Tháng Chín 03, 2010, 01:05:55 PM
46195 Bài viết - 2445 Chủ đề - 33901 Thành viên

Tác giả Chủ đề: Kiến thức về hợp chất thiên nhiên  (Đọc 17697 lần)

0 Thành viên và 7 Khách đang xem chủ đề.

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: Tinh dầu Việt Nam
« Trả lời #30 vào lúc: Tháng Năm 01, 2009, 07:53:04 PM »
3. HỌ ANNONACEAE (HỌ MÃNG CẦU)
3.1 NGỌC LAN TÂY (CÔNG CHÚA, YLANG YLANG)

Tên khoa học: Cananga odorata (Lamb.) Hook.f & Thoms
Phân bố: cây thường được trồng quanh nhà hay trong công viên
Bộ phận cho tinh dầu: hoa
Thành phần hóa học: linalol; benzoat benzil; farnesol; safrol; eugenol; geraniol; Caryophyllen ..
Công dụng: được sử dụng trong công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm, nước hoa,...




Tinh dầu Ngọc lan tây



Wikipedia
Hoàng lan hay ngọc lan tây, ylang-ylang hoặc Ylang công chúa (danh pháp khoa học: Cananga odorata), là một loài cây thân gỗ trong Chi Công chúa (Cananga). Loài cây này có thể có độ cao trung bình khoảng 12 m, phát triển tối đa khi được trồng tại nơi có nhiều nắng, và nó ưa thích các loại đất chua tại khu vực nguồn gốc của nó là các rừng mưa. Vỏ cây màu xám trắng; nhánh ngang hay thòng, mang lá song đính, không lông. Lá của nó dài, trơn và bóng loáng. Hoa có màu vàng ánh lục hoặc hồng, quăn như sao biển, và có tinh dầu có mùi thơm rất mạnh, nở từ tháng 11 đến tháng 12. Mỗi hoa cho ra một chùm quả, mỗi chùm quả chứa 10 - 12 hạt, giống như hạt na.

Tên gọi ylang-ylang có nguồn gốc từ tiếng Tagalog ilang-ilang, có nghĩa là "hoa của các loài hoa" mà không phải là để nói bóng gió tới mùi thơm dễ chịu của hoa hoàng lan.

Mùi thơm của hoa hoàng lan vừa nồng và đậm với các dấu vết của hoa cây cao su và món sữa trứng, đồng thời lại rực rõ với dấu vết của của hoa nhài và tinh dầu cam đắng (Citrus aurantium thứ amara hay Bigaradia). Tinh dầu hoa hoàng lan thu được bằng cách chưng cất nhờ hơi nước và tách ra thành các cấp khác nhau (extra; 1; 2; 3) tương ứng với việc chưng cất vào khi nào. Thành phần chính tạo ra mùi thơm của hoàng lan là mêtyl anthranilat.

Tinh dầu hoàng lan được dùng trong điều trị bằng xoa bóp dầu thơm, người ta tin rằng nó có thể làm giảm huyết áp cao, điều tiết các chất bã nhờn đối với các vấn đề về da, và cho rằng nó có tác dụng kích thích tình dục. Tinh dầu hoàng lan cũng được dùng rộng rãi trong công nghiệp sản xuất nước hoa theo phong cách phương Đông. Mùi hoàng lan pha trộn khá tốt với phần lớn các loại mùi cây cỏ, hoa quả và gỗ. Tại Indonesia, hoa hoàng lan được rải trên giường cưới của các đôi tân hôn.

Tinh dầu hoàng lan chiếm tới 29% xuất khẩu hàng năm của Comoros (số liệu năm 1998).
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: Tinh dầu Việt Nam
« Trả lời #31 vào lúc: Tháng Năm 01, 2009, 08:05:27 PM »
4. HỌ APIACEAE (HỌ NGÒ, HOA TÁN)
4.1 THÌ LÀ

Tên khoa học: Anethum graveolens Linn
Phân bố: cây nhập, trồng chủ yếu lấy cành lá làm gia vị. Hiện nay được trồng phổ biến ở Đà Lạt (Lâm Đồng)
Bộ phận cho tinh dầu: lá, hạt (2,5-4%)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu lá:
limonen (19,2%); 1-phelandren (27,3%); phelandren (8,9%); dilapiol (6,1%)
+ Tinh dầu hạt: limonen (5,7%); 1-phelandren (25,0%); phelandren (25,%); dilapiol (19,1%); carvon (25,4%);...



Wikipedia
Thì là chứa nhiều Vitamin C và chất xơ. Gần đây người ta còn cho rằng thì là có chứa một họat chất oxy hóa cực mạnh có thể giúp ngăn ngừa bệnh ung thư. Tuy nhiên nghiên cứu trên mới chỉ giới hạn trên động vật, chưa được thử nghiệm trên con người.

Theo Đông y, thì là có tính nóng, giúp quân bình và điều hoà khí âm dương, điều hoà thể trọng, giảm đau, giúp tiêu hóa và giúp sản phụ có nhiều sữa. [cần dẫn nguồn]

Ở Việt Nam nhất là ở các vùng phía Bắc, thì là được xem là gia vị không thể thiếu khi nấu các món canh cá nhất là các loài cá da trơn và có mùi tanh đậm.

Tinh dầu thì là được chưng cất chủ yếu từ hạt, được bán rộng rãi và được ưa chuộng dùng để xông hương, tạo ẩm, đặc biệt là pha vào nước để tắm, gội vì được cho rằng sẽ làm da và tóc mượt mà hơn...

Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: Tinh dầu Việt Nam
« Trả lời #32 vào lúc: Tháng Năm 01, 2009, 08:31:18 PM »
4.2 BẠCH CHỈ HÀNG CHÂU
Tên khoa học: Angelica dahurica (Hoofm.) Benth. & Hook.
Phân bố: cây nhập, trồng ở cả miền núi và đồng bằng
Bộ phận cho tinh dầu: rễ
Thành phần hóa học: β-pinen; mircen; α-phelandren; ∆3-caren, α-terponen; p-cimen; β-phelandren; α-terpinen; terpinolen; α-pinen; camphen; 4-vinilguaicol; β-elemen; cariophilen,...



http://www.thaythuoccuaban.com/vithuoc/bach%20chi.htm

Vị thuốc bạch chỉ còn gọi Bách chiểu, Chỉ hương, Cửu lý trúc căn, Đỗ nhược, Hòe hoàn, Lan hòe, Linh chỉ, Ly hiêu, Phương hương (Bản Kinh), Thần hiêu (Hòa Hán Dược Khảo), Bạch cự (Biệt Lục), Phù ly, Trạch phần (Ngô Phổ Bản Thảo), An bạch chỉ, Hàng bạch chỉ, Vân nam ngưu phòng phong, Xuyên bạch chỉ (Trung Dược Đại Từ Điển), Hưng an bạch chỉ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ  Điển), Hàng bạch chỉ, Hương bạch chỉ, Xuyên bạch chỉ   (Đông Dược HọcBạch chỉ, bachchi, bach chi,Angelica Dahurica Benth Thiết Yếu)

4.3 ĐƯƠNG QUY
Tên khoa học: Angelica sinensis (Oliv) Diels
Phân bố: cây được nhập vào trồng ở nước ta vào những năm 60. Hiện nay cây phát triển ở nhiều nơi.
Bộ phận cho tinh dầu: Rễ (0,15-0,2%)
Thành phần hóa học: p-cimen (4,2%); γ-terpinen; oxid linalil; linalol (2,3%); terpinen-4-ol (1,2%); α-terpineol (1,1%); acetat dodecil (4,5%); eugenol; timol;...



4.4 CẦN TÂY
Tên khoa học:
Apium graveolens Linn
Phân bố: cây mọc hoang dại, cũng được trồng để làm gia vị
Bộ phận cho tinh dầu: phần trên mặt đất (0,1%), trái (2-6%)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu trái:
limonen (72,2%); β-selinen (12,2%);...
Công dụng: tinh dầu làm hương liệu trong công nghiệp thực phẩm





Tham khảo:
Trần Thị Phụng, Lê Ngọc Thạch, Lê Thanh Hải. Khảo sát tinh dầu cây cây cần tàu, Apium graveolens L.. Tóm tắt báo cáo, Hội nghị Khoa học Đại học Khoa học Tự nhiên lần thứ 4, 21/10/2004, 147 (2004).
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: Tinh dầu Việt Nam
« Trả lời #33 vào lúc: Tháng Năm 01, 2009, 10:37:28 PM »
4.5 NGÒ (MÙI)
Tên khoa học: Coriandrum sativum Linn
Phân bố: được trồng khắp nơi để lấy lá làm gia vị, lấy cành, quả và hoa nấu nước tắm cho thơm.
Bộ phận cho tinh dầu: lá; trái (0,4-2%)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu trái:
d-linalol (55-74%); coriandrol; oxid linalil; α-terpineol; citronelol;...
+ Tinh dầu lá: decanal; nonanal; linalol
Công dụng: tinh dầu là nguồn cung cấp linalol



Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: Tinh dầu Việt Nam
« Trả lời #34 vào lúc: Tháng Năm 02, 2009, 08:18:23 AM »
4.6 CÀ RỐT
Tên khoa học:
Daucus carota Linn
Phân bố: cây nhập, trồng từ lâu để lấy củ ăn
Bộ phận cho tinh dầu: phần trên mặt đất, trái (0,8-1,6%)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu phần trên mặt đất:
sabinen (10,9%); mircen (7,5%); elemincin (3,0%); carvon (8,8%); bíabolen (7,4%); linalol (14,9%); acetat linalil (8,3%),...
+ Tinh dầu trái: carotol, daucol; β-bisabolen
Công dụng: tinh dầu có tính sát khuẩn mạnh





4.7 NGÒ GAI
Tên khoa học:
Eryngium foetidum Linn
Phân bố: cây mọc hoang dã khắp nơi, nhiều ở vùng ẩm mát, vùng đồi núi. Còn được trồng phổ biến để làm gia vị.
Bộ phận cho tinh dầu: phần trên mặt đất (0,087-0,11%)
Thành phần hóa học: dodecenal (4%); trán-2-dodecenal (66,7%); 1-dodecanol (7,6%),..



Wikipedia
Mùi tàu hay ngò gai hoặc ngò tây (phương ngữ miền Nam), tên khoa học là Eryngium foetidum, thuộc họ Hoa tán. Cây này có nguồn gốc ở châu Mỹ.

Ngò gai là cây cỏ thấp, có thân đơn độc, chia cành ở ngọn, hoa quả mọc ở cành. Lá mọc ở gốc, xoè ra hình hoa thị. Lá hình mác thuôn dài, bìa có răng cưa nhỏ. Hoa tự, hình đầu, hình bầu dục, hoặc hình trụ. Khi trưởng thành, hạt rụng và phát tán.

Lá ngò gai có mùi thơm dễ chịu. Trong bát phở có lá ngò tươi giúp ăn ngon miệng. Trong nồi canh chua nấu cá có lá ngò làm mất mùi tanh. Người có bệnh đái tháo đường được cho là nên ăn lá ngò trong bữa ăn vì lá ngò gai có tác dụng làm giảm đường huyết.



4.8 TIỂU HỒI
Tên khoa học:
Foeniculum vulgare Linn
Phân bố: cây nhập nhưng không phát triển mạnh
Bộ phận cho tinh dầu: lá, hoa, trái (0,5-0,6%)
Thành phần hóa học:
+ Tinh dầu lá:
eugenol
+ Tinh dầu hoa: eugenol
+ Tinh dầu trái: anetol (50-60%); estragol; camphen; metileugenol


eugenol

anetol

estragol
Estragol hay p-allylanisol hoặc mêtyl chavicol là một hợp chất hữu cơ nguồn gốc tự nhiên. Cấu trúc hóa học của nó bao gồm một vòng benzen được thay thế bởi một nhóm mêtôxy và một nhóm prôpenyl. Estragol là đồng phân liên kết đôi của anethol. Ở điều kiện bình thường, nó là một chất lỏng từ không màu tới vàng nhạt. Nó là thành phần chủ yếu của tinh dầu ngải giấm và chiếm từ 60-75% tinh dầu của cây này. Nó cũng được tìm thấy trong tinh dầu thông và nhựa thông.
Estragol được sử dụng trong sản xuất nước hoa và phụ gia thực phẩm để tạo mùi.


Camphen
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: Tinh dầu Việt Nam
« Trả lời #35 vào lúc: Tháng Năm 02, 2009, 08:33:05 AM »
4.8 CẦN
Tên khoa học:
Oenanthe javanica DC
Phân bố: Cây mọc hoang dại nơi ẩm mát và thường được trồng làm gia vị
Bộ phận cho tinh dầu: toàn cây, hạt
Thành phần hóa học: phelandren







4.10 KHỒM
Tên khoa học:
trachyspermum roxburghianum (DC.) Craib
Phân bố: cây mọc hoang dại nhiều nơi ở các tỉnh phía Bắc vào đến Khánh Hòa
Bộ phận cho tinh dầu: hạt
Thành phần hóa học: d-limonen; α-terpinen; dipenten; d-linalol; terpineol; dl-piperiton; timol;...


Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: Tinh dầu Việt Nam
« Trả lời #36 vào lúc: Tháng Năm 03, 2009, 10:51:15 AM »
5. HỌ ARACEAE (HỌ MÔN)
5.1 XƯƠNG BỒ (THẠCH XƯƠNG HỒ)

Tên khoa học: Acorus verus Houtt
Đồng danh: Acorus calamus Linn.var.angustatus Boss
Phân bố: cây mọc dại hoặc trồng ở nhiều vùng nông thôn trong nước: Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Trị, Lâm Đồng,...
Bộ phận cho tinh dầu: căn hành (1,4-4,8%)
Thành phần hóa học: camphor; cis-metilisoeugenol (15,3%); α-asaron(2,8%); β-asaron (82,1%);...

5.2 THẠCH XƯƠNG BỒ NHỎ
Tên khoa học: Acorus gramineus Soland
Phân bố: cây mọc hoang dại ở các bờ suối, trên kẽ đá có nước chảy vùng trung du miền Bắc. Ở miền Nam cũng có gặp những ít hơn.
Bộ phận cho tinh dầu: căn hành (1,0-2,2%)
Thành phần hóa học: α-asaron; β-asaron; aluzen; camphen; borneol; camphor; cis-metil isoeugenol; δ-cadien;...
Công dụng: tinh dầu giúp trừ hen, trừ co thắt phế quán và hồi tràn (trên chuột)

5.3 THIÊN NIÊN KIỆN
Tên khoa học:
Homalomena occulta (Lour.) Schoot.
Phân bố: cây ưa ẩm, ưa bóng mát, sống trong các rừng ẩm, chân núi đá vôi, ở dưới bóng cây khác. Gặp ở nhiều nơi trong nước ta.
Bộ phận cho tinh dầu: căn hành (0,8-1%, phơi héo)
Thành phần hóa học: linalol (56,8%); 4-terpinenol; aldehid propionic; aldehid butiric; 3-caren; sabinen; limonen; α-terpinen; β-terpinen; α-terpineol; γ-terpineol;...

http://forum.ctu.edu.vn/viewtopic.php?t=6023&sid=65d5c222eda1d5f74e9bbd0fc3028ff0

Họ Ráy Araceae có khoảng 150 loài ở VN trong đó có nhiều loài được nhập trồng làm kiểng. Họ này gồm những cây thảo có thân rễ hình củ, thân nạc hoặc dây leo bám. Hoa có dạng mo đặc trưng.

Sau đây là một số loài thông thường :

1. Acorus verus Houtt. : Thạch xương bồ, Bồ bồ
Cây trồng làm thuốc trong nồi lá xông



2. Aglaodorum griffithii (Schott.) Schott. : Mái dầm
Cây rất thường gặp mọc hoang dại ven bờ sông vùng có thủy triều



hoa



3. Aglaonema communtatum Schott. cv. pseudobracteatum Hort. : Minh ty trắng
Cây trồng kiểng



4. Aglaonema costatum (Nutt.) N.E. Brown. : Minh ty sóng
Cây trồng kiểng


(Hình này không chắc chắn là loài Minh ty này hay không)

5. Aglaonema hybrid : Minh ty rằn
Loài này không rõ tên Latin, rất gần với Aglaonema siamense Engl., thấy mấy trang web khác ghi là loài lai (hybrid)



6. Alocasia macrorrhiza (L.) Schott. : Ráy voi



hoa



7. Alocasia odora (Roxb.) C. Koch : Môn Bạc hà, Dọc mùng
Cây trồng lấy bẹ lá nấu canh chua



8. Amorphophallus konjac K. Koch : Nưa, Khoai nưa
Cây này đặc biệt có thân lốm đốm loang lổ trông giống da con trăn



9. Anthurium andreanum Lindl. : Hồng môn, Vĩ hoa tròn
Loài hoa kiểng trồng nhiều ở Đà Lạt



màu hồng


10. Anthurium scherzerianum Schott. : Vĩ hoa thon, Hồng môn (vặn)



11. Caladium bicolor (Ait.) Vent. : Môn đốm



12. Colocasia esculenta (L.) Schott. : Môn nước, Khoai môn



13. Dieffenbachia amoena Hort. : Môn trường sinh



15. Epipremnum pinatum (L.) Schott. : Ráy ngót, Ráy leo lá rách



hoa



16. Epipremnum pinatum (L.) Engler cv. aureum Nichol. : Trầu bà vàng



có loại lá rất lớn


17. Lasia spinosa (L.) Thw. : Chóc gai
Cây mọc hoang dại ven bờ nước, có 2 loại
Loại lá xẻ



loại lá mác



hoa



18. Philodendron erubescens Koch et Augustin : Hồng diệp môn



hoa


19. Philodendron pinnatifidum (Jacq.) Schott. : Ráy Mỹ kiểng
Có 3 loài : P. bipinnatifidum, P. pinnatifidum, P. xanadu rất giống nhau theo như hình trên các trang web khác, đây là loài cây mới nhập trồng kiểng, không thấy mô tả trong các sách thực vật VN nên không rõ phân biệt ra sao



20. Philodendron sp. : Ráy Mỹ leo
chưa tìm được tên Latin



21. Pistia stratoides L. : Bèo cái



22. Pseudocracontium lacourii N.E. Br. : Nưa Lacour
Cây này tôi gặp khi đi chơi trên núi Nhỏ - Vũng Tàu, không nhằm mùa cây ra hoa



23. Scindapsus officinalis (Roxb.) Schott. : Dây Bá



24. Spathiphyllum patinii N.E. Br. : Buồm trắng, Bạch diệp, Bạch phiến



25. Syngonium macrophyllum Engl. : Chóc leo



hoa (mo đã héo)



26. Syngonium podophyllum Schott. var. “Imperial white” Hort. : Chóc bạc



27. Typhonium flagelliforme (Lodd.) Bl. : Bản hạ roi


chi tiết hoa xé ra



28. Typhonium trilobatum (L.) Schott. : Bản hạ 3 thùy, Chóc



29. Zamioculcas zamiifolia (G. Lodd.) Engler : Kim phát tài
Loài cây gốc Phi Châu nhập trồng làm kiểng, chịu được ánh sáng yếu trong nhà



30. Zantedeschia aethiopica (L.) Spreng : Arum, Vân môn, Hoa kèn
thông thường là loài có hoa màu trắng



có loài hoa màu vàng, màu hồng




Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
« Trả lời #37 vào lúc: Tháng Năm 05, 2009, 08:40:50 AM »
Sả còn có tên gọi: Cỏ sả, lá sả, sả chanh, hương mao.
Tên khoa học: Cymbopogon Citratus (DC) Stapf, thuộc họ lúa – Poaceae. Chi Sả(danh pháp khoa học: Cymbopogon) là một chi chứa khoảng 55 loài
Phân loại khoa học:
Giới (regnum):Plantae
Ngành (divisio):Magnoliophyta
Lớp (class): Liliopsida
Bộ (ordo):  Poales
Họ (familia): Poaceae
Chi (genus): Cymbopogon
Cymbopogon nardus Rendl (Sả), cymbopogon flexuosus Stapf (Sả chanh), ngoài ra còn có loại sả chanh Pragatti có nguồn gốc từ Ấn Độ (hiện Trung tâm y tế huyện An Lão (Bình Định) có trồng 3 ha loại sả chanh này, có bụi nặng trên 3kg để chưng cất lấy tinh dầu). Sả là loại cây sống lâu năm, mọc thành bụi cao từ 0,8-1,5m.
Ở vùng đất có độ ẩm cao, ráo, ít nước, sả có thể cao gần 2m. Thân, rễ màu trắng tím. Lá giống lá lúa. Cụm hoa có nhiều bông nhỏ không cuống. Toàn cây sả có mùi thơm rất đặc biệt. Sả trồng dùng làm thuốc ít phân biệt giống sả này với sả khác. Nhưng nếu chọn sả để cất tinh dầu, có hai giống sả cho tinh dầu đạt giá trị khác nhau.
1. Nhóm sả cho tinh dầu với thành phần chủ yếu là Citronellal và Genariola (citronnelle), trong nhóm này có loài Cymbopogon Winiterianus, Cymbopogon nardus (L) Rendl (Andropogon nardus L) hàm lượng tinh dầu cao và chất lượng tốt nhất, sau đó đến cây sả Cymbopogon confertiflorus Stapf cho ít tinh dầu hơn, chất lượng cũng kém hơn.
2. Nhóm sả cho tinh dầu với thành phần chủ yếu là Xitrala (Lemon Grass-Verveine des Indes) có mùi chanh rất rõ. Đứng đầu nhóm này là sảCymbopogon Flexuosus Stapf (Andropogon flexuosus Ness), sau đó đến loài Cymbopogon Citratus Stapf (Andropogon Schoenanthus L).
Ngoài hai nhóm này, còn có loại sả cho tinh dầu với thành phần khác hẳn, như sả Cymbopogon martinii (Roxb) Wats, loại motia cho tinh dầu gọi là Essence Palma rosa hay Gera nium des Indes, chứa tới 75-95% geraniola, còn loại Sofia cho một thứ tinh dầu không có geraniola mà chỉ có Ancol Perilic.
Cây sả rất phổ biến ở nước ta. Hiện đã có nhiều nơi đưa giống sả có năng suất lá cao và bông nhiều trồng đại trà để chưng cất tinh dầu, sử dụng trong nước và xuất khẩu. Sả phát triển tốt ở nơi đất xốp, thô, có độ ẩm cao, chịu mát và ít nước, mỗi tháng chỉ 2-3 lần tưới. Trồng sả đại trà phải đúng kỹ thuật, nếu trồng dày sẽ gây thiếu ánh sáng quang hợp, trồng thưa sẽ bị cỏ xâm lấn, hút hết “đạm” trong lòng đất, lá sả sẽ khô, còi, sâu, vàng úa. Cách trồng đem lại hiệu quả cao nhất là nên trồng hàng cách hàng 0,8m cây cách cây 0,7m.
1- CÁC LOẠI SẢ
   Cymbopogon ambiguus: sả Australia, cỏ hương chanh Úc (nguồn gốc Australia)
   Cymbopogon bombycinus: cỏ dầu lụa (nguồn gốc Australia)
   Cymbopogon citratus (đồng nghĩa: Andropogon citratus): sả, sả Tây Ấn, cỏ Ninh Mông, cỏ hương mao.
   Cymbopogon citriodora: sả Tây Ấn
   Cymbopogon exaltatus (đồng nghĩa Andropogon exaltatus): sả Úc
   Cymbopogon flexuosus (đồng nghĩa Andropogon flexuosus): sả Đông Ấn, cỏ hương mao, á hương mao Ấn Độ, cỏ Ninh Mông, hương thảo Ninh Mông
   Cymbopogon jwarancusa (đồng nghĩa: Andropogon jwarancusa): nê bạc nhĩ thảo (Trung Quốc)
   Cymbopogon jwarancusa x Cymbopogon nardus thứ confertiflorus (đồng nghĩa: Andropogon jwarancusa x Andropogon confertiflorus): cỏ mân khôi
   Cymbopogon martini (đồng nghĩa: Andropogon martini, Andropogon schoenanthus thứ martinii): cỏ mân côi, cỏ phong lữ, cỏ dầu Palmarosa
•   Cymbopogon martinii thứ martinii (đồng nghĩa: Cymbopogon martinii thứ motia): phong lữ Đông Ấn, cỏ phong lữ, phong lữ Thổ
•   Cymbopogon martinii thứ sofia: cỏ gừng
   Cymbopogon nardus (đồng nghĩa: Andropogon nardus, Cymbopogon afronardus, Cymbopogon validus): sả, á hương mao
   Cymbopogon obtectus Silky-heads (nguồn gốc Australia)
   Cymbopogon procerus (nguồn gốc Australia)
   Cymbopogon refractus (đồng nghĩa: Andropogon refractus): cỏ xà phòng
   Cymbopogon schoenanthus (đồng nghĩa: Andropogon schoenanthus): cỏ lạc đà, sả Madagascar
   Cymbopogon tortilis: og(k)arukaya (Nhật Bản)
   Cymbopogon winterianus: sả, hương mao Java, hương mao Nam Mỹ
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
« Trả lời #38 vào lúc: Tháng Năm 05, 2009, 08:41:56 AM »
1- Độ chín
Nguyên liệu được khảo sát khi củ sả căng mọng, màu xanh đậm ở lá. Thân cứng không mềm. Khi đó sả ổn định về lượng tinh dầu.
2- Độ tươi
Nguyên liệu bị khô, dập, úng,…sẽ cũng ảnh hưởng đến hàm lượng và chất lượng tinh dầu. Nên tránh để dồn đống nguyên liệu đưa đến sự phát nhiệt bên trong làm thối rữa nguyên liệu. Cần phơi héo nguyên liệu thích hợp, tốt nhất phơi héo trong bóng mát vì nếu nhiệt độ lên quá 400C một số cấu phần trong tinh dầu sẽ bay hơi.
Độ héo có ảnh hưởng rất lớn đến tính kinh tế của việc ly trích tinh dầu, nhất là trong phương pháp chưng cất bằng hơi nước. Nhưng độ héo cũng ảnh hưởng đến hàm lượng và chất lượng tinh dầu. Do đó, nếu để nguyên liệu héo trong một thời gian dài sẽ đưa đến giảm khối lượng tinh dầu chứa trong nguyên liệu. Mặt khác, việc này cũng sẽ dẫn đến một số cấu phần không bền trong tinh dầu bị phân hủy làm cho tinh dầu thu được không còn chất lượng tự nhiên. Do đó, trước khi ly trích tinh dầu, nguyên liệu cần được phơi héo, cần phải khảo sát hiệu suất và thành phần hóa học của tinh dầu theo thời gian để héo để biết cần để héo trong thời gian bao nhiêu lâu là thích hợp nhất.
3- Độ sạch
Nguyên liệu càng sạch thì chất lượng tinh dầu thu được càng cao. Do đó khi ly trích cần phải làm sạch, loại bỏ bẩn, các đối tượng không phải nguyên liệu cần ly trích ra khỏi nguyên liệu, không được để lẫn vào.

Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
« Trả lời #39 vào lúc: Tháng Năm 05, 2009, 08:44:26 AM »
1-  PHƯƠNG PHÁP CHƯNG CẤT HƠI NƯỚC
Phương pháp này dựa trên sự thẩm thấu, hòa tan, khuếch tán và lôi cuốn theo hơi nước của những hợp chất hữu cơ trong tinh dầu chứa các mô khi tiếp xúc với hơi nước ở nhiệt độ cao.
Sự khuếch tan sẽ dễ dàng khi tế bào chứ tinh dầu trương phồng do nguyên liệu tiếp xúc với hơi nước bão hòa trong một thời gian nhất định
1.1 Lý thuyết chưng cất
Chưng cất có thể được định nghĩa là: ”Sự tách rời các cấu phần của một hỗn hợp nhiều chất lỏng dựa trên sự khác biệt về áp suất hơi của chúng”. Trong trường hợp đơn giản, khi chưng cất một hỗn hợp gồm 2 chất lỏng không hòa tan vào nhau, áp suất hơi tổng cộng là tổng của hai áp suất hơi riêng phần. Do đó, nhiệt độ sôi của hỗn hợp sẽ tương ứng với áp suất hơi tổng cộng xác định, không tùy thuộc vào thành phần bách phân của hỗn hợp, miễn là lúc đó hai pha lỏng vẫn còn tồn tại. Nếu vẽ đường cong áp suất hơi của từng chất theo nhiệt độ, rồi vẽ đường cong áp suất hơi tổng cộng, thì ứng với một áp suất, ta dễ dàng suy ra nhiệt độ sôi tương ứng của hỗn hợp và nhận thấy là nhiệt độ sôi của hỗn hợp luôn luôn thấp hơn nhiệt độ sôi của từng hợp chất. Thí dụ, ở áp suất 760 mmHg nước sôi ở 100oC và benzen sôi ở 80oC và chúng là hai chất lỏng không tan vào nhau. Thực hành cho thấy, nếu đun hỗn hợp này dưới áp suất 760 mmHg nó sẽ sôi ở 69oC cho đến khi nào còn hỗn hợp hai pha lỏng với bất kì tỉ lệ nào. Giản đồ nhiệt độ sôi theo áp suất cho thấy, tại 69oC, áp suất hơi của nước là 225 mmHg và benzen là 535 mmHg.
Chính vì đặc tính làm giảm nhiệt độ sôi này mà từ lâu phương pháp chưng cất hơi nước là phương pháp đầu tiên dùng để tách tinh dầu ra khỏi nguyên liệu thực vật.
1.2- Những ảnh hưởng chính trong sự chưng cất hơi nước
Sự khuếch tán
Ngay khi nguyên liệu được làm vỡ vụn thì chỉ có một số mô chứa tinh dầu bị vỡ và cho tinh dầu thoát tự do ra ngoài theo hơi nước lôi cuốn đi. Phần lớn tinh dầu còn lại trong các mô thực vật sẽ tiến dần ra ngoài bề mặt nguyên liệu bằng sự hòa tan và thẩm thấu. Von Rechenberg đã mô tả quá trình chưng cất hơi nước như sau: “Ở nhiệt độ nước sôi, một phần tinh dầu hòa tan vào trong nước có sẵn trong tế bào thực vật. Dung dịch này sẽ thẩm thấu dần ra bề mặt nguyên liệu và bị hơi nước cuốn đi. Còn nước đi vào nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh dầu lại tiếp tục bị hòa tan vào lượng nước này. Quy trình này lặp đi lặp lại cho đến khi tinh dầu trong các mô thoát ra ngoài hết”.
Như vậy, sự hiện diện của nước rất cần thiết, cho nên trong trường hợp chưng cất sử dụng hơi nước quá nhiệt, chú ý tránh đừng để nguyên liệu bị khô. Nhưng nếu lượng nước sử dụng thừa quá thì cũng không có lợi, nhất là trong trường hợp tinh dầu có chứa những cấu phần tan dễ trong nước.
Ngoài ra, vì nguyên liệu được làm vỡ vụn ra càng nhiều càng tốt, cần làm cho lớp nguyên liệu có một độ xốp nhất định để hơi nước có thể đi xuyên ngang lớp này đồng đều và dễ dàng.
Vì các cấu phần trong tinh dầu được chưng cất hơi nước theo nguyên tắc nói trên cho nên thông thường những hợp chất nào dễ hòa tan trong nước sẽ được lôi cuốn trước. Thí dụ, khi chưng cất hơi nước hạt caraway nghiền nhỏ và không nghiền, đối với hạt không nghiền thì carvon (nhiệt độ sôi cao nhưng tan nhiều trong nước) sẽ ra trước, còn limonen (nhiệt độ sôi thấp, nhưng ít tan trong nước) sẽ ra sau. Nhưng với hạt caraway nghiền nhỏ thì kết quả chưng cất ngược lại.
Sự thủy giải
Những cấu phần ester trong tinh dầu thường dễ bị thủy giải cho ra acid và alcol khi đun nóng trong một thời gian dài với nước. Do đó, để hạn chế hiện tượng này, sự chưng cất hơi nước phải được thực hiện trong một thời gian càng ngắn càng tốt.
Nhiệt độ
Nhiệt độ cao làm phân hủy tinh dầu. Do đó, khi cần thiết phải dùng hơi nước quá nhiệt (trên 100oC) nên thực hiện việc này trong giai đoạn cuối cùng của sự chưng cất, sau khi các cấu phần dễ bay hơi đã lôi cuốn đi hết. Thực ra, hầu hết các tinh dầu đều kém bền dưới tác dụng của nhiệt nên vấn đề là làm sao cho thời gian chịu nhiệt độ cao của tinh dầu càng ngắn càng tốt.
Tóm lại, dù ba ảnh hưởng trên được xem xét độc lập nhưng thực tế thì chúng có liên quan với nhau và quy về ảnh hưởng của nhiệt độ. Khi tăng nhiệt độ, sự khuếch tán thẩm thấu sẽ tăng, sự hòa tan tinh dầu trong nước sẽ tăng nhưng sự phân hủy cũng tăng theo.
Trong công nghiệp, dựa trên thực hành, người ta chia các phương pháp chưng cất hơi nước ra thành ba loại chính:
- Chưng cất bằng nước.
- Chưng cất bằng nước và hơi nước
- Chưng cất bằng hơi nước.
1.3- Phương pháp chưng cất bằng nước
Trong trường hợp này, nước phủ kín nguyên liệu, nhưng phải chừa một khoảng không gian tương đối lớn phía bên trên lớp nước, để tránh khi nước sôi mạnh làm văng chất nạp qua hệ thống hoàn lưu. Nhiệt cung cấp có thể đun trực tiếp bằng củi lửa hoặc bằng hơi nước dẫn từ nồi hơi vào (sử dụng bình có hai lớp đáy). Trong trường hợp chất nạp quá mịn, lắng chặt xuống đáy nồi, lúc đó nồi phải trang bị những cánh khuấy trộn đều bên trong trong suốt thời gian chưng cất.
Sự chưng cất này không thích hợp với những tinh dầu dễ bị thủy giải. Những nguyên liệu xốp và rời rạc rất thích hợp cho phương pháp này. Những cấu phần có nhiệt độ sôi cao, dễ tan trong nước sẽ khó hóa hơi trong khối lượng lớn nước phủ đầy, khiến cho tinh dầu sản phẩm sẽ thiếu những chất này. Thí dụ điển hình là mùi tinh dầu hoa hồng thu được từ phương pháp chưng cất hơi nước kém hơn sản phẩm tẩm trích vì eugenol và ancol phenetil nằm lại trong nước khá nhiều, vì thế người ta chỉ dùng phương pháp này khi không thể sử dụng các phương pháp khác.
Ưu và khuyết điểm
   Ưu điểm:
- Quy trình kỹ thuật tương đối đơn giản.
- Thiết bị gọn, dễ chế tạo.
- Không đòi hỏi vật liệu phụ như các phương pháp tẩm trích, hấp thụ.
- Thời gian tương đối nhanh.
   Khuyết điểm:
- Không có lợi đối với những nguyên liệu có hàm lượng tinh dầu thấp.
- Chất lượng tinh dầu có thể bị ảnh hưởng nếu trong tinh dầu có những cấu phần dễ bị phân hủy.
- Không lấy được các loại nhựa và sáp có trong nguyên liệu (đó là những chất định hương thiên nhiên rất có giá trị).
- Trong nước chưng luôn luôn có một lượng tinh dầu tương đối lớn.
- Nhưng tinh dầu có nhiệt độ sôi cao thường cho hiệu suất rất kém.
Thu hồi thêm tinh dầu từ nước chưng
Thường tinh dầu trong nước chưng nằm dưới hai dạng phân tán và hòa tan. Dạng phân tán thì có thể dùng phương pháp lắng hay ly tâm, còn dạng hòa tan thì phải chưng cất lại. Nếu trọng lượng riêng của tinh dầu và nước quá gần nhau thì có thể thêm NaCl để gia tăng tỉ trọng của nước làm tinh dầu tách ra dễ dàng.
Trong phòng thí nghiệm, để chưng cất hơi nước tinh dầu, người ta thường dùng bộ dụng cụ thủy tinh Clevenger (hình vẽ phần phụ lục) với hai loại ống hứng tinh dầu, tùy theo tinh dầu nặng hay nhẹ
Quy trình chưng cất tinh dầu bằng phương pháp cổ điển:
Trước khi sản xuất cần kiểm tra thật cẩn thận thiết bị chưng cất, chú ý cổ bình cầu và ống trích ly có bị nứt mẻ hay không, có kín không, phần ngưng tụ có bị tắc, rò rỉ không, sau đó tiến hành làm vệ sinh thiết bị.
Ba công đoạn cơ bản của quá trình chưng cất tinh dầu (chưng cất gián đoạn) gồm: nạp liệu, chưng cất, tháo bả.
   Nạp liệu:
Nguyên liệu từ kho bảo quản được nạp vào thiết bị, có thể làm ẩm nguyên liệ trước khi nạp vào thiết bị để thuận lợi cho quá trình chưng cất. Việc nạp liệu có thể thực hiện bằng thủ công hoặc cơ giới, có thể nạp trực tiếp vào thiết bị hoặc nạp gián tiếp qua một giỏ chứa rồi cho vào thiết bị bằng tời hoặc cẩu. Nguyên liệu nạp vào thiết bị không được chặt quá làm cho hơi khó phân phối đều trong toàn bộ khối nguyên liệu và không được quá lỏng, quá xốp sẽ làm cho hơi dễ dàng theo những chỗ rỗng đi ra mà không tiếp xúc với toàn khối nguyên liệu. Đối với nguyên liệu lá, cỏ khi cho vào thiết bị có thể nén chặt, trước khi nén nên xổ tung để tránh hiện tượng rỗng cục bộ. Nạp liệu xong đóng chặt mặt bích nối thiết bị với nắp, nên vặn chặt theo nguyên tắc đối nhau để nắp khỏi chênh.
   Chưng cất:
 Khi bắt đầu chưng cất, mở van hơi cho hơi vào thiết bị, lúc đầu mở từ từ để đuổi không khí trong thiết bị và làm cho hơi phân phối đều trong toàn bộ khối nguyên liệu. Ngoài ra, mở từ từ van hơi để nguyên liệu không bị cuốn theo hơi gây tắc ống dẫn hỗn hợp hơi.
Trong quá trình chưng cất, cần chú ý điều chỉnh nhiệt độ dịch ngưng sao cho nằm trong khoảng 30-4000C (bằng cách điều chỉnh tốc độ nước làm lạnh) vì nếu dịch ngưng quá nóng sẽ làm tăng độ hòa tan của tinh dầu vào nước và làm bay hơi tinh dầu. Để kiểm tra quá trình chưng cất kết thúc chưa người ta có thể dùng một tấm kính hứng một ít dịch ngưng, nếu thấy trên tấm kính còn váng dầu thì quá chưng cất chưa kết thúc.
   Tháo bả:
Sau khi chưng cất xong không nên tháo bã liền mà phải để cho hệ thống hạ bớt nhiệt độ sau đó mới tiến hành tháo bả. Sau khi tháo bả phải làm sạch thiết bi. Bởi vì tinh dầu dễ hấp thụ mùi lạ nên thiết bị chưng cất phải được làm vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt khi thay đổi nguyên liệu cần phải làm vệ sinh thiết bị thật kỹ lưỡng sau khi tháo bã để không còn mùi của nguyên liệu trước và thông thường trong tinh dầu chứa các axit hữu có sẽ gây ăn mòn thiết bị, do đó khi ngừng sản xuất phải tháo hết nước ngưng tụ và làm khô thiết bị.
Hỗn hợp tinh dầu và nước được cho vào thiết bị phân ly. Sau phân ly ta được tinh dầu thô và nước chưng. Tinh dầu thô được xử lý để được tinh dầu thành phẩm, nước chưng cho ra bể tiếp tục phân ly để thu tinh dầu loại II.
   Quy trình sản xuất .
Nguyên liệu là củ,lá sả tươi đạt độ chín kỹ  10 cmthuật, tức là lúc đầu lá (tính từ ngoài vào) đã khô từ 5cm thì thu hoạch, sau khi cắt xong củ,lá sã được phơi héo đến độ ẩm còn 50 % so với ban đầu. Ở độ ẩm này, củ và lá sã bảo quản được một số ngày ở nơi cất, hơn nữa,khi chưng cất củ, lá sả héo sẽ giảm được 35 % nhiên liệu và 27 % thời gian chưng cất. Trước khi đưa nguyên liệu vào nồi cất, cần chú ý loại các tạp chất như cỏ rác lẫn vào trong quá trình thu hái. Nguyên liệu 500g và 1lit nước.Còn cồn ta thêm từ 1ml đến 10ml tùy theo số lần chưng cho vào bình cầu 2lit. Nguyên liệu nạp vào thiết bị phải đảm bảo từ 2/3 thể tích bình cầu, thời gian chưng cất từ 2÷2,5 giờ. Bả sau khi chưng cất được đem phơi khô để làm nhiên liệu. Hơi tinh dầu và nước sẽ vào thiết bị  ngưng tụ, cần khống chế nhiệt độ nước làm lạnh trong khoảng 35 - 4000C. Hỗn hợp tinh dầu và nước sẽ được tách ra bằng thiết bị phân ly, nước chưng sẽ được đưa vào bể xử lý để tách tinh dầu loại II. Tinh dầu thô được lắng để tách tạp chất lớn và được làm khô bằng Na2SO4 khan, lượng Na2SO4 tùy thuộc vào hàm lượng nước trong tinh dầu sả, thường thì 25-50 gam/kg tinh dầu. Sau đó tinh dầu được đem lọc để tách Na2SO4 ra, Na2SO4 tách ra được đem rửa hai lần bằng nước ấm rồi cho vào túi vải bỏ vào nồi chưng cất để tận thu tinh dầu. Sau đó đem sấy khô và bảo quản trong bình kín. Tinh dầu sả khử hết nước có màu sáng, được đóng chai bảo quản.

Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
« Trả lời #40 vào lúc: Tháng Năm 05, 2009, 08:49:53 AM »
1- 1 Vi sóng
Đại cương
Vi sóng (micro-onde, microwave) là sóng điện từ lan truyền với vận tốc ánh sáng. Sóng điện từ này được đặc trưng bởi:
- Tần số f, tính bằng Hetz (Hz = cycles/s), là chu kỳ của trường điện từ trong một giây, nằm giữa 300 MHz và 30 GHz.
- Vận tốc c là 300.000 km/giây.
- Độ dài sóng λ (cm) là đoạn đường đi của vi sóng trong một chu kỳ, liên hệ với tần số theo công thức  λ = c/f.
            Hầu hết các lò vi sóng gia dụng đều sử dụng tần số 2450 MHz, ở tần số này  λ = 12,24 cm.
Hiện tượng làm nóng
Một số phân tử, thí dụ như nước, phân chia điện tích trong phân tử một cách bất đối xứng. Như vậy các phân tử này là những lưỡng cực có tính định hướng trong chiều của điện trường. Dưới tác động của điện trường một chiều, các phân tử lưỡng cực có khuynh hướng sắp xếp theo chiều điện trường này. Nếu điện trường là một điện trường xoay chiều, sự định hướng của các lưỡng cực sẽ thay đổi theo chiều xoay đó. Cơ sở của hiện tượng phát nhiệt do vi sóng là sự tương tác giữa điện trường và các phân tử phân cực bên trong vật chất. Trong điện trường xoay chiều có tần số rất cao (2,45x109 Hz), điện trường này sẽ gây ra một xáo động ma sát rất lớn giữa các phân tử, đó chính là nguồn gốc sự nóng lên của vật chất.
Với một cơ cấu có sự bất đối xứng cao, phân tử nước có độ phân cực rất lớn, do đó nước là một chất rất lý tưởng dễ đun nóng bằng vi sóng. Ngoài ra, các nhóm định chức phân cực như: -OH, -COOH, -NH2 … trong các hợp chất hữu cơ cũng là những nhóm chịu sự tác động mạnh của trường điện từ.
Do đó, những hợp chất càng phân cực càng rất mau nóng dưới sự chiếu xạ của vi sóng. Việc này có liên quan đến hằng số điện môi của hợp chất đó. Tóm lại, sự đun nóng bởi vi sóng rất chọn lọc, trực tiếp và nhanh chóng.

Tính chất
Vi sóng có đặc tính là có thể đi xuyên qua được không khí, gốm sứ, thủy tinh, polimer và phản xạ trên bề mặt các kim loại. Độ xuyên thấu tỉ lệ nghịch với tần số, khi tần số tăng lên thì độ xuyên thấu của vi sóng giảm. Đối với một vật chất có độ ẩm 50% với tần số 2450 MHz có độ xuyên là 10 cm. Ngoài ra, vi sóng có thể lan truyền trong chân không, trong điều kiện áp suất cao.
Năng lượng của vi sóng rất yếu, không quá 10-6 eV, trong khi năng lượng của một nối cộng hóa trị là 5 eV, do đó bức xạ vi sóng không phải là một bức xạ ion hóa.
Có một số công trình đã khẳng định được tính vô hại của vi sóng đối với sinh vật. Chẳng hạn, khi nghiên cứu sự phát triển của enzim trong điều kiện vi sóng, người ta nhận thấy rằng ảnh hưởng của vi sóng rất giống ảnh hưởng của các gia nhiệt thông thường.
Vi sóng cung cấp một kiểu đun nóng không dùng sự truyền nhiệt thông thường. Với kiểu đun nóng bình thường, sức nóng đi từ bề mặt của vật chất lần vào bên trong, còn trong trường hợp sử dụng vi sóng, vi sóng xuyên thấu vật chất và làm nóng vật chất ngay từ bên trong. Vi sóng tăng hoạt những phân tử phân cực, đặc biệt là nước. Nước bị đun nóng do hấp thu vi sóng bốc hơi tạo ra áp suất cao tại nơi bị tác dụng, đẩy nước đi từ tâm của vật đun ra đến bề mặt của nó.
Ly trích dưới tác dụng của vi sóng
Dưới tác dụng của vi sóng, nước trong các tế bào thực vật bị nóng lên, áp suất bên trong tăng đột ngột làm các mô chứa tinh dầu bị vỡ ra. Tinh dầu thoát ra bên ngoài, lôi cuốn theo hơi nước sang hệ thống ngưng tụ (phương pháp chưng cất hơi nước) hoặc hòa tan vào dung môi hữu cơ đang bao phủ bên ngoài nguyên liệu (phương pháp tẩm trích).
Lưu ý là mức độ chịu ảnh hưởng vi sóng của các loại mô tinh dầu không giống nhau do kiến tạo của các loại mô khác nhau, ngay khi nguyên liệu được làm nhỏ. Kết quả này được phản ánh qua thời gian ly trích.
Trong sự chưng cất hơi nước, việc ly trích tinh dầu có thể thực hiện trong điều kiện có thêm nước hay không thêm nước vào nguyên liệu (trường hợp nguyên liệu chứa nhiều nước, đây là đặc điểm của phương pháp chưng cất hơi nước dưới sự hỗ trợ của vi sóng). Ngoài ra, nước có thể thêm một lần hoặc thêm liên tục (trường hợp lượng nước thêm một lần không đủ lôi cuốn hết tinh dầu trong nguyên liệu) cho đến khi sự ly trích chấm dứt.
 Ngoài việc nước bị tác dụng nhanh chóng, các cấu phần phân cực (hợp chất có chứa oxigen) hiện diện trong tinh dầu cũng bị ảnh hưởng bởi vi sóng. Ngược lại các cấu phần hidrocarbon ít chịu ảnh hưởng của vi sóng (do chúng có độ phân cực kém) nên sự ly trích chúng tựa như trong sự chưng cất hơi nước bình thường nhưng với vận tốc nhanh hơn rất nhiều vì nước được đun nóng nhanh bởi vi sóng.
Trong phòng thí nghiệm, chúng tôi đã nghiên cứu, sữa chữa và cải tiến lò vi sóng gia dụng để cho lò này có thể sử dụng trong cả việc ly trích tinh dầu bằng phương pháp chưng cất hơi nước, lẫn cho phương pháp tẩm trích ở áp suất thường. (hình vẽ xem phần phụ lục).
Năm 1998, Luque de Castro và cộng sự đã đưa ra kiểu lò vi sóng tiêu điểm hỗ trợ cho sự ly trích bằng Soxhlet (FMASE – Focused Microwave Assisted Soxhlet Extraction) theo hình vẽ trong phần phụ lục. Hệ thống này giúp cho thời gian ly trích hợp chất thiên nhiên sử dụng Soxhlet giảm xuống đáng kể và khả năng bảo vệ những hợp chất dễ bị phân hủy tăng lên.
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
« Trả lời #41 vào lúc: Tháng Năm 05, 2009, 08:50:39 AM »
1-Siêu âm
Nguyên tắc
Siêu âm là âm thanh có tần số nằm ngoài ngưỡng nghe của con người (16 Hz – 18 kHz). Về mặt thực hành, siêu âm được chia làm hai vùng:
- Vùng có tần số cao (5–10 MHz), ứng dụng trong y học để chuẩn đoán bệnh.           
- Vùng có tần số thấp hơn (20–100 kHz), ứng dụng trong các ngành khác (kích hoạt phản ứng hóa học, hàn chất dẻo, tẩy rửa, cắt gọt, …) dựa trên khả năng cung cấp năng lượng của siêu âm.
Siêu âm cung cấp năng lượng thông qua hiện tượng tạo và vỡ “bọt” (khoảng cách liên phân tử). Trong môi trường chất lỏng, bọt có thể hình thành trong nửa chu kỳ đầu và vở trong nữa chu kỳ sau, giải phóng một năng lượng rất lớn. Năng lượng này có thể sử dụng tẩy rửa chất bẩn ngay trong những vị trí không thể tẩy rửa bằng phương pháp thông thường, khoan cắt những chi tiết tinh vi, hoạt hóa nhiều loại phản ứng hóa học, làm chảy và hòa tan lẫn vào nhau trong việc chế tạo những sản phẩm bằng nhựa nhiệt dẻo, …
Hiện tượng tạo bọt và vỡ bọt:
Trong lĩnh vực hợp chất thiên nhiên, siêu âm chủ yếu sử dụng để hỗ trợ cho phương pháp tẩm trích giúp thu ngắn thời gian ly trích. Trong một số trường hợp, phương pháp siêu âm cho hiệu suất cao hơn phương pháp khuấy từ. Trong trường hợp tinh dầu vi sự ly trích bằng siêu âm được thực hiện ở nhiệt độ phòng nên sản phẩm luôn có mùi thơm tự nhiên.
Các thiết bị siêu âm hiện nay chủ yếu bao gồm hai dạng:
- Bồn siêu âm (40 kHz).
- Thanh siêu âm (20 kHz).
Hiện nay trong phòng thí nghiệm chỉ sử dụng bồn siêu âm trong phương pháp tẩm trích.
Bồn siêu âm
Bồn thường làm bằng inox, bên dưới đáy bồn có gắn những bộ phận phát ra siêu âm. Một số bồn có trang bị thêm bộ phận gia nhiệt nhưng không cho phép tăng nhiệt độ lên cao. Bồn siêu âm có ưu điểm là năng lượng được phân bố đồng đều, thuận tiện thao tác, và dễ sử dụng nhưng lại có khuyết điểm là chỉ có một tần số cố định, đôi khi không kiểm soát được nhiệt độ (khi siêu âm trong một thời gian dài), không thực hiện được ở nhiệt độ thấp.
Hiện nay bồn siêu âm được chế tạo với nhiều kích thước lớn nhỏ khác nhau để phù hợp với vật chứa bên trong. Khi sử dụng bồn siêu âm, nhớ cho một ít chất hoạt động bề mặt vào lượng nước trong bồn để gia tăng khả năng siêu âm. Bình chứa nguyên liệu cần đổ ngập dung môi với mức dung môi nên thấp hơn hoặc ngang bằng lớp nước bên ngoài. 
2- Phương pháp CO2 lỏng siêu tới hạn
Hiện nay CO2 lỏng được sử dụng như một dung môi dùng để trích ly tinh dầu (phương pháp SFE-Supercritical Fluid Extraction). Phương pháp này có lợi điểm là cô lập sản phẩm rất dễ dàng vì CO2 ở áp suất thường sẽ bốc hơi nhanh chóng để lại tinh dầu tinh chất. Trong nhiều trường hợp tinh dầu sản xuất bằng phương pháp này cho chất lượng cao, nhưng trong một số trường hợp ghi nhận thì khả năng ly trích của nó còn giới hạn, hiệu suất đôi khi kém hơn phương pháp chưng cất hơi nước. CO2 hóa lỏng trong những thiết bị đặc biệt có thể điều chỉnh áp suất (tối đa 700 bar) và nhiệt độ. Thí nghiệm cho thấy tùy theo áp suất sử dụng, thành phần tinh dầu thu được khác nhau.
Phương pháp này chưa phổ biến trong kỹ nghệ vì giá thành thiết bị còn cao và lượng nguyên liệu còn hạn chế, điều kiện tối ưu để ly trích phải khảo sát thêm
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
« Trả lời #42 vào lúc: Tháng Năm 05, 2009, 09:01:07 AM »
1-HÓA HỌC TINH DẦU
Tinh dầu Sả là một hỗn hợp rất nhiều hợp chất (cấu phần). Có thể phân loại như sau:
1.1- PHÂN LOẠI THEO NHÓM ĐỊNH CHỨC
Cách phân loại này là cách phân loại cổ điển nhất. Theo như Ernest Guenther đã đề nghị trong The Essential Oil Vol.2, việc phân loại này nhằm mục đích sắp xếp các hợp chất hiện diện trong tinh dầu thành từng nhóm theo nhóm định chức chính của các cấu phần
1.1.1 Alcol bão hòa
Alcol isoamyl (3-methyl-1-butanol), (CH3)2CH(CH2)2OH

1.1.2 Alcol bất bão hòa
2-Methyl-2-hepten-6-ol, (CH3)2C=CHCH2CH2CHOHCH3

1.1.3 Phenil eter
Metileugenol, 4-alil-1,2-dimetoxibenzen

1.2 Aldehid chi phương
+ Formaldehyde, HCHO
+  Isovaleraldehid, (2-metil-n-butiraldehid,3-metilbutanal), (CH3)2CHCH2CHO
+ n-Capriladehid, (aldehid caprilic,octanal), CH3(CH2)6CHO
+ Pelargonaldehid, (nonanal), CH3(CH2)7CHO
+ n-Decilaldehid, (aldehid capric, decanal), CH3(CH2)8CHO
1.5 Acid carboxylic chi phương
+ Acid n-butiric, (acid butanoic), CH3CH2CH2COOH
+ Acid isovaleric, (H3C)2CHCOOH
+ Acid n-caproic, (acid hexanoic), CH3(CH2)4COOH
+ Acid n-capric, (acid decanoic), CH3(CH2)8COOH
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
« Trả lời #43 vào lúc: Tháng Năm 05, 2009, 09:04:27 AM »
TERPEN TRONG TINH DẦU SẢ
Từ terpen lần đầu tiên được Kékulé sử dụng để chỉ các hidrocacban đồng phân C10H16. Hiện nay, từ này dùng để chỉ tất cả những hợp chất có cơ cấu sườn carban được dựa trên đơn vị phân tử isoprene, C5H8



Do đó terpen có công thức chung là (C5H8)n , tạo ra do sự kết hợp của hai hay nhiều đơn vị isoprene. Vì thế, dựa vào các số đơn vị isoprene có trong phân tử terpen, người ta chia terpen thành nhiều nhóm hợp chất. Trong tinh dầu sả có những hợp chất như:

1 Monoterpen oxygen
Acol
+ Geraniol, (2,6-dimetil-2,6-octandien-8-ol)
+ Nerol, (2,6-dimetil-2,6-octandien-8-ol)
+ Citronelol, (2,6-dimetil-2-octen-8-ol), (d-citronelol)
Aldehid
+ Geranial, (trans-3,7-dimetil-2,6-octandien-1-al)
+ Neral, (cis-3,7-dimetil-2,6-octandien-1-al)
+ Citronelal, (3,7-dimetil-6-octen-1-al), (d-Citronelal)
Ester
+ Acetat citronelil
+ Butirat citronelil
+ Acetat geranil
2.2 Monoterpen chi hoàn
Hợp chất hidrocacbon
+ Limonen (l-Limonen)
Hợp chất oxygen
+ Isopulegol

Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

Offline Lê Võ Sơn Quân

  • Administrator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 355
  • Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn!
    • Lê Võ Sơn Quân
    • Email
Re: TINH DẦU SẢ CHANH-CITRAL
« Trả lời #44 vào lúc: Tháng Năm 05, 2009, 09:06:05 AM »
1.4 PHƯƠNG PHÁP THỬ TINH DẦU
Phương pháp thử tinh dầu sả chanh được tuân theo theo TCVN 6030:2008 và TCVN 189:1993. Các phương pháp thử như:
1.4.1 XÁC ĐỊNH TINH DẦU
1.4.1.1 Dụng cụ và điều kiện thử
- Điều kiện và dụng cụ cảm quan theo TCVN.
- Ống thủy tinh trong suốt có đường kính khoảng 20-25mm dung tích khoảng 30ml.
- Cân kỹ thuật.
-Ống hút
- Giấy thấm
- Đường kính
1.4.1.2 Xác định độ trong và màu sắc
Dùng ống hút lấy 20 ml mẫu cho vào ống nghiệm khô, sạch, trong suốt. Dùng mắt quan sát độ trong và màu sắc của tinh dầu
1.4.1.3 Xác định vị
Cân khoảng 1g đường kính cho vào chén thử khô, sạch. Nhỏ vài giọt nước tinh dầu vào chén, trộn đều, dùng lưỡi xác định vị của hỗn hợp đó
1.4.1.4 Xác định mùi
Nhỏ vài giọt tinh dầu lên giấy thấm khô, sạch. Dùng mũi xác định mùi của tinh dầu, cứ 15 phút xác  định một lần, khoảng 4-5 lần
1.4.2  XÁC ĐỊNH TỶ TRỌNG 
Xem ISO 279
Tỷ trọng của tinh dầu là tỉ số của khối lượng tinh dầu của 200C với khối lượng của cùng một thể tích nước cất cũng ở 200C.
Ở 200C, nước có tỷ trọng 0,99823 g/ml
1.4.2.2 Dụng cụ, thiết bị và hóa chất
- Bình tỷ trọng dung tích 50ml
- Nhiệt kế bách phân, bầu thủy tinh và vạch chia tới 0,10C
- Cân phân tích, chính xác đến 0,2 mg
- Phễu thủy tinh có cuống phễu nhỏ
- Giấy lọc định tính, một số được cắt thành giải có thể cho vào bình tỷ trọng
- Tủ sấy
- Môi trường điều nhiệt có thể duy trì nhiệt độ nước ở 20±0,50C
- Nước cất TCVN
- Axeton, ête hoặc etanol, TKPT
- Hỗn hợp sunfocromic, chuẩn bị như sau: Hòa tan 60g kalibicromat trong 100ml acid sunfuric đậm đặc (H2SO4).
1.4.2.3 Tiến hành thử
Chuẩn bị bình tỷ trọng
Bình tỷ trọng được rủa sạch bằng hỗn hợp sunfocromic, tráng kỹ bằng nước cất và súc lại bằng aceton, ête hoặc etanol, làm khô bằng cách thổi vào bình một luồng không khí khô, nóng hoặc sấy nhẹ ở 70-800C tới khối lượng không đổi. Cân khối lượng của bình và nút chính xác tới 0,0002g.
Xác định khối lượng của nước cất
Rót nhẹ nước vào bình cao hơn vạch định mức một chút, tránh không tạo bọt khi rót. Ngâm bình vào môi trường điều nhiệt đã duy trì 20 ± 0,50C ngập tới cổ lọ trong 30 phút tới khi nhiệt độ cả nước trong bình đạt 20 ± 0,50C. Dùng các giải giấy thấm hút bớt nước trong bình tới đúng vạch mức và thấm khô các giọt nước bám ở thành trong cổ bình và đậy nút. Lấy bình ra khỏi môi trường điều nhiệt, lau khô và cân nhanh chính xác đến 0,0002 g. Sau đó đổ nước và làm khô bình tỷ trọng.
Xác định khối lượng của tinh dầu
Tiến hành như 1.4.2.3.2 nhưng thay nước cất bằng tinh dầu ta xác định được khối lượng của bình và tinh dầu ở 20±0,50C
1.4.2.4 Tính kết quả
Tỉ trọng của tinh dầu ở 200C ( ) được tính theo công thức:
 
Trong đó: m- khối lượng bình tỷ trọng, g
                          m1- khối lượng bình tỷ trọng và nước ở 200C,g
                          m2- khối lượng bình tỷ trọng và tinh dầu ở 200C, g
Kết quả là trung bình cộng của hai lần xác định liên tiếp có sai lệch giá trị không lớn hơn 0,001 và được làm tròn tới số thập phân thứ tư.
1.4.3 XÁC ĐỊNH CHỈ SỐ KHÚC XẠ
Chỉ số khúc xạ còn gọi là chiết suất, là tỉ số giữa sin góc tới và sin góc khúc xạ của một tia sáng có độ dài sóng xác định đi từ không khí qua tinh dầu ở nhiệt độ nhất định.
Người ta thường dùng ánh sáng của đèn natri có độ dài sóng 589,3±0,3 nm. Nhiệt độ tham chiếu là 200C (trừ trường hợp tinh dầu không thể ở thể lỏng tại nhiệt độ này thì phải chọn 25 hoặc 300C).
Xem ISO 280
Chỉ số khúc xạ được xác định ở 200C theo phương pháp đo giới hạn bằng khúc xạ kế.
1.4.3.1 Dụng cụ, thiết bị và hóa chất
- Khúc xạ kiểu Abbe hoặc kiểu khác có đèn natri hay bộ phân bổ chính triệt tiêu hiện tượng tán sắc và cho phép đọc được chỉ số khúc xạ từ 1,3000 đến 1,7000 với độ chính xác ±0,0002
- Bông hút nước hay vải màu sạch, khô
- Ete hoặc aceton TKPT
- Nước cất
1.4.3.2Tiến hành xác định
Cho dòng nước chảy qua máy để duy trì ở 200C. Tiến hành hiệu chỉnh máy trước khi đo theo hướng dẫn cụ thể của từng loại máy.
Mở hộp lăng kính, dùng bông tẩm aceton hoặc exton lau lăng kính và thấm khô bằng vải mềm hoặc bông thấm nước.
Nhỏ 2-3 giọt tinh dầu lên mặt lăng kính mờ phía dưới và áp vào lăng kính bên trên. Khi nhiệt kế của khúc xạ kế chỉ 200C, nhìn vào thị kính, chỉnh hiện tượng tán sắc nếu có rồi từ từ xoay quanh bộ phận lăng kính đưa ranh giới giữa hai miền sang và tối cắt đúng giao điểm của vạch. Đọc chỉ số khúc xạ ở nganh vạch chuẩn. Xác định lại vị trí và đọc chỉ số ba lần. Chỉ đọc chỉ số khúc xạ kế khi nhiệt độ đã ổn định. Kết quả là trung bình cộng của ba giá trị đọc được và làm tròn tới số thập phân thứ tư.
Khi đó chỉ số khúc xạ của tinh dầu ở nhiệt độ khác và cần tính chuyển về chỉ số khúc xạ ở nhiệt độ nhất định, dùng công thức sau:
 = + 0,0004 (t’-t)
Trong đó:
 - chỉ số đọc được ở nhiệt độ “t”
t- nhiệt độ cần tính chuyển
1.4.4 XÁC ĐỊNH GÓC QUAY CỰC
Hầu hết tinh dầu đều có tính quang hoạt, nghĩa là có khả năng làm quay mặt phẳng ánh sáng phân cực khi có ánh sáng này đi xuyên qua. Khả năng làm quay mặt phẳng ánh sáng phân cực của mỗi tinh dầu hầu như đều khác nhau và biểu thị bằng góc quay cực (góc quay quan sát)
Góc quay phân cực của tinh dầu ( kí hiệu α ), được tính bằng độ, là góc quay mặt phẳng ánh sáng phân cực của ánh sáng, có độ dài sóng là 589,3 ± 0,3 nm, khi ánh sáng này được truyền ngang qua một ống có chứa tinh dầu dài 1dm trong những điều kiện nhất định.
Những tinh dầu làm quay mặt phẳng ánh sáng phân cực theo chiều kim đồng hồ gọi là tinh dầu hữu triền (+, d) và ngược lại gọi là tinh dầu tả triền (-, l)
Xem ISO 592
Góc quay cực được xác định ở nhiệt độ phòng
1.4.4.2 Dụng cụ và vật liệu
- Phân cực kế với độ chính xác ±0,030 và được hiệu chỉnh để cho giá trị 00 và 1100 với nước cất
- Nguồn sáng đèn natri hoặc thiết bị cho ánh sáng có bước sóng 589,3±0,3nm
- Ống đo hình trụ dài 100± 0,5 mm, đối với các loại tinh dầu sáng màu và có góc quay phân cực thấp có thể dùng ống dài 200±0,5 mm. Đối với các loại tinh dầu sẫm màu có thể dùng ống dài 50± 0,05 mm hoặc 10±0,05mm
- Nước cất
1.4.4.3 Tiến hành xác định
Điều chỉnh máy
Đổ nước cất vào đầy ống của phân cực kế, chú ý tránh có tạo bọt ở bên trong. Vặn chặt nắp đậy của ống. Đặt ống vào máng của phân cực kế đã bật đèn sáng, xác định độ sai lệch của điểm 00 so với điểm 0 của du xích
Đo góc quay cực
Lấy ống trong máy ra, tháo nước đi và thau ống cho thật khô. Đổ tinh dầu vào đầy ống và tiếp tục đo như khi điều chỉnh máy. Kết quả thu được vần hiệu chỉnh với độ sai lệch của điểm 00 của du xích để được giá trị đúng của góc quay cực
Tiến hành đo ít nhất 3 lần với cùng mãu thử, kết quả là trung bình cộng của ba lần xác định liên tiếp có sai lệch giá trị không vượt quá 0.080
Sai số của phép đo không được vượt quá ±0,170
Chú thích:
1)  Khi đo bằng ống có kích thước khác 100mm thì tính góc quay phân cực theo công thức:
 
Trong đó: α- giá trị của góc quay cực đo được
 l- chiều dài của ống đo sử dụng, dm
2) Trong trường hợp không có ống đo với kích thước thích hợp với mẫu tinh dầu thì dùng rượu 90% pha loãng và đo góc quay cực của dung dịch đã pha loãng rồi tính góc quay cực của tinh dầu theo công thức:
 
Trong đó:
α1- góc quay cực của dung dịch
p- nồng độ của dung dịch tính bằng ml tinh dầu chứa trong 100 ml dung dịch
l- chiều dài của ống, dm
3) Sau khi đo được góc α, để xác định hướng quay cực là phải hay trái, dùng một ống đo khác có chiều dài bằng nửa chiều dài ống cũ và đo góc α với tinh dầu như trước hoặc dùng ống cũ nhưng đo với tinh dầu có độ pha loãng gấp đôi bằng rượu 90-95% góc quay cực α’ đo được bằng bằng α/2
Hướng của góc đó là hướng quay cực cần xác định
1.4.5 ĐỘ HÒA TAN
Độ hòa tan của tinh dầu là số thể tích dung dịch etanol-nước vừa đủ để hòa tan một thể tích tinh dầu thành dung dịch trong suốt ở nhiệt độ 200C
Có ba trường hợp xảy ra khi hòa tan tinh dầu thành dung dịch vào dung dịch etanol-nước:
+ Một thể tích tinh dầu khi thêm vào V dung dịch etanol-nước cho một dung dịch trong suốt và giữ nguyên như vậy khi tiếp tục thêm vào cho đến 20 thể tích etanol-nước
+Một thể tích tinh dầu khi thêm vào V thể tích dung dịch etanol-nước cho một dung dich trong suốt, nhưng khi thêm dung dịch etanol-nước lên đến V’ thì đục và giữ nguyên tình trạng này khi thêm đến 20 thể tích dung dịch etanol-nước
+ Một thể tích tinh dầu khi thêm vào V thể tích dung dịch etanol-nước cho một dung dịch trong suốt, thêm lên đến V’ thể tích thì đục, nhưng tiếp tục thêm etanol vao đến V’’ thì trong suốt, thể tích tổng cộng phải dưới 20 thể tích dung dịch etanol-nước
Nếu rơi vào 2 trường hợp sau, ta thay dung dịch etanol-nước có nồng độ etanol cao hơn.
1.4.5.1 Tính tan trong etanol 70%  (theo thể tích) ở 200C
Xem ISO 875
Dụng cụ và hóa chất
- Ống nhỏ gọt 25 hoặc 50 ml
- Ống hút có ngấn chuẩn hoặc chia vạch 1ml
- Nhiệt kế chia độ nhỏ nhất là 0,2 hay 0,10C
- Etanol 70%
- Nước cất
Tiến hành xác định
Pha dung dịch etanol-nước theo thể tích  (V/V): 50, 55, 60,65,70,75% (etanol nguyên không pha)
Nhỏ từ từ dung dịch etanol-nước từ ống nhỏ giọt vào tinh dầu (thường lấy 1 ml), khuấy đều trong lúc thử.
Nếu hiện tượng đục vẫn giữ nguyên cho đến 20 ml dung dịch etanol-nước, thay dung dịch etanol-nước bằng dung dịch có nồng độ cao hơn
Chất chuẩn đục: cho 0,5 ml AgNO3 (0,1mol/l) vào 50 ml NaCl (0.0002 mol/l), thêm 1 giọt acid nitric đậm đặc
Nước hiền hòa ẩn chứa nhiều bí ẩn

 


H2VN trên Facebook