Loading

Like H2VN trên Facebook
nha thuoc truc tuyen

Tác giả Chủ đề: Thắc mắc về sản xuất tinh bột  (Đọc 77233 lần)

0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.

Offline thitong

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 36
    • Email
Thắc mắc về sản xuất tinh bột
« vào lúc: Tháng Bảy 27, 2006, 09:19:07 AM »
Sắn (hay còn gọi là khoai mì) là cây lương thực ưa ẩm, nó phát nguồn từ lưu vực sông Amazôn (Nam Mỹ). Đến thế kỷ 15 nó được trồng Châu Á và Châu Phi. Ở nước ta sắn được trồng từ Nam đến Bắc cùng với việc trồng từ lâu, nhân dân ta đã chế biến thành cây lương thực cho người gia súc (sắn lát) hoặc chế biến món ăn dân dã thường ngày như là làm bánh nấu chè …
Nhiều ngành công nghiệp và chế biến thực phẩm có sử dụng tinh bột khoai mì cũng rất phát triển dẫn đến nhu cầu tinh bột tăng nhanh chóng.
Đồng thời nhu cầu trong nước gia tăng thì nhu cầu của thế giới cũng gia tăng. Và với nhu cầu đó thì yêu cầu chất lượng trong khi nguồn cung cấp tinh bột cung cấp trong nước chủ yếu là do các cơ sở thủ công đảm trách. Ngoài ra diện tích trồng khoai mì, sản lượng khoai mì vànăng suất mì của nước ta cũng phát triển những năm gần đây.
Đó là những lý do cho việc thiết kế nhà máy sản xuất tinh bột khoai mì nhằm đáp ứng nhu cầu nói trên.

CHƯƠNG I:   TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU

1.  NGUỒN GỐC
Sắn (hay còn gọi là khoai mì) có tên khoa học là Manihot Esculenta là cây lương thực ưa ẩm, nó phát nguồn từ lưu vực sông Amazone Nam Mỹ. Đến thế kỉ XVI mới được trồng ở châu Á và Phi. Ở nước ta, khoai mì được trồng ở khắp nơi từ nam chí bắc nhưng do quá trình sinh trưởng và phát dục  của khoai mì  kéo dài, khoai mì giữ đất lâu nên chỉ các tỉnh  trung du và thượng du Bắc Bộ như: Phú Thọ, Tuyên Quang, Hòa Bình … là điều kiện trồng trọt thích hợp hơn cả.
Khoai mì Việt Nam cũng bao gồm nhiều loại giống. Nhân dân ta thường căn cứ vào kích tấc, màu sắc củ, thân, gân lá và tính chất khoai mì đắng hay ngọt ( quyết định bởi hàm lượng axit HCN cao hay thấp) mà tiến hành phân loại. Tuy nhiên trong công nghệ sản xuất tinh bột người ta phân thành hai loại: khoai mì đắng và khoai mì ngọt.

2. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC    

2.1  Thân
Thuộc loại cây gỗ cao từ  2 đến 3m, giữa thân có lõi trắng và xốp nên rất yếu.     
2.2 Lá
Thuộc loại lá phân thuỳ sâu, có gân lá nổi rõ ở mặt sau, thuộc loại lá đơn mọc xen kẽ, xếp trên thân theo chiều xoắn ốc. Cuống lá dài từ 9 đến 20cm có màu xanh, tím hoặc xanh điểm tím.
2.3  Hoa
Là hoa đơn tính có hoa đực và hoa cái trên cùng một chùm hoa. Hoa cái không nhiều, mọc ở phía dưới cụm hoa và nở trước hoa đực nên cây luôn luôn được thụ phấn của cây khác nhờ gió và côn trùng.
2.4 Quả
Là loại quả nang, có màu nâu nhạt đến đỏ tía, có hình lục giác, chia thành ba ngăn, mỗi ngăn có một hạt, khi chín, quả tự khai.
2.5  Rễ
Mọc từ mắt và mô sẹo cuả hom, lúc đầu mọc ngang sau đó cắm sâu xuống đất. Theo thời gian chúng phình to ra và tích lũy bột thành củ.
2.6 Củ
Khoai mì hai đầu nhọn, chiều dài biến động từ 25-200 cm, trung bình khoảng 40-50 cm. Đuờng kính củ thay đổi từ 2-25 cm, trung bình 5-7 cm. Nhìn chung, kích thước cũng như trọng củ thay đổi theo giống, điều kiện canh tác và độ màu của đất.

3. THỜI VỤ THU HOẠCH
Thông thường, nông dân thường trồng khoai mì chính vụ vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 4. Và ở mỗi miền, thời gian thu hoạch khác nhau tùy thuộc điều kiện khí hậu từng vùng.
   Ở miền Bắc, trồng khoai mì vào tháng 3 là thuận lợi nhất vì lúc này có mưa xuân ẩm, trời bắt đầu ẩm, thích hợp cho cây sinh trưởng, hình thành và phát triển củ.
   Vùng Bắc Trung Bộ, tháng 1 thích hợp nhất cho việc trồng khoai mì . Nếu  trồng sớm sẽ gặp mưa lớn làm thối hom chết mầm, còn trồng muộn khoai non gặp khô rét sẽ sinh trưởng kém.
   Vùng Nam Trung Bộ, khoai mì có thể trồng trong khoảng tháng 1 đến tháng 3, trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao và thường có mưa đủ ẩm. Một số nơi bà con có thể trồng sớm hơn 1-2 tháng nhưng cùng thu hoạch vào tháng 9, tháng 10 trước mùa mưa lũ.
   Vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, khoai mì trồng chủ yếu vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa (tháng 4 hay tháng 5) trong điều kiện nhiệt độ cao ổn định và có mưa đều. Những nơi có điều kiện chủ động nước ở đồng bằng sông Cửu Long, khoai mì thường trồng ngay từ đầu năm để kịp thu hoạch trước mùa lũ.

4. CẤU TẠO HÓA HỌC
Cũng như phần lớn các loại hạt và củ, thành phần chính của củ khoai mì  là tinh bột . Ngoài ra, trong khoai mì còn có các chất: đạm, muối khoáng, lipit, xơ và một số vitamin B1, B2.
Như vậy, so với nhu cầu dinh dưỡng và sinh tố của cơ thể con người, khoai mì là một loại lương thực, nếu được sử dụng mức độ hợp thì có thể thay thế hoàn toàn nhu cầu đường bột của cơ thể.

4.1  Tinh bột
Là thành phần quan trọng của củ khoai mì, nó quyết định giá trị sử dụng của chúng. Hạt tinh bột hình trống, đường kính khoảng 35 mircomet

4.2  Đường
Đường trong khoai mì chủ yếu là glucoza và một ít maltoza, saccaroza. Khoai mì càng già thì hàm lượng đường càng giảm. Trong chế biến, đường hoà tan trong nước được thải ra trong nước dịch.

4.3  Prôtein 
Hàm lượng của thành phần protein có trong củ rất thấp nên cũng ít ảnh hưởng đến quy trình công nghệ. Tỉ lệ khoảng:1-1,2%.

4.4  Nước
Lượng ẩm trong củ khoai mì tươi rất cao, chiếm khoảng 70% khối lượng toàn củ. Lượng ẩm cao khiến cho việc bảo quản củ tươi rất khó khăn. Vì vậy ta phải đề ra chế độ bảo vệ củ hợp lý tuỳ từng điều kiện cụ thể.

4.5  Độc tố trong củ mì
Ngoài những chất dinh dưỡng trên, trong khoai mì còn có độc tố. Chất độc có trong cây khoai mì ngày nay đã được nghiên cứu và xác định tương đối rõ. Đó chính là HCN. Trong củ khoai mì, HCN  tồn tại dưới dạng  phazeolunatin  gồm hai glucozit Linamarin và Lotaustralin.

4.6  Hệ enzim
Trong khoai mì, các chất polyphenol và hệ enzim polyphenoloxydaza có ảnh nhiều tới chất lượng trong bảo quản và chế biến. Khi chưa đào hoạt độ chất men trong khoai mì yếu và ổn định nhưng sau khi đào thì chất men hoạt động mạnh. Polyphenoloxydaza xúc tác quá trình oxy hoá polyphenol tạo thành octoquinon sau đó trùng hợp các chất không có bản chất phênol như  axitamin để hình thành sản phẩm có màu. Trong nhóm polyphenoloxydaza có những enzim oxy hoá các monophenol mà điển hình là tirozinnaza xúc tác sự oxy hoá acid amin tirozin tạo nên quinon tương ứng. Sau một số chuyển hoá các quinon này sinh ra sắc tố màu xám đen  gọi là melanin. Đây làmột trong những nguyên nhân làm cho thịt khoai mì có màu đen mà thường gọi là khoai mì chạy nhựa.Vì enzim tập trung trong mủ ở vỏ cùi cho nên các vết đen cũng xuất hiện trong thịt củ bắt đầu từ lớp ngoại vi.     
Khi khoai mì đã chạy nhựa thì lúc  mài xát khó mà phá vỡ tế bào để giải phóng tinh bột do đó hiệu suất lấy tinh bột thấp, mặt khác tinh bột không trắng.
Ngoài tirozinaza các enzim oxy hoá khử cũng hoạt động mạnh làm tổn thất chất khô của củ.
Hàm lượng tannin trong khoai mì ít nhưng sản phẩm oxy hoá tannin là chất flobafen có màu sẫm đen khó tẩy. Khi chế biến, tannin còn có tác dụng với Fe tạo thành sắt tannat cũng có màu xám đen. Cả hai chất này đều ảnh huởng đến màu sắc của tinh bột nếu như trong chế biến không tách dịch bào nhanh và triệt để.
Trong bảo quản khoai mì tươi thường nhiễm bệnh thối khô và thối ướt do nấm và vi khuẩn gây nên đặc biệt đối với những củ bị tróc vỏ và dập nát. Ngoài ra nếu củ bị chảy nhựa nghiêm trọng cũng sẽ dẫn tới hiện tượng thối khô.
Đisâu phân tíchvề phương diện tổ hợp thành các chất dinh dưỡng chủ yếu là đạm và tinh bột (vì đó là hai thành phần quan trọng của củ khoai mì có giá trị kinh tế nhất).
Tỷ lệ tinh bột và đạm phân bố không đều trong nhưng bộ phận khác nhau của củ khoai mì. Quy luật chung: hàm lượng tinh bột tập trungnhiều nhất ở phần sát vỏ bao, càng đi sâu vào lớp thịt sát lõi lượng tinh bột lại ít đi, nhưng lượng đạm lại tăng lên một phần so với những lớp bên ngoài.

5. GIÁ TRỊ SỬ DỤNG
Trước hết, khoai mì có khả năng thay thế trực tiếp một phần khẩu phần gạo của nhân dân ta. Đó là thực phẩm dễ ăn, dễ chế biến, khả năng bảo quản cũng  tương đối ổn định nếu được chế biến thành bột hay những thành phẩm sơ chế khác như khoai mì lát, miếng khoai mì…
Với nhu cầu của công nghệ,  khoai mì là nguồn nguyên liệu trong các ngành kỹ nghệ nhẹ, ngành làm giấy, ngành làm đường dùng hóa chất hay men thực vật để chuyển hoá tinh bột khoai mì thành đường mạch nha hay gluco. Rượu và cồn đều có thể sử dụng khoai mì làm nguyên liệu chính.
Khoai mì còn là nguồn thức ăn tốt để cung cấp cho gia súc .

6. GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG
Khoai mì có giá trị dinh dưỡng cao như khoai tây, khoai môn, khoai lang…do hàm lượng protein thấp nhưng nó chứa nhiều cacbonhydrat là nguồn cung cấp nhiều năng lượng cho cơ thể. Nó còn là một nguồn tốt để cung cấp Kali và chất xơ.
Khoai mì giúp duy trì quá trình cân bằng hàm lượng nước trong máu.
Chất xơ giúp ngừa táo bón, có khuynh hướng thấp hơn hàm lượng Cholesterol trong máu, ngăn ngừa những bệnh về tim mạch.
Vì củ mì chứa ít protein và chất béo nên khi dùng khoai mì trong khẩu phần ăn nên bổ sung thêm các loại thực phẩm giàu protein và lipit để khẩu phần được cân đối.

7. LỰA CHỌN VÀ BẢO QUẢN NGUYÊN LIỆU

7.1  Lựa chọn
Dựa trên hai phương pháp:
   Phương pháp cảm quan: xác định củ tốt củ xấu và xác định tương đối hàm lượng tinh bột.
Củ khoai mì nhiều bột ít xơ, vỏ củ và vỏ bao mỏng, cuống ngắn củ bụ là tốt. Loại củ cuốn dài khi chế biến năng suất bột kém vì cuống thực chất gồm phần lớn là xơ gỗ.
Chọn củ trung bình rồi bẻ làm đôi, nếu ta chỉ dùng một lực vừa phải bẻ gãy củ và thấy thịt sắn chắc và khô, trắng đục thì như vậy có thể coi là thu hoạch sắn đúng tuổi, hàm lượng tinh bột cao nhất.
Nếu bẻ gãy củ cũng dễ dàng nhưng thấy thịt sắn có màu vàng nhạt, tuy chắc thịt nhưng phần giữa củ ướt thì đó là sắn non ít bột.
   Phương pháp thực nghiệm:
Dùng loại cân thực nghiệm do Thái Lan thiết kế và sản xuất xác định
Nguyên tắc hoạt động dựa trên sự khác nhau về tỷ trọng giữa bột và nước.Qua nhiều lần khảo sát các số liệu người ta thiết kế cân xác định được hàm lượng tương ứng của 5 kg củ.
Củ được chặt khúc từ 3 - 5 cm.
Cân hoạt động như sau: củ được chặt khúc cho vào giõ cân(1) cân xác định khối lượng 5kg (lúc này quả cân hàm lượng đặt tại điểm không)
Sau khi cân đúng 5kg củ, đổi xuống giỏ (2) được nhúng chìm trong nước

1.   Giỏ đựng củ 1,2
2.   Hồ nước
3.   Ống chảy tràn của hồ
4.   Thanh trượt quả cân có khắc hàm lượng
5.   Thanh trượt quả cân có khắc khối lượng
6.   Quả cân hàm lượng
7.   Qủa can khối lượng
8.   Khóa cân
Dịch chuyển quả cân hàm lượng sẽ xác định được hàm lượng củ (lúc này quả cân khối lượng phải đặt ở vị trí không). Khi cân xác định hàm lượng phải chú ý các điểm sau để để đảm bảo tính chính xác của cân:
Củ phải chặt bỏ đầu, cuống (chủ yếu là Xenluloze) và mặt cắt củ phải ngay không được xéo, đồng thời kích thước phải theo đúng quy định để đảm bảo độ chính xác của cân.
Nước trong hồ phải sạch, củ phải được rửa sạch trước khi đem chặt khúc để cân.
Mực nước trong hồ phải luôn luôn ở mức chảy tràn.
Từ  các kết quả trên sẽ cho ta kết quả về lô sắn cần chế biến ngay hay không.
Về vấn đề bảo quản, do tinh chất củ không nên để 48 giờ sau thu hoạch nên ta chọn chế độ thu mua để có thể chế biến trong 24 giờ để trách trường hợp hư củ (do đó vấn đề bảo quản có thể không chú trọng).
Ở Tây Ninh hàm lượng tinh bột cao nhất là 30% (người dân địa phương gọi là 30 điểm) .

7.2  Bảo quản nguyên liệu
Khoai mì là loại củ khó bảo quản vì dễ bị biến chất dễ hư hỏng .Khoai mì có hàm lượng nước cao rất dễ bị các loại men phân li các hợp chất hữu cơ thông thường người ta gọi là chạy nhựa làm cho củ khoai mì biến thành xơ và bán xơ có khi cứng như gỗ.
Thực tế khoai mì sau khi thu hoạch về thường không chế biến kịp nên phải bảo quản khoai mì tươi trong một khoảng thời gian nhất định.
Khi bảo quản, nếu tạo điều kiện càng giống khi chưa đào thì càng bảo quản được lâu .Có những cách như sau :
   Bảo quản trong hầm kín: mục đích của việc bảo quản trong hầm kín là để tránh sự hoạt động của các enzym trong củ mì có nghĩa là tránh hiện tượng hư hỏng. Hầm phải hoàn toàn kín và khô ráo, phải có mái che để tránh nước chảy vào. Hầm sâu 0.81.2 m. Chiều rộng phụ thuộc số khoai mì cần bảo quản.
   Bảo quản bằng cách phủ cát khô: phương pháp này dựa trên nguyên tắc bảo quản kín giống như bảo quản trong hầm. Chọn củ có kích thước doing đều không bị dập, vỏ không bị xây xát, xếp thành luống cao 0.50.6 m, rộng 1.21.5 m, chiều dài khoảng 4 m.Sau khi sắp xếp xong , dùng cát khô phủ kín đống khoai mì, lớp cát dày ít nhất 20 cm.
Ngoài ra có thể bảo quản bằng cách nhúng vào nước vôi .Khoai mì sau khi thu hoạch chọn những củ còn nguyên vẹn đem nhúng vào nước vôi 0.5 % hoặc dùng bình chứa nước vôi phun đều vào đống củ sau đó dùng trấu hoặc cát phủ kín đống khoai mì .Phương pháp này có thể bảo quản 1525 ngày.
Một số nhà nghiên cứu đã tìm ra là khoai mì có thể được bảo quản trong thời gian khá dài nếu chúng được giữ ở điều kiện lạnh đông .Tuy nhiên, cách bảo quản này ít đượ c sử dụng vì chí phí quá tốn kém và người ta cho rằng rằng phương pháp bảo quản chi phí cao như vậy không phù hợp với mặt hàng có chi phí thấp như khoai mì.
 Ta chỉ nên bảo quản những củ nguyên vẹn vì những củ gãy xây xát thường nhiễm vi sinh vật làm cho củ thối, đặc biệt bệnh thối ướt dễ dàng lây sang những củ lân cận rồi lan ra toàn đống.
Khi bảo quản cần lưu ý tới nhiệt độ.Nhiệt độ được xác định bằng cách: cắm ống đo vào ống thông hơi, nếu nhiệt độ củ khoai mìì lớn hơn nhiệt độ ngoài trời 500C thì đảo khoai mì. Nếu thấy củ thối hỏng, chạy nhựa, biến màu (trắng sang vàng hoặc đen) thì bỏ.
Những cách bảo quản trên được sử dụng trước đây khi khoai mì chỉ được trồng theo mùa. Những năm gần đây ở tỉnh Tây Ninh người ta trồng khoai mì quanh năm, những nhà máy thu hoạch khoai mì từ những đồn điền của nhà máy hoặc thu mua ở những đồn điền xung quanh và đưa vào sản xuất ngay không cần phải bảo quản.

Cộng đồng Hóa học H2VN

Thắc mắc về sản xuất tinh bột
« vào lúc: Tháng Bảy 27, 2006, 09:19:07 AM »

Offline thitong

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 36
    • Email
Hồi âm: Công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Bảy 27, 2006, 09:23:10 AM »
QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ

Offline satlong1993

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 148
  • I Love Chemistry
    • 4tvn.com
    • Email
Re: Công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Năm 15, 2007, 09:32:22 AM »
Cũng quy mô quá ha
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄
►Ɓą◄►ßỹ◄►βöŷ◄►Pŕ☺◄►Çû†є◄

Offline hieub5b

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 3
    • Email
Re: Công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Mười Một 05, 2007, 11:26:50 PM »
Cám ơn bác nhiều! Bài viết rất bổ ích!
Bác có thể đưa ra quy trình sản xuất tinh bột sắn dây có được không.
Xin cám ơn bác nhiều.
Email của em: hieub5b@yahoo.com

Offline dinhthuyhang

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 24
Re: Công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Mười Một 08, 2007, 09:49:43 PM »
Bài viết này informative quá. Tks.
Nếu có thể thì bạn post ít thông tin về công nghệ sản xuất bột agar cho mọi người chia sẻ với nhá.
  ;D

Offline dinh kim hoa

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 2
    • Email
Re: Công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Mười Hai 08, 2007, 12:32:59 AM »
bạn oi ! có tài lieu về khoai tây không ! gui cho to voi ! huhuhu ! To lam do an tot nghieup ve khoai tay ma thieu tai lieu qua! giup to nhe! cam on ban nhìu !

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
    • Email
Re: Công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Một 07, 2008, 08:18:20 PM »
mình lại có 1 qui trình khác đây:



Đơn giản, chúng ta là H2VN

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
    • Email
Re: Công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Một 07, 2008, 08:55:35 PM »
Các công đoạn trong sản xuất
1.   bóc vỏ:
–   nguyên liệu từ bãi chứa được xe xúc đưa vào phễu phân phối. từ đây sắn được chuyển lên thiết bị tách vỏ nhờ vào băng tải cao su.
–   Cấu tạo của thiết bị tách vỏ gồm những thanh sắt song song với nhau thành trọ tròn rỗng có chứa các khe hở để bụi đất, tạp chất và vỏ gỗ rơi ra ngoài. Bên trong thiết bị có lắp các gờ theo hình xoắn tròn với 1 động cơ dưới sự điều khiển của công nhân để điều chỉnh lượng sắn thích hợp vào thiết bị rửa. Khi động cơ quay thiết bị quay theo do đó nhờ lực ma sát giữa sắn với thành thiết bị và giữa các củ với nhau má vỏ gỗ, đất đá rơi ra ngoài, còn sắn tiếp tục đi qua thiết bị rửa.
2.   Rửa
-   Cấu tạo của thiết bị rửa gồm 2 thùng chứa hình máng, bên trong có các cánh khuấy có tác dụng đánh khuấy và vận chuyển sắn đến băng tải. Phía trên thiết bị có lắp đặt hệ thống vòi phun nước để rửa nguyên liệu, phía dưới có các lỗ để đất đá, vỏ và nước thoát ra ngoài.
-   Nguyên liệu sau khi xả xuống thùng, tại đây củ mì được đảo trộn nhờ các cánh khuấy gắn trên 2 trục quay nối với động cơ. Nhờ lực va đập của cánh khuấy và nguyên liệu với nhau, phía trên có các vòi phun nước rửa xuống, nhờ đó củ sắn dc rửa sạch. Rửa xong củ sắn được cánh khuấy đẩy đến băng tải cao su để vận chuyển đến thiết bị băm mài
3.   băm và mài
3.1   băm:
-   sau khi sắn được rửa xong sẽ được băng tải chuyển đến máy băm. Qúa trình chặt khúc nguyên liệu được tiến hành trong máy chặt khúc. Bộ pậhn chính của máy là các dao gắn chặt vào trục quay nhờ động cơ, đáy thiết bị được gắn các tấm thép đặt song song với nhau tạo nên những khe hở có kích thước đúng bằng bề dày của lát cắt và đảm bảo không cho nguyên liệu rơi xuống dưới trước khi được chặt thành các khúc nhỏ.
-   Nguyên liệu sau khi được chặt thành nhiều khúc nhỏ sẽ lọt qua các khe hở ở đáy thiết bị và rơi vào máy mài.
3.2   Mài:
-   Quá trình mài xát được thực hiện trong máy mài. Cấu tạo của máy mài gồm 1 khối kim loại hình trụ tròn, mặt ngoài của hình trụ láp các răng cưa nhỏ,phía ngoài trục có bao lớp vỏ thép cứng chịu lực khi máy hoạt động. do bề mặt tang quay của máy mài có dạng răng cưa và bản thân máy mài cũng códạng răng cưa, do vậy tạo ra các lực nghiền mài xát làm nhỏ nguyên liệu.
-   Nguyên liệu sau khi qua máy mài rồi rơi vào hầm chứa chờ bơm qua bộ phận tách xác.

hẹn mai post tiếp nha. chuẩn bị đi làm rồi


Đơn giản, chúng ta là H2VN

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
    • Email
Re: Công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Một 11, 2008, 08:32:24 AM »
4. Tách xác thô:
   Dịch sữa tinh bột thu được từ máy mài sẽ được bơm qua thiết bị tách xác thô. Tại đây sơ bã và các phân tử lớn sẽ bị giữ lại trên lưới lọc để đưa sang máng rồi hòa với nước sạch đem đi lọc rồi chiết lần cuối nhằm thu hồi triệt để lượng tinh bột còn lại trong bã. Còn dịch sữa tinh bột lọt qua lưới lọc chảy vào thùng chứa chờ bơm đi tách dịch bào lần 1. Dịch sữa bột trong giai đoạn này người ta hiệu chỉnh nồng độ chất khô trong khoảng 3 -5 Be.

5. tách dịch bào lần 1:
Quá trình phân ly tách dịch bào được thực hiện trong máy ly tâm. Nguyên tắc làm việc của máy là nhờ vào sự chênh lệch về tỉ trọng giữa dịch bào và tinh bột mà người ta dung lực li tâm để tách dịch bào ra khỏi dịch sữa tinh bột. Dịch sữa tinh bột từ thùng chứa được bơm qua 2 decanter, lưu lượng điều tiết cho vào 2 thiết bị này khoảng 20 – 25 m3/h. Khi dịch sữa tinh bột vào bên trong thiết bị với tốc độ ly tâm lớn, tinh bột bị văng ra xung quanh thành bên trong của thiết bị và được vít tải chạy ngược với thiết bị cào tinh bột ra ngoài. Trong quá trình này gnười ta vẫn cho nước vào để khống chế 5 -15 Be

6. Tách xác tinh lần 2:
Dịch sữa tinh bột sau khi tách dịch bào lần 1 được bơm qua thiết bị tách xác tinh. Phần xác không lọt qua lưới ở đây cũng được đi chiết và lọc lần cuối cùng với bã thô nhằm thu hồi triệt để lượng tinh bột trong bã. Còn dịch sữa tinh bột lọt qua vải lọc để đưa đi tách dịch bào lần 2.
Trong quá trình này người ta vẫn cho nước vào lien tục để hiệu chỉnh nồng độ từ 4 – 10 Be

7. Tách dịch bào lần 2:
Từ thùng chứa sau khi tách bã tiknh, dịch sữa bột được bơm qua 2 máy phân ly 1 và 2 để tách dịch bào lần 2. Trước khi vào máy, dịch sữa bột đi qua 2 cyclone để tách cặn bã và bụi đất với tốc độ quay của máy là 4500 vòng/phút, tinh bột sẽ đi xuống phía dưới và nước thải đi phía trên ra ngoài.
Trong công đoạn này ta tiếp tục cho nước vào để điều chỉnh nồng độ 8 – 14 Be, pH= 6,0-6,5, lưu lượng nước vào 5m3/h

8. Tách xác lần cuối:
Sau khi tách dịch bào lần 2 xong, dịch sữa bột chảy xuống thùng chứa và được bơm đến thiết bị tách bã mịn để tách phần bã còn lại. Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của thiết bị phân ly giống ở phần tách xác thô và xác tinh nhưng chỉ khác là lớp vải lọc bên trong có kích thước lỗ vải nhỏ hơn, chỉ cho tinh bột đi qua còn phần bã mịn được giữ lại thoát ra ngoài cùng với bã thô qua khu chiết ép kiệt.
Lượng bã thô, tinh và mịn được đưa đến thiết bị tách xác tận dụng dịch sữa thu được ở đây có nồng độ tinh bột thấp được bơm về phục vụ cho máy mài.
   Còn phần bã đi ra phía ngoài ta thu dc bã ướt nếu ở thiết bị ống kép hoặc đến thiết bị ép băng thu dc bã thô.

9. Ly tâm tách nước:
Sữa tinh bột thuần khiết sau khi chiết đạt nồng độ khoảng 18-22 Be sẽ được bơm qua máy ly tâm vắt tách bớt nước để thu tinh bột. Phần nước dịch lọt qua vải và lưới lọc của máy ly tâm có hàm lượng tinh bột thấp, nhưng chứa 1 hàm lượng tinh bột nên được đưa vào máy mài để thu hồi lượng tinh bột và tiết kiệm được nguồn nước. Tinh bột thu được sau ky tâm có độ ẩm 31-34%

10. Sấy và làm nguội
10.1 Quá trình sấy
Tinh bôt ướt thu được từ máy ly tâm được băng tải đưa sang vít tải. Vít tải vừa có tác dụng chuyển tinh bột vừa có tác dụng làm tơi tinh bột ướt, nhằm tạo điều kiện cho quá trình làm khô dễ dàng. KHi vào ống làm khô nhanh, tinh bột ướt sẽ được cuốn theo luồng khí nóng và chuyển động dọc theo chiều dài của ống làm khô nhanh để đến cyclone tách tinh bột. Trong quá trình chuyển động đó, một lượng ẩm của tinh bột sẽ được tách ra làm giảm độ ẩm tinh bột xuống.
Để đạt được điều này thì cần phải kéo dài đường chuyển động của hỗn hợp bột và khí.
   Sau khi qua các cyclone để tách tinh bột, tinh bột sẽ rơi vào máng góp bên dưới các cyclone được vít tải và định hướng đưa sang làm nguội.
10.2 Quá trình làm nguội:
   Sauk hi làm khô nhanh, tinh bột sẽ được quạt hút của hệ thống làm nguội sang các cyclone làm nguội để tiếp tục tách một phần ẩm còn lại, đồng thời hạ nhiệt độ của tinh bột thành phẩm xuống 33-350C, với độ ẩm 10-12%

11. Rây và đóng bao
   Đảm bảo kích thước và đồng nhất của tinh bột nhắm làm tăng chất lượng và giá trị cảm quan của thành phẩm. Bột thành phẩm sau khi làm khô và làm nguội xong cần phải cho vào bao kín bảo quản ngay vì bột dễ hút ẩm và nhiễm mùi.
   Việc đóng bao còn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo quản và vận chuyển


Đơn giản, chúng ta là H2VN

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
    • Email
Re: Công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Một 11, 2008, 08:50:42 AM »
Ở trên mình đã trình bày về công nghệ sản xuất trong công nghiệp rồi. Trong bài này mình xin giới thiệu cho các bạn cách làm thủ công. Rất rẻ tiền và đơn giản để thực hành thử, chỉ cấn 1 bàn nạo, 1 miếng vải lọc, 2 cái thau ( chậu) và nguyên liệu khoai mì ( sắn):
trước tiên sắn các bạn bóc vỏ >>> rửa sạch với nước >>>> nạo cho vào thau 1>>>>vắt lấy dịch sữa vào thau 2>>>>đổ nước vào thau 1 chứa bã >>> khuấy đều và vắt lấy dịch cho vào thau 2>>> cho nước vào và vắt lần nữa>>>> để cho bột lắng>>> chắt nước ở trên đi ( nước lúc này có màu vàng là do nhựa sắn tiết ra)>>>> cho nước mới vào>>> khuấy đều và để lắng>>> làm lại vài lần cho nước trong>>> sau đó chắt hết nước và đem phần bột vào khay và đi phơi >>> thế là xong
vậy là các bạn đã làm được 1 sản phẩm rồi đó. Chúc thành công. Bạn nào làm ra sản phẩm thì thông báo cho mình nha. Thân


Đơn giản, chúng ta là H2VN

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
    • Email
sản xuất sản phẩm từ sắn
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Một 18, 2008, 08:13:37 AM »
Sắn được sử dụng làm thức ăn cho người và gia súc, có thể được sử dụng trực tiếp hay thông qua các quá trěnh chế biến. Sắn có thể chế biến bằng phương pháp thủ công. Dưới đây lŕ một số phương pháp chế biến bảo quản sắn.
1.Chế biến và bảo quản sắn lát:
a. Thái lát:
- Làm cầu thái lát bằng một lưỡi dao bài mỏng và dài hơn một gang tay. Tay trái đặt và giữ củ sắn đứng trước lưỡi dao. Tay phải kéo thanh gạt cho củ sắn ngập vào lưỡi dao, cắt thành lát.
- Sử dụng bàn thái lát quay tay có 4-5 lưỡi dao để giảm nhẹ sức lao động vŕ tăng năng suất thái lát.
b. Phơi khô:
- Trước khi phơi, nếu sắn được rửa thě lát sắn khô sẽ trắng. Tůy quy mô sản xuất và điều kiện cụ thể mà phơi sắn... Rải sắn thành một lớp trên sàn phơi. Tốt nhất là nên dùng sân xi măng, nong, nia, phên, cót để phơi sắn.
- Phơi sắn khi trời nắng. Ngày phơi, tối nên cất để tránh sương làm giảm chất lượng sản phẩm.
- Trời mưa, đưa sắn vŕo mái che và hong gió. Sắn càng chóng khô nếu có gió hoặc phơi trên sàn cao.
- Phơi trong điều kiện không thuận lợi thě sản phẩm dễ bị giảm chất lượng.
- Sắn lát chớm mốc phải rửa sạch và phơi khô.
c. Để nguội: Sau phơi khô sắn phải để nguội rồi mới đem cất trữ.
d. Bảo quản: Cho sắn đă nguội vŕo dụng cụ bảo quản như chum, vại, thùng kim loại hoặc bao ni lông nhiều lớp kín và có biện pháp phòng chống chuột, gián cắn phá. Nếu số lượng lớn, có thể quây cót tráng nhựa đường và dán giấy xi măng làm dụng cụ bảo quản, nếu bảo quản tốt có thể giữ sắn lát trong 8-9 tháng. Thường 3 kg sắn củ tươi cho 1 kg sắn lát khô.
2. Chế biến và bảo quản sắn củ khô (sắn gạc nai)
- Nếu làm thực phẩm thì cạo vỏ ngoài (vỏ gỗ).
- Phơi hoặc sấy sắn nguyên củ
- Xếp bảo quản trên giàn bếp.
3. Chế biến và bảo quản tinh bột sắn ướt:
a. Mài xát sắn thành cháo bột: Có thể dùng các dụng cụ khác nhau để mài sát sắn thành cháo bột.
- Dùng hai tay mài sát củ sắn trên bàn mài sát sắn thủ công có tấm kim loại đột gai. Năng suất 5-7 kg/giờ.
- Sử dụng bàn xát sắn tay quay có tấm kim loại đột gai gắn tręn trục quay. Chậu hứng cháo bột có nước ngập mặt dưới của tấm kim loại đột gai để lŕm sạch mặt mài. Năng suất khoảng 10-15 kg/giờ.
- Để tăng năng suất důng máy xát sắn đạp chân như máy tuốt lúa. Tay răng tuốt lúa bằng tấm kim loại đột gai. Chiều dŕi trực sát chỉ khoảng 15-20 cm tay để vừa sức chân đạp. Hạ nghięng bàn đưa lúa để dẫn củ sắn vŕo mặt mài. Máy xát sắn đạp chân có thể đạt năng suất 100 kg/giờ.
- Nếu có động cơ kéo thě trục gỗ có đóng đinh cứng, nhỏ thay cho tấm kim loại đột gai. Máy xát sắn có động cơ đạt năng suất 300-500 kg/giờ.
b. Lọc bã:
- Cứ một phần cháo bột dùng bốn phần nước để lọc bỏ bã sắn. Vải lọc càng mịn thì tinh bột sắn thu được càng đẹp. Vải lọc được căng thŕnh vỏ hoặc may thành túi cho dễ lọc. Tinh bột cùng với nước lọt qua vải lọc tạo thành dịch bột. Hứng dịch bột vào bể lắng.
- Bã sắn dùng làm nguyên liệu thức ăn gia súc, gia cầm.
c. Lắng thu hồi tinh bột: - Đơn giản có thể důng ni lông lót trong sọt thô để lắng. Nếu ít, có thể důng chậu lắng, rửa tinh bột.
- Bể lắng có dạng nằm, rộng đáy, không quá cao. Nếu lŕ bể chuyên dùng để chế biến tinh bột sắn, cần có vòi xả cách đáy 10-15 cm. Lắng bột ít nhất 12 giờ (thường để lắng qua đęm), khi bột đă lắng chắc dưới đáy bể, důng ống cao su, ống nhựa hoặc vòi xả để gạn nước trên bề mặt bột. Khi gạn nước không làm xáo động tinh bột.
- Dùng nước sạch để rửa bề mặt tinh bột. Nước rửa bề mặt bột được pha vŕo dịch bột của mẻ sau nhằm tận thu bột. Sau đó, xúc tinh bột ra để bảo quản.
- 2,5-3 kg củ sắn tươi cho 1 kg tinh bột ướt. Tỷ lệ tinh bột thu được phụ thuộc nhiều vŕo mức mịn của cháo bột, kỹ thuật lọc bã và thao tác gạn lắng tinh bột.
d. Bảo quản tinh bột ướt:
- Tinh bột ướt được bảo quản bằng ang, chum, vại, bể, túi ni lông. Cŕng giữ kín càng bảo quản tinh bột được lâu.
- Nếu số lượng lớn, đựng tinh bột ướt trong túi ni lông rồi chôn kín dưới đất để bảo quản gối vụ.
e. Phương pháp ngâm củ sắn tươi để chế biến bột sắn: ở những nơi sẵn nguồn nước, có thể chế biến bột sắn bằng cách ngâm củ sắn tươi dưới nước 10-15 ngày đến khi của sắn mềm. Sau đó, vớt củ đem phơi khô vŕ bảo quản nơi khô ráo. Khi sử dụng thì bóc vỏ, lấy bột bên trong.
4. Chế biến và bảo quản tinh bột sắn khô
- Phơi tinh bột ướt thành tinh bột khô
- Cần có nong nia, phơi tinh bột cho sạch.
- Khi phơi cần tránh bụi. Phơi cho tinh bột khô, tơi.
- Bảo quản tinh bột sắn khô bằng dụng cụ kín (thùng, túi nilông, chum, vại)
- Bảo quản tốt, chất lượng tinh bột bảo đảm tới một năm.
Nguồn: Bảo quản, chế biến lương thực - thực phẩm và rau quả/Tài liệu phổ biến khoa học kỹ thuật/Sở Khoa học&Công nghệ tỉnh Cao Bằng, Số 1/2004, tr.39 - 45


Đơn giản, chúng ta là H2VN

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
    • Email
Re: Công nghệ sản xuất tinh bột khoai mì
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Một 22, 2008, 01:04:43 AM »
Chế biến và bảo quản tinh bột sắn ướt

 a) Mài xát sắn thành cháo bột

Có thể dùng các dụng cụ khác nhau đề mài xát sắn thành cháo bột. Dùng hai tay mài sát củ sắn trên bàn mài xát sắn thủ công có tấm kim loại đột gai. Năng suất 5 - 7 kg/giờ. Sử dụng bàn xát sắn tay quay có tấm kim loại đột gai gắn trên trục quay. Chậu hứng cháo bột có nước ngập mặt dưới của tấm kim loại đột gai để làm sạch mặt mài. Năng suất khong 10 - 15 kg/giờ

- Để tăng năng suất dùng máy xát sắn đạp chân như máy tuốt lúa.Tay răng tuốt lúa bằng tấm kim loại đột gai: Chiều dài trục sát chỉ khong 15 -20 cm tay để vừa sức chân đạp. Hạ nghiêng bàn đưa lúa để dẫn củ sắn vào mặt mài. Máy xát

sắn đạp chân có thể đạt năng suất 100 kg/giờ.

- Nếu có động co kéo thì trục gỗ có đóng đinh cứng, nhỏ thay cho tấm kim loại đột gai. Máy xát sắn có động cơ đạt năng suất 300 - 500 kg/giờ.

b) Lọc bã

- Cứ một phần cháo bột dùng bốn phần nước để lọc bỏ bã sắn. Vi lọc càng mịn thì tinh bột sắn thu được càng đẹp. Vi lọc được căng thành vỏ hoặc may thành túi cho dễ lọc. Tinh bột cùng với nước lọt qua vi lọc tạo thành dịch bột. Hứng dịch bột vào bể lắng.

- Bã sắn dùng làm nguyên liệu thức ăn gia súc, gia cầm.

c) Lắng thu hồi tinh bột

Đơn giản có thể dùng ni lông lót trong sọt thồ để lắng. Nếu ít, có thể dùng chậu lắng, rửa tinh bột.

- Bể lắng có dạng nằm, rộng đáy, không quá cao. Nếu là bể chuyên dùng để chế biến tinh bột sắn, cần có vòi xa cách đáy 10 - 15 cm. Lắng bột ít nhất 12 giờ (thường đề lắng qua đêm), khi bột đã lắng chắc dưới đáy bể, dùng ống cao su ống nhựa hoặc vòi x để gạn nước trên bề mặt bột. Khi gạn nước không làm xáo động tinh bột.

- Dùng nước sạch để rửa bề mặt tinh bột. Nước rửa bề mặt bột được pha vào dịch bột của mẻ sau nhằm tận thu bột. Sau đó, xúc tinh bột ra để bo qun. 2,5 - 3 kg củ sắn tưi cho 1 kg tinh bột ướt. Tỷ lệ tinh bột thu được phụ thuộc nhiều vào mức mịn của cháo bột, kỹ thuật lọc bã và thao tác gạn lắng tinh bột.

d) Bảo quản tinh bột ướt

Tinh bột ướt được bảo quản bằng ang, chum, vại, bể, túi ni lông. Càng giữ kín càng bo qun tinh bột được lâu.

- Nếu số lượng lớn, đựng tinh bột ướt trong túi ni lon rồi chôn kín dưới đất để bo qun gối vụ.

e) Phương pháp ngâm cả sắn tưoi để chế biến bột sắn ở những noi sân nguồn nước, có thể chế biến bột sắn bằng cách ngâm củ sắn tưi dưới nước 10 - 15 ngày đến khi củ sắn mềm. Sau đó, vớt củ đem phi khô và bảo quản nơi khô ráo. Khi sử dụng thì bóc vỏ, lấy bột bên trong.

Chế biến và bảo quản tinh bột sắn khô

 - Phơi tinh bột ướt thành tinh bột khô.

- Cần có nong nia, phơi tinh bột cho sạch.

- Khi phơi cần tránh bụi. Phơi cho tinh bột khô, tơi.

- Bảo quản tinh bột sắn khô bằng dụng cụ kín (thùng, túi ni lông, chum, vại).

- Bảo quản tốt, chất lượng tinh bột bảo đảm tới một năm.

Từ sắn người ta chế biến ra các sản phẩm khác nhau ngoài tinh bột. Đó là: Tapioca (Hạt trân châu), Glucose, Mantose, Ethanol...., và người ta sử dụng một số sinh vật mà cụ thể là nấm Aspergilus fumigatus, A. neger nuôi trên môi trường giàu Carbohydrate là sắn để thu được sn phẩm giàu protein (từ 20% đến 27% trong chất khô) dùng trong chăn nuôi.



Đơn giản, chúng ta là H2VN

Offline china

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 5
    • Email
dây chuyền sản xuất bột mì
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Một 28, 2008, 10:15:42 PM »
Mình đang làm đồ án về bột mì,có ai biết dây chuyền công nghệ sản xuất bột mì không giúp mình zới.
KHI TA Ở ĐẤT LÀ NƠI TA Ở
KHI TA ĐI ĐẤT BỖNG HÓA TÂM HỒN

Offline ngocnguyen

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 6
Tinh bột biến tính
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Hai 01, 2008, 02:05:50 PM »
Xin các  bạn giải thích thêm cho tôi về tinh bột "biến tính"

Offline pani

  • Moderator
  • Yêu... Hóa học
  • *****
  • Bài viết: 83
    • Email
Re: Tinh bột biến tính
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Hai 01, 2008, 09:09:45 PM »
Tinh bột biến tính là tinh bột đã qua xử lí bằng biện pháp vật lí hoặc hóa học để đều chỉnh tính chất của tinh bột thành dạng phù hợp với yêu cầu sử dụng .

 

Bác sĩ trực tuyến tu dien thuoc

drug dictionary thuocsi.com umeken beautiful places in the world trathuoc.com

Tư vấn