Loading

Like H2VN trên Facebook
nha thuoc truc tuyen

Tác giả Chủ đề: Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh  (Đọc 12655 lần)

0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.

Offline viva_forever_9471

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 5
    • Email
Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh
« vào lúc: Tháng Tám 09, 2006, 02:40:26 PM »
Hóa sinh hay sinh hóa là môn khoa học nghiên cứu đến những cấu trúc và quá trình hóa học diễn ra trong cơ thể sinh vật. Đây là một bộ môn giao thoa giữa hoá học và sinh học, và lĩnh vực nghiên cứu có một số phần trùng với bộ môn tế bào học, sinh học phân tử hay di truyền học. Nó là một môn học cơ bản trong y khoa và công nghệ sinh học. Với những diễn tiến trao đổi chất diễn ra trong các cơ quan của cơ thể sống, môn học này giúp con người hiểu rõ cơ chế cũng như các thay đổi trong cơ thể sống.

Các ngành của hóa-sinh học:
Giải phẫu học | Sinh học vũ trụ | Hóa sinh | Tin sinh học | Thực vật học | Tế bào học | Sinh thái học | Sinh học phát triển | Di truyền học | Sinh học biển | Sinh học người | Vi sinh vật học | Sinh học phân tử | Nguồn gốc sự sống | Cổ sinh vật học | Miễn dịch học | Sinh lý học | Phân loại học | Động vật học

Cộng đồng Hóa học H2VN

Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh
« vào lúc: Tháng Tám 09, 2006, 02:40:26 PM »

Offline viva_forever_9471

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 5
    • Email
Hồi âm: Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Tám 11, 2006, 05:36:34 PM »
Giải phẫu học (tiếng Anh: anatomy; vốn xuất phát từ tiếng Hi Lạp ἀνατομία anatomia, có gốc ἀνατέμνειν anatemnein, nghĩa là cắt thành mảnh, cắt mở ra) là một ngành khoa học nghiên cứu về hình thái sinh học và cấu trúc và tổ chức của cơ thể sống.

Giải phẫu học có thể được phân chia thành ngành Giải phẫu người, Giải phẫu động vật (zootomy) và Giải phẫu thực vật (phytonomy)...
Giải phẫu học mang tính khu vực hoặc mang tính chất hệ thống. giải phẫu học có quan hệ mật thiết với y học và các ngành sinh học khác.
Các nhánh lớn của giải phẫu học là Giải phẫu học so sánh (comparative anatomy), Giải phẫu mô học (histology) và Giải phẫu người (human anatomy).

Offline viva_forever_9471

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 5
    • Email
Hồi âm: Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Tám 12, 2006, 10:35:00 AM »
Sinh vật ngoài Trái Đất là những sinh vật có thể tồn tại và có nguồn gốc bên ngoài Trái Đất. Sự tồn tại của nó cho đến nay vẫn chỉ là giả thuyết: vẫn chưa có bằng chứng cụ thể về sự sống ngoài Trái Đất như các nhà khoa học đã công nhận một cách rộng rãi.

Hầu hết các nhà khoa học cho rằng sự sống ngoài Trái Đất nếu có tồn tại thì sự tiến hóa của nó đã xuất hiện độc lập ở nhiều nơi khác nhau trong vũ trụ. Có giả thuyết khác cho rằng sự sống ngoài Trái Đất có thể có nguồn gốc ban đầu chung, và sau đó phân tán khắp vũ trụ, từ hành tinh có thể sống được này tới hành tinh có thể sống được khác. Lại có đề xuất cho rằng nếu chúng ta tìm thấy được sự sống và nền văn minh ngoài Trái Đất gần chúng ta thì sự sống và nền văn minh đó hoặc đã phát triển hơn chúng ta rất nhiều hoặc vẫn còn rất sơ khai hơn chúng ta rất nhiều.

Sinh vật ngoài Trái Đất theo suy đoán có thể thay đổi từ dạng giống con người hay quái dị như trong phim khoa học viễn tưởng cho đến dạng sống nhỏ hơn là vi khuẩn và virus.

Sinh vật ngoài Trái Đất, nhất là dạng có trí tuệ, thường ăn sâu vào văn hóa với tên gọi "người ngoài Trái Đất".

Khả năng tồn tại sự sống ngoài Trái Đất

Theo sinh học vũ trụ
Tất cả sự sống trên Trái Đất đều có cơ sở từ nguyên tố carbon với nước làm dung môi, trong đó xảy ra các quá trình hóa sinh. Sự sống ngoài Trái Đất cũng có thể sử dụng các thành phần này. Tuy nhiên, các nguyên tố và dung môi khác cũng có thể làm cơ sở cho sự sống. Silicon có vẻ thay thế tương tự cho carbon về điều này, mặc dù vẫn chưa chắc chắn lắm. Có giả thuyết cho rằng sự sống dạng silicon có thể tồn tại được ở nhiệt độ cao, chẳng hạn trong các hành tinh gần Mặt Trời hơn. Dạng sống dựa vào nguồn ammoniac thay vì nước cũng đã được đưa ra xem xét nhưng hiếm khi hơn. Không loại trừ có thể tìm thấy nguyên tố khác trong vũ trụ có cách phản ứng tương tự như carbon hay hoàn toàn mới, và xa hơn nữa, có thể sự sống ngoài Trái Đất, ngoài các dạng phụ thuộc vào các phản ứng hóa học còn có dạng chỉ phụ thuộc vào các hiện tượng vật lý.

Bên cạnh các nguyên tố và dung môi, sự sống còn cần tới nguồn năng lượng. Năng lượng từ một ngôi sao ở gần là rõ ràng hơn cả nhưng không phải duy nhất. Năng lượng địa nhiệt của một hành tinh có thể cung cấp cho sự sống dưới bề mặt và trong lòng đại dương.

Giả thuyết về hình thái và tiến hóa
Cùng với khả năng tồn tại sự sống ngoài Trái Đất về phương diện hóa học, vẫn còn có câu hỏi hóc búa về tiến hóa và hình thái. Sinh vật ngoài Trái Đất có thể có hình dạng như thế nào? Khoa học viễn tưởng đã thể hiện điều này từ lâu theo hai hướng: rất nhân tính giống con người hoặc (thường trong trường hợp nói về sự xâm lược hung ác) dạng như bò sát. Sinh vật ngoài Trái Đất mô tả từ xa xưa có da xanh sáng hoặc xám, với cái đầu to, bốn chi rõ rệt và bốn tới năm ngón chi- ví dụ, về cơ bản giống con người với một bộ não to ám chỉ trí tuệ khủng khiếp. Khoa học viễn tưởng cũng hình dung về các dạng sinh vật ngoài Trái Đất khác như giống thú vật hoặc côn trùng.


Niềm tin vào sự sống ngoài Trái Đất
[sửa]
Tư tưởng cổ đại và cận đại
Niềm tin vào sự tồn tại của sự sống ngoài Trái Đất có lẽ đã có từ thời Ai Cập, Babylon và Sumer cổ, mặc dù trong các xã hội đó, các lý thuyết về nguồn gốc vũ trụ coi vũ trụ là siêu nhiên và hình tượng sinh vật ngoài Trái Đất khó phân biệt được với chúa, quỷ... Người phương Tây đầu tiên có lý luận hệ thống về vấn đề này là Thales và học trò của ông Anaximander, thế kỷ thứ 7 và 6 trước Công Nguyên. Thales cho rằng vũ trụ đầy các hành tinh và vì vậy, có thể có sự sống ngoài Trái Đất. Thuyết nguyên tử Ai Cập cho rằng một vũ trụ vô tận có thể có vô số thế giới có người ở. Các công trình vũ trụ học Hy Lạp cổ chống lại ý tưởng về sự sống ngoài Trái Đất, tuy vậy thuyết vũ trụ địa tâm dành đặc quyền cho Trái Đất và sự sống trên Trái Đất, "dường như" có phần diễn tả rằng sự sống ngoài Trái Đất là có thể tồn tại.

Khi Thiên chúa giáo trải rộng quyền lực khắp châu Âu, mọi lý luận trở nên giáo điều, mặc dù nhà thờ không có tuyên bố chính thức nào về sinh vật ngoài Trái Đất thì tư tưởng dị giáo vẫn lưu truyền từ đời này qua đời khác. Năm 1277, giám mục Paris là Etienne Tempier có quan điểm lật đổ Aristotle ở chỗ: Chúa có thể đã tạo ra hơn một thế giới.

 
Giordano BrunoTuy vậy, chỉ khi việc phát minh ra kính viễn vọng và tư tưởng của Nicolaus Copernicus trong thuyết vũ trụ địa tâm, Trái Đất mới thực sự được biết tới là một hành tinh đơn thuần trong vô số thiên thể vũ trụ, sự sống ngoài Trái Đất dần hướng tới cái nhìn khoa học. Vào thế kỷ 16, Giordano Bruno cho rằng vũ trụ vô tận và mọi ngôi sao đều được các hành tinh của nó bao quanh. Đầu thế kỷ 17, nhà thiên văn người Tiệp là Antonín Maria Sírek của Reity nghĩ rằng:" nếu sao Mộc có... người ở... thì họ chắc hẳn to lớn và đẹp hơn cư dân Trái Đất, hoàn toàn cân xứng với mẫu tiêu chuẩn hai vòng tròn."


Sinh vật ngoài Trái Đất với thời hiện đại
Niềm tin vào sự sống ngoài Trái Đất tiếp tục kéo dài tới thế kỷ 20. Quả thật vậy, khoảng ba thế kỷ sau cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, đầu thời kỳ con người hiện đại tìm hiểu bản chất Hệ Mặt Trời, nhiều nhà thiên văn học và các tác giả lý luận khác, ít nhất là một số người theo tôn giáo, cũng như đa số công chúng đều tin rằng sự tồn tại của sinh vật ngoài Trái Đất là hoàn toàn có thật. Xu thế này cuối cùng cũng bị chững lại sau các cuộc thăm dò không gian: Mặt Trăng rõ ràng bị loại ra khỏi danh sách, trong khi sao Kim và sao Hỏa- hai ứng cử viên sáng giá cho sự sống ngoài Trái Đất hiện tại- cho thấy không có bằng chứng rõ ràng. Các mặt trăng trong của Hệ Mặt Trời đã được viếng thăm, cũng không có dấu hiệu sự sống mặc dù đã quan sát thấy các hoạt động địa chất thú vị (núi lửa trên mặt trăng Io, bầu khí quyển dày của mặt trăng Titan, biển trên mặt trăng Europa) đã giảm hi vọng tìm thấy một tiềm năng cho sự sống ngoài Trái Đất. Cuối cùng, sự thất bại của chương trình SETI trong việc dò tìm tín hiệu radio của nền văn minh có trí tuệ khác, sau bốn thập kỷ nỗ lực đã đẩy niềm lạc quan từ đầu kỷ nguyên vũ trụ xuống vực thẳm và là cơ hội cho mọi người chỉ trích: tìm kiếm sinh vật ngoài Trái Đất là hành động phản khoa học.

Tóm lại, viễn cảnh về những nền văn minh có trí tuệ du hành khắp nơi trong không gian vũ trụ trong Hệ Mặt Trời đối với các nhà khoa học thật mơ hồ. Nhưng trong khi đó, dữ liệu truyền về từ các cuộc thăm dò không gian và các tiến bộ trong phương pháp tìm kiếm được khoa học chấp nhận cũng vẽ ra một viễn cảnh về tiêu chuẩn mới về tiềm năng có thể có sự sống trên các hành tinh khác, ít nhất thì cũng còn rất rất nhiều hành tinh khác, mặc dù sinh vật ngoài Trái Đất có tồn tại hay không vẫn là câu hỏi hóc búa.

Hiện nay, nhiều người đam mê lĩnh vực này vẫn tin rằng sinh vật ngoài Trái Đất đã và vẫn thường viếng thăm Trái Đất. Một số người nghĩ rằng vật thể bay không xác định (UFO) quan sát thấy trên bầu trời thực tế là hình ảnh của phi thuyền của sinh vật ngoài Trái Đất và thậm chí còn tuyên bố là đã từng gặp người ngoài Trái Đất. Crop circle cũng được cho là do hành động của sinh vật ngoài Trái Đất mặc dù nhiều hình về sau đã phát hiện là giả mạo.

Khả năng tồn tại sự sống dạng nguyên thủy (vi sinh vật) ngoài Trái Đất ít gây tranh cãi hơn mặc dù hiện nay không có bằng chứng trực tiếp nào được tìm thấy. Có bằng chứng gián tiếp về sự tồn tại sự sống nguyên thủy trên sao Hỏa, tuy vậy, kết luận cuối cùng từ bằng chứng này vẫn còn gây nhiều tranh cãi.


Tìm kiếm sự sống ngoài Trái Đất
Công việc tìm kiếm sự sống ngoài Trái Đất đang được tiến hành theo hai hướng khác nhau: trực tiếp và gián tiếp.


Tìm kiếm trực tiếp
Các nhà khoa học đang tìm kiếm chứng cứ cho sự tồn tại của dạng sống đơn bào trong Hệ Mặt Trời, trong đó đáng chú ý là bề mặt sao Hỏa và các sao băng đã rơi xuống Trái Đất. Có một nhiệm vụ thực thi trên Europa, một trong những vệ tinh của sao Mộc với lớp nước dưới bề mặt, có thể có sự sống.

Có một số bằng chứng hạn chế cho thấy sự sống dạng vi khuẩn có thể tồn tại hoặc đã từng tồn tại trên sao Hỏa. Một thí nghiệm trên tàu Viking ghi nhận khí gas bốc ra từ đất sao Hỏa bị nung nóng có thể thích hợp với sự xuất hiện của một số vi khuẩn. Tuy vậy, sự thiếu chứng cứ vững chắc từ các cuộc thí nghiệm khác trên tàu Viking cho thấy đó là do phản ứng hóa học vô sinh thì hợp lý hơn. Việc giản thích có thể dẫn đến nhiền tranh luận. Độc lập với mọi thí nghiệm nói trên, năm 1996, những cấu trúc giống như vi khuẩn đã được khám phá trên thiên thạch ALH84001, tạo thành từ đá bắn ra từ sao Hỏa. Báo cáo này cũng gây ra nhiều tranh luận.

Tháng 2 năm 2005, các nhà khoa học NASA đã báo cáo rằng họ tìm thấy chứng cứ có sức thuyết phục về sự tồn tại của sự sống trên sao Hỏa. Hai nhà khoa học căn cứ vào dấu vết methane tìm thấy trong khí quyển sao Hỏa tương tự như sản phẩm methane của một số dạng vi sinh vật trên Trái Đất.


Sự sống ngoài Trái Đất trong Hệ Mặt Trời
Nhiều thiên thể trong Hệ Mặt Trời được cho là dường như có sự sống. Trong danh sách dưới đây, ba trong số năm thiên thể là vệ tinh, và được cho là có chứa chất lỏng trong lòng đất, nơi mà sự sống có thể giống như dưới biển sâu.

Sao Kim - hành tinh thứ hai tính từ Mặt Trời - Carbonyl sulfide, nền tảng cho sự sống vừa mới được tìm thấy trong khí quyển sao Kim.
Sao Hỏa - hành tinh thứ tư tính từ Mặt Trời - có nước dạng lỏng tồn tại trong quá khứ và vẫn còn nước dạng lỏng ở dưới bề mặt. Gần đây, methane được tìm thấy trong khí quyển sao Hỏa. Xem bài chính: Sự sống trên sao Hỏa.
Titan - vệ tinh lớn nhất của sao Thổ, vệ tinh duy nhất có một bầu khí quyển đáng chú ý. Các khám phá mới nhất chỉ ra rằng không có biển bao phủ trên đó nhưng có thể tồn tại các hồ hydradcarbon theo mùa.
Europa - vệ tinh lớn thứ tư của sao Mộc - dường như có một biển muối dưới lớp vỏ băng mỏng. Nếu như vệ tinh này có sự sống, nhiều hy vọng có thể tìm thấy dạng sống tương tự như ở các miệng núi lửa trên Trái Đất. Hơn nữa, các nhà sinh học vũ trụ đang hy vọng tìm thấy dạng sống kỵ khí dưới vùng biển ở đây nhờ khuấy tung bề mặt băng của mặt trăng này.
Enceladus - vệ tinh lớn thứ sáu của sao Thổ - đã quan sát thấy các hoạt động địa chất cùng với nước ở dạng lỏng và các mạch nước tại cực nam.
Nhiều thiên thể khác cũng được cho là có dấu hiệu sự sống dạng vi sinh vật. Ví dụ có giả thuyết cho là có sự sống trong khí quyển của sao Kim hay có thể tồn tại sự sống trên các sao chổi, giống như một vài loại vi trùng trên Trái Đất sống sót thành công theo như một cuộc nghiên cứu Mặt Trăng trong nhiều năm. Tuy vậy, không có nhiều hy vọng rằng sinh vật đa bào phức tạp có thể tồn tại được dưới các điều kiện đó.

Đối đầu với sinh vật ngoài Trái Đất
Nếu như sinh vật có trí tuệ ngoài Trái Đất được tìm thấy và có thể liên lạc được với chúng, con người và chính phủ của mình phải xác định làm gì và làm thế nào với mối quan hệ đó. Quy tắc ứng xử khi đối đầu với sinh vật ngoài Trái Đất và vấn đề lãnh thổ trong đó đã được các tác giả Michael Salla và Alfred Webre phát triển. Xem liên lạc với nền văn minh ngoài Trái Đất.


Offline aily

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 143
  • và đủ lớn để mong bé lại!!!
Hồi âm: Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Chín 07, 2006, 12:53:25 AM »
đang giới thiệu về hóa sinh sao nhảy qua sinh vật ngoài trái đất thế :D
Aily

Offline Hieuclass

  • Nhóm Tông Đồ đội trưởng
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 250
  • Không bao giờ thất vọng
    • Email
Hồi âm: Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Mười 30, 2006, 04:24:46 PM »

 Cảm ơn  viva_forever_9471 đã giới thiệu cho mọi người về hóa sinh . Đó là ngành rất gần gũi với đời sông chúng ta lại dễ kiếm việc làm nữa ;D

 Cho hỏi 1 câu Hóa sinh và Sinh Hóa khác nhau ở điểm nào vậy?

Hieuclass

Offline aily

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 143
  • và đủ lớn để mong bé lại!!!
Hồi âm: Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Mười 31, 2006, 11:48:57 PM »


 Cho hỏi 1 câu Hóa sinh và Sinh Hóa khác nhau ở điểm nào vậy?

mình chỉ nghe nói Hóa sinh chứ chưa nghe Sinh hóa bao giờ
theo mình, cả hai là một và chỉ gọi là Hoa Sinh
Aily

Offline Hieuclass

  • Nhóm Tông Đồ đội trưởng
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 250
  • Không bao giờ thất vọng
    • Email
Hồi âm: Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Mười Một 01, 2006, 08:16:39 AM »

  Hiếu chắc chắn là 2 cái khác nhau, chỉ là chưa rõ khác nhau cái gì thôi. Sau này tìm được đáp án Hiếu nói cho.
Hieuclass

Offline viva_forever_9471

  • Thích... Hóa học
  • Bài viết: 5
    • Email
Re: Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Một 18, 2007, 10:13:40 AM »
^^ lâu rồi hông lên h2vn mình xin lỗi các bạn

trong đề tài này , mình chỉ sưu tầm và giới thiệu về ngành H-S (ngành mình thix nhất)có gì sai sót mong các bạn luợng thứ
                :)

Offline sao băng lạnh giá

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 192
    • Email
Re: Giới thiệu về ngành Hóa-Sinh
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Một 18, 2007, 10:53:13 PM »
 ;D Hóa sinh vốn là chuyên ngành nghiên cứu hiện nay của mình nè.
Do dịch từ chữ Biochemistry ra nên cần phải gọi là Hóa sinh mới thật là chính xác (tiền tố Bio- giữ vai trò là tính từ). Đây cũng là thuật ngữ được dùng rộng rãi.
Còn trong thực tế, đúng là trước đây, do giữ quan điểm về vai trò khác nhau của Hóa và Sinh trong môn học này mà người ta (chính xác là VN ta) đã dùng cả 2 thuật ngữ Hóa sinh và Sinh hóa.
Trong đó, Hóa sinh nhấn mạnh yếu tố Hóa học hơn, thường dùng để giảng dạy cho SV khoa Hóa (chuyên ngành Hóa thực phẩm, Hóa học các hợp chất thiên nhiên,....) còn Sinh hóa nhấn mạnh yếu tố Sinh học hơn, dùng để giảng dạy cho SV khoa Sinh (Sinh hóa phân tử, Sinh hóa Vi sinh vật, Sinh hóa y - dược học, Sinh hóa động vật, ....)
Blog Hóa học hữu ích: http://my.opera.com/saobanglanhgia/blog

Offline vinhcntp

  • --------H2VN --------- hội tụ niềm đam mê
  • Global Moderator
  • Gold Member H2VN
  • *****
  • Bài viết: 308
  • Với Hóa học - chúng ta là một
    • Hãy bầu chọn cho vịnh Hạ Long
    • Email
Hóa sinh
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Một 29, 2008, 05:42:05 PM »
Mở đầu

1. Lịch sử, đối tượng, nhiệm vụ của hoá sinh

     Ở thế kỷ XIX, khi mà hoá học phát triển như vũ bão, thì ở ranh giới giữa   sinh học và hoá học đã xuất hiện một lĩnh vực khoa học mới nhằm nghiên cứu thành phần hoá học của cơ thể sống và những quá trình chuyển hoá hoá học của các chất và của năng lượng trong quá trình hoạt động sống xảy ra trong cơ thể của chúng. Lĩnh vực khoa học này được gọi là hoá học sinh vật hoặc vắn tắt hơn- hoá sinh học (biochemistry).
     Có thể nói rằng, hoá sinh học là một phần lĩnh vực của khoa học cuộc sống. Nhiệm vụ của chúng nhằm nghiên cứu các hiện tượng sống bằng các phương pháp hoá học.
     Đây là một khoa học trẻ tuổi của thế kỷ XX đang trên đà phát triển mạnh mẽ và đang xâm nhập vào nhiều lĩnh vực mũi nhọn của sinh vật học, y học và nông học... Hoá sinh học mới trở thành một khoa học độc lập vào nửa sau thế kỷ thứ XIX mặc dầu ngay từ thời thượng cổ con người đã làm quen với nhiều quá trình hoá sinh học trong cuộc sống hàng ngày của họ (nấu rượu, nướng bánh mì, thuộc da, làm dấm, tương, nước mắm...).
     Tuy vậy chỉ mới gần đây, tất cả mọi quá trình sinh học này mới được nghiên cứu một cách khoa học và được giải thích một cách đầy đủ.
     Có thể nói, sự xuất hiện môn hoá sinh học là kết quả tất yếu của sự phát triển và phối hợp giữa hoá học và sinh vật học.
     Tính chất và phương hướng của hoá sinh học là nghiên cứu trên cơ thể sống, tìm ý nghĩa chức phận của tất cả mọi thành phần, mọi sản phẩm chuyển hoá, trên cơ sở đó, tìm hiểu sâu về:
- Mối liên quan giữa quá trình hoá học và sinh vật học.
- Mối liên quan giữa cấu trúc và chức năng sống của các cơ quan trong cơ thể.
- Cơ chế điều hoà toàn bộ quá trình sống.
     Tuỳ theo đối tượng nghiên cứu mà người ta phân chia hoá sinh học thành hoá sinh động vật, hoá sinh thực vật, hoá sinh vi sinh vật và y hoá sinh.
Trên mỗi đối tượng, hoá sinh nghiên cứu song song hai mặt "tĩnh" và "động".
Việc nghiên cứu các chất có trong thành phần của cơ thể sinh vật là nhiệm vụ của tĩnh hoá sinh. Tĩnh hoá sinh gắn liền rất mật thiết với hoá học sinh hữu cơ. Đây chính là hóa sinh mô tả.
     Còn việc nghiên cứu các chuyển hóa hoá học xảy ra trong quá trình hoạt động sống của cơ thể nghĩa là nghiên cứu về mặt hoá học của sự trao đổi chất trong mối liên quan với toàn bộ cơ thể và môi trường xung quanh là nhiệm vụ của động hoá sinh.
     Tĩnh hoá sinh và động hoá sinh liên quan với nhau rất chật chẽ - việc nghiên cứu các quá trình hóa sinh học sẽ vô nghĩa nếu không có sự nghiên cứu các chất tham gia trong các quá trình này.
     Hoá sinh mô tả gắn liền với sự phát triển của hoá hữu cơ. Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, hàng loạt các hợp chất hữu cơ đã được tách ra từ thực vật và từ các tổ chức động vật: citric acid, malic acid, tatric acid, oxalic acid, urea và các alkaloid. Người ta đã xác nhận rằng trong thành phần của tất cả các chất béo đều chứa glycerin. Trong thời gian này, Lavoisier cũng đã giải thích được cơ chế hoá học của sự hô hấp và sự cháy. Ông đã chứng minh rằng, lượng nhiệt do các cơ thể sống sản sinh ra cũng bằng lượng nhiệt thu được khi đốt cháy các chất dinh dưỡng bên ngoài cơ thể (khi hô hấp trong cơ thể, carbon và hydrogen bị oxy hóa từ từ, quá trình này rất giống sự cháy bình thường).
     Tiếp theo các công trình chiết xuất, tinh chế và phân tích các chất hữu cơ là những công trình nghiên cứu tổng hợp các chất hữu cơ. Quan điểm cho rằng, vật chất sống khác với vật chất không sống đã bị đánh đổ hoàn toàn khi mà Wöhler vào năm 1828 đã điều chế được carbamid (urea) bằng phương pháp nhân tạo từ các chất vô cơ. Phát minh của Wöhler là bằng chứng cho rằng để tạo nên chất sống không cần thiết bất kỳ một "lực" sống nào (vis vitalis) và như vậy đã mở đường hướng để cho hoá sinh phát triển. (Thời kỳ này khoa học đi sâu vào sự sống đang bị khống chế và kìm hãm bởi thuyết "hoạt lực" cho rằng các chất hữu cơ tham gia vào cấu tạo của cơ thể sinh vật chỉ có thể tạo ra bởi một "đấng siêu tự nhiên").
     Trong suốt khoảng hai thế kỷ trước, sự phát triển của hoá sinh học xảy ra tương đối chậm. Sự bắt đầu thật sự của hoá sinh học thường được coi là vào năm 1866 khi Tübigen thành lập bộ môn hoá sinh đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Hoppe - Seyler (ở nước Đức). Số đầu tiên của tạp chí mang tính chất hoá sinh học được ra mắt vào năm 1877 (Hoppe - Seyler's Zeitschrift für physiologische Chemie). Tiền đề của nó là sự hoạt động của Liebig ở Đức và trường phái hoá học hữu cơ của ông. Bằng cách sử dụng các phương pháp nghiên cứu mới, Liebig đã xác định thành phần của nhiều thực phẩm, đã chia các chất chứa trong thực phẩm thành protein, glucid, lipid và đã xác định hàm lượng nitrogen trong protein. Sau những công trình nghiên cứu của Pasteur về sự lên men, các nhà khoa học đã chú ý nhiều đến bản chất enzyme vốn xúc tác cho các quá trình khác nhau trong cơ thể sống. Nhiều công trình có giá trị khác, trong đó có công trình của Fischer đã đi vào cấu trúc và tổng hợp glucid, lipid, amino acid và protein, Pavlov trong thời gian này đã nghiên cứu các cơ chế enzyme và Miescher thì nghiên cứu nucleic acid. Thời gian này người ta cũng đã phát hiện ra vitamin.
     Việc xác lập nên thành phần hoá học của thực vật, việc phát hiện ra các enzyme và việc làm sáng tỏ vai trò của chúng trong sự trao đổi chất, sự phát hiện ra vitamin và hormon, sự phát triển của hoá học về amino acid và protein, về glucid, lipid đã tạo điều kiện cho việc hình thành động hoá sinh và chính nhờ sự phát triển của động hoá sinh mà người ta đã xây dựng được những quan điểm thống nhất về các quy luật chung của các quá trình trao đổi chất và của những chuyển hoá năng lượng trong cơ thể sinh vật.
     Ngày nay chúng ta biết rõ rằng, tất cả các chất xây dựng nên tế bào sống, đều thay đổi không ngừng. Đặc trưng của sự sống là sự biến đổi hoá học.
Như vậy hoá sinh học hiện đại trước hết là động hoá sinh. Trước tiên đó là những hiện tượng trao đổi chất, là sự chuyển hoá và phân giải các chất dinh dưỡng nhằm thu nhận năng lượng hoá học cũng như để xây dựng vật chất của tế bào. Các phản ứng hoá học này được xảy ra nhờ tác dụng xúc tác của những enzyme, vì vậy việc nghiên cứu các enzyme chiếm một phần quan trọng trong hoá sinh học.
      Thứ đến thuộc về động hoá sinh là điều hoà hoá học. Điều này được xảy ra trên con đường các sản phẩm trao đổi chất xác định, thường là cùng với sự tham gia của những chất đặc biệt là hormon được tạo thành trong các tuyến nội tiết.
     Thứ ba thuộc về động hoá sinh là các quá trình hoá học được xảy ra gắn liền với các cấu trúc và thực hiện các chức năng của các phần tử cấu trúc.
     Việc xác định trình tự của amino acid trong protein và cấu trúc không gian của protein (Sanger, Perutz và Kendrew) cũng như cấu trúc của nucleic acid (Chargaff, Watson và Crick) là bắt đầu một giai đoạn mới trong sự phát triển của hoá sinh học tức là thời kỳ của sinh học phân tử. Một điều rõ ràng là không thể tách riêng sinh học phân tử và hoá sinh học ra khỏi nhau. Về cơ bản mà nói thì "sinh học phân tử" chỉ là tên mới, nhưng là một phân ngành riêng của hoá sinh. Nó cố gắng làm sáng tỏ các hiện tượng sống cơ bản trên cơ sở phân tử có nghĩa là trên cơ sở hoá sinh học. Chính vì vậy theo quan niệm hiện đại thì hoá sinh học là khoa học nghiên cứu cơ sở phân tử của sự sống.
2. Thành phần hoá học của cơ thể sống
     Trong cơ thể sống, nước là thành phần quan trọng nhất. Trừ một số mô hoặc loại tế bào (các hạt thực vật, các bào tử mô xương, mô mỡ), lượng nước của chúng không đạt đến 80%, còn lượng nước của một số sinh vật khác cũng vượt quá 90% (toàn bộ lượng nước của cơ thể con người khoảng 50-70%). điều cần lưu ý là ở một số dạng sống bậc thấp, các virus, các bào tử sống qua trạng thái khô héo hoàn toàn, song trong trạng thái không có nước thì các hoạt động sống của chúng bị hoãn lại.
     Từ các cơ sở trên chúng ta có thể nói rằng các quá trình hoá học đặc trưng cho sự sống được xem như là những phản ứng tiến hành ở trong môi trường nước.
Ngoài ra người ta đã phát hiện được hơn 60 nguyên tố có trong cơ thể sống. Các nguyên tố này có trong cơ thể với những lượng rất khác nhau. Một số được coi là những nguyên tố cần thiết để xây dựng cơ thể và phục vụ cho sự phát triển bình thường của cơ thể; một số khác thì chức năng sinh học của chúng chưa được biết rõ; số còn lại được coi như do sự xâm nhập ngẫu nhiên. C H O N S P Cl Ca Mg K Na đều là những nguyên tố rất cần thiết đối với cơ thể sống, 11 nguyên tố này chiếm gần 100% khối lượng toàn phần của thực vật và động vật. Những nguyên tố ở dạng vết được gọi là yếu tố vi lượng, vai trò quan trọng của chúng đối với cuộc sống cũng dần dần được sáng tỏ đó là những ion kim loại nặng Co, Zn, Mn, Mo; trong trường hợp các cơ thể động vật bậc cao còn có I, ở các cây xanh thì có B. Cần nhớ rằng, trừ I và Mo, các nguyên tố đã được kể đến đều nằm trong số 30 nguyên tố đầu của hệ thống tuần hoàn và hơn một nửa các nguyên tố có số thứ tự đến 30 có vai trò sinh học quan trọng.
     Nhiều hợp chất hữu cơ trước đây được coi như là riêng biệt thuộc giới sinh vật, nay cũng đã được nghiên cứu, tổng hợp trong phòng thí nghiệm. Đó là các protein, nucleic acid, glucid, lipid, enzyme và vitamin. Đây là những chất chiếm vị trí hàng đầu trong sinh học và cũng chính là đối tượng nghiên cứu chính của các chương trong giáo trình này.
3. Mối quan hệ của hoá sinh với các ngành khoa học của sinh học, nông nghiệp và y học
     Trong sinh học có nhiều ngành, nhưng nghiên cứu sinh học ngày nay là nghiên cứu ở mức độ phân tử. Hoá sinh là khoa học nghiên cứu sự sống ở mức độ phân tử, cho nên có thể nói bất cứ chuyên ngành nào của sinh học như động vật học, thực vật học, vi khuẩn học, sinh lý học, tế bào học, mô phôi học... đều cần phải trang bị kiến thức và kỹ thuật hoá sinh để nghiên cứu khoa học chuyên ngành mình. Do đó khi nói đến các chuyên ngành của sinh học hiện đại thì trước hết phải nói đến hoá sinh trong những năm gần đây. Ngay cả công nghệ gen, công nghệ enzyme cũng chính là lãnh địa của hoá sinh. Chẳng hạn đối với động vật, thực vật, vi sinh vật, ngày nay muốn nghiên cứu phân loại chính xác các giống chủng cũng phải dùng các chỉ tiêu phân tử một số protein, enzyme hay nucleic acid trong ty lạp thể. Đối với nông nghiệp muốn tăng năng suất cây trồng phải chú ý đến quá trình hoá sinh quang hợp, quá trình hoá sinh nảy mầm,quá trình hoá sinh phát dục, quá trình chuyển hoá, sinh tổng hợp các chất tạo nên hạt, quả, quá trình tác động hoá sinh của các cytokinin đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Đối với vật nuôi cũng vậy, muốn có năng suất thịt, sữa, trứng cao, người chăn nuôi phải hiểu được các quá trình hoá sinh phát triển đến từng giai đoạn phát triển của con vật, đến từng bộ phận cơ bắp, buồng trứng của chúng để có sự tác động mạnh mẽ. Đối với y dược học, vấn đề chủ chốt nghiên cứu bệnh nguyên, bệnh lý, chẩn đoán và điều trị bệnh cũng đều liên quan chặt chẽ đến hoá sinh, tức liên quan đến sự thay đổi các phân tử bệnh lý xảy ra trong cơ thể và tìm những chất hoạt tính sinh học có tác dụng phòng chống hoặc chữa khỏi bệnh.
     Vì vậy có thể nói hoá sinh là gốc, là cơ bản để giúp hiểu sâu sắc các khoa học khác của sinh học, nông nghiệp và y học.
4. Một số thành tựu nổi bật của hóa sinh trong thời gian gần đây
     Trong quá trình phát triển của mình, nhiều ngành nhỏ của hoá sinh đã ra đời.Về hoá sinh một số chức phận hệ thống quan trọng có hoá sinh miễn dịch, hoá sinh di truyền, đặc biệt một ngành mới gần đây đã xuất hiện đó là công nghệ hoá sinh. Các lĩnh vực nhỏ của hoá sinh đã đóng góp một cách tích cực vào thành tích chung của hoá sinh. Nhiều giải thưởng Nobel đã ghi công các kết quả nghiên cứu quan trọng, mở ra nhiều cánh cửa mới cho sự phát triển của hoá sinh như hoá sinh của hệ thống miễn dịch của Snell, Bena Cerraf và Dausset năm 1980. Cùng năm ấy Paul Berg cũng được giải thưởng Nobel bởi công trình nghiên cứu gắn các mẫu DNA. Năm 1981-1982, thành tựu tổng hợp gen α - interferon gồm 514 đôi base bởi Leicester đã được thực hiện. Từ đó đến nay hàng loạt công trình khác về nghiên cứu hoá sinh đã được áp dụng trong lĩnh vực khoa học.
     Gần đây, năm 1997 giải thưởng Nobel y học trao cho Staley Prusiner về công trình nghiên cứu prion, một khái niệm mới về "nhiễm khuẩn", gây bệnh não thể xốp ở người và động vật. Prion (PrP) là protein tồn tại hai dạng đồng phân alpha và bêta. Ở cơ thể khoẻ mạnh thì PrP có dạng alpha còn khi cơ thể bị bệnh thì dạng alpha bị duỗi ra và xếp thành các băng song song gọi là PrP bêta. Dạng này rất bền với enzyme tiêu hoá và không bị phá huỷ ở nhiệt độ cao (đến 200oC). Do vậy prion như là tác nhân gây bệnh hoàn toàn mới được bổ sung vào danh sách những tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, nấm. Công trình này đưa ra khái niệm bệnh lý phân tử hoàn toàn mới trong sinh học và y học. Công trình không chỉ phát hiện ra tác nhân gây bệnh xốp não mà còn đặt nền móng cho sự tìm hiểu cơ chế mất trí liên quan đến bệnh già và bệnh Alzheimer, cũng như đặt nguyên tắc chặt chẽ cho việc ghép các cơ quan phủ tạng của động vật cho con người và thuốc men chế từ động vật dùng cho người.


Đơn giản, chúng ta là H2VN

 

Bác sĩ trực tuyến tu dien thuoc

drug dictionary thuocsi.com umeken beautiful places in the world trathuoc.com

Tư vấn