm vào một vài cơ chế sinh lý hay hóa sinh duy nhất của loài cần tiêu diệt. Chủ yếu gồm các loại:
-Kẽm phosphua (Zn3P2): Zn3P2 + H2O -> PH3. Ph3 không bền và rất hoạt đông, nó phá hủy màng tế bào trong hệ tiêu hóa, gan, thận, phổi. Liều gây hại với người là >5g.
-Fluoroacetate/ Fluoroacetamide (CH2F-CO-O-Na/CH2F-CO-NH2): không màu, không vị, hấp thụ tốt trên đường tiêu hóa và ức chế các enzym. Liều gây hại đối với người là 10mg/không gian cơ thể.
-Alpha-naphtylthiure (ANTU): chỉ gây độc khi nó được hoạt hóa trong các mô. Nó là nguyên nhân gây ra sự tích lũy dịch ngoài tế bào trong gan.
-Coumarine/Inđanione: là chất chống đông, gây ra bệnh chảy máu mãnh liêt ở mũi, đường tiêu hóa và khớp.
*&* CÁCH DUY NHẤT ĐỂ CÓ HẠNH PHÚC LÀ CHẤM DỨT LO ÂU VỀ NHỮNG GÌ VƯỢT QUA TẦM KIỂM SOÁT CỦA CHÚNG TA *&*

 

Bác sĩ trực tuyến tu dien thuoc

drug dictionary thuocsi.com umeken beautiful places in the world trathuoc.com

Tư vấn