Loading

Like H2VN trên Facebook

Tác giả Chủ đề: Những phát minh hóa học  (Đọc 18668 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline ThanhThao

  • Mơ.
  • Global Moderator
  • Yêu... Hóa học
  • *****
  • Bài viết: 105
  • Sum vầy
    • My Blog
Những phát minh hóa học
« vào lúc: Tháng Tám 16, 2006, 09:34:24 PM »
 

Một hãng của Đức đã tổ chức sản xuất trang bị mới cho lính dù có khả năng làm thay đổi hẳn chiến thuật thực hiện các chiến dịch bí mật khi dùng quân đổ bộ đường không. Bộ cánh cá nhân nhẹ nhàng sẽ cho phép lính dù tự bay trên khoảng cách lớn sau khi rời khỏi máy bay.

 
Chuyến bay thử nghiệm năm 2003 của Felickss Baumgartner. (Ảnh: BBC)
Tính chất khí động học của bộ cánh giúp cho người lính khi ra khỏi máy bay trên độ cao 10km có thể tiếp đất ở cách xa địa điểm tung quân đến 60km. Điều đó có ý nghĩa và ưu thế rất lớn so với cách nhảy dù cũ vì khi thực hiện các chiến dịch bí mật, máy bay thả quân có thể không cần đến gần khu vực của đối phương, mà chỉ cần thả đội biệt kích ở ngoài vùng kiểm soát của radar đối phương. Các lính dù sẽ tự bay tới vùng cần tiếp đất, trong khi radar hầu như không thể bắt được những mục tiêu nhỏ như vậy. Trước khi tiếp đất, người lính tung dù ra và tiếp đất theo cách bình thường.

Cuộc trình diễn đầu tiên về khả năng của bộ cánh cá nhân diễn ra vào năm 2003. Khi đó nhà nhảy dù chuyên nghiệp người Áo Felicks Baumgartner đã tự mình bay qua eo biển Manche. Anh nhảy khỏi máy bay từ độ cao 10km khi nó còn ở trên vùng Duvre, và 12 phút sau đã tiếp đất ở vùng Kale. Theo báo Daily Mail của Anh, tốc độ bay trung bình của bộ cánh khoảng 352km/giờ.

Kỹ thuật thả quân như vậy có nhiều ưu điểm so với những phương pháp bình thường. Với kiểu dù bình thường người ta cũng có thể thả quân ở khoảng cách lớn, song khi mở dù ở độ cao lớn người nhảy dù gặp phải nhiều khó khăn trong việc điều khiển dù. Thêm nữa, tốc độ xuống không cao và độ chính xác của điểm tiếp đất thấp. Nếu như sử dụng kỹ thuật rơi tự do, khi người nhảy chỉ mở dù vào thời điểm cuối cùng thì khoảng cách di chuyển theo chiều ngang trước khi mở dù bị giảm đi đáng kể.

Hiện tại, Hãng ESG của Đức, sau khi thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm, đã thiết kế xong mẫu để sản xuất hàng loạt bộ cánh cho lính dù. Bộ cánh có bề rộng 1,8m, được làm từ nhựa carbon. Tốc độ bay theo chiều ngang tối đa: 200km/giờ. Với trang bị này độ chính xác, khoảng cách và tốc độ thả quân tăng lên nhiều.

Chắc chắn quân đội Anh sẽ tiến hành các cuộc thử nghiệm cho mình và có thể Bộ Quốc phòng Anh sẽ trang bị sản phẩm của công nghệ mới này cho các đơn vị đặc nhiệm.

« Sửa lần cuối: Tháng Chín 06, 2006, 10:31:31 PM gửi bởi fowgy »

[/center]

Cộng đồng Hóa học H2VN

Những phát minh hóa học
« vào lúc: Tháng Tám 16, 2006, 09:34:24 PM »

Offline ThanhThao

  • Mơ.
  • Global Moderator
  • Yêu... Hóa học
  • *****
  • Bài viết: 105
  • Sum vầy
    • My Blog
Hồi âm: các phát minh vĩ đại của thế giới
« Trả lời #1 vào lúc: Tháng Tám 16, 2006, 09:39:47 PM »
Những phát minh khoa học độc đáo - 3/7/2006 10h:46

Được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, những phát minh khoa học độc đáo dưới đây đang góp phần làm thay đổi cuộc sống của chúng ta.

Du hành trong cơ thể người

 
Máy PillCam (Ảnh: elite-med)
 
Việc nội soi các cơ quan nội tạng của người bằng camera giấu trong một ống xông qua họng thường gây rất đau đớn cho bệnh nhân, và đối với một số cơ quan như ruột non thì phương pháp cổ điển này sẽ không thực hiện được. Mới đây, các nhà khoa học đã chế tạo thành công PillCam - máy camera tí hon - chỉ dài 26cm và rộng 11 cm. Đây là máy chụp hình nhỏ nhất, gồm một bóng đèn và một chip truyền tín hiệu. Máy PillCam không chỉ chụp những tấm hình rõ nét, mà còn có nhiều chức năng rất quý giá để phục vụ nền y học. Ví dụ từ trước tới nay, những bức hình chụp ruột non rất khó thực hiện vì ruột non dài khoảng 6m và nằm giữa bao tử và ruột già. Với máy PillCam áp dụng qua phương pháp nội soi từ nay không đau đớn, các bác sĩ đã có thể xác định bệnh nhanh chóng và dễ dàng.

Người máy cứu hỏa

 
(Ảnh: CAND)
Viện Người máy, thuộc Đại học Jiatong, Thượng Hải và Sở Cứu hỏa Thượng Hải vừa hợp tác chế tạo người máy sử dụng cho việc cứu hỏa. Với khối lượng 300 kg, người máy cứu hỏa có thể bước tới, lui liên tiếp 4 bước và rẽ trái, phải. Nó cũng có thể bước qua chướng ngại vật và leo lên cầu thang.

Mang theo 3 máy quay phim, robot này có thể quan sát được các điều kiện trên mặt đất và ở khu vực chung quanh, đồng thời gửi đi các thông tin cho người điều khiển. Robot còn được trang bị hai bộ cảm biến bằng sóng siêu âm chịu được lửa. Bộ cảm biến sẽ giúp người máy tránh các chướng ngại vật và di chuyển tới nơi an toàn. Một tính năng đặc biệt hữu ích cho những người lính cứu hỏa là chúng có thể kiểm tra và nhận dạng được các chất độc hại, tình trạng thiếu oxy và các vụ nổ.

Điều hòa nhiệt độ diệt virus cúm gia cầm

Đầu năm 2006, Hãng Điện tử LG Electronics đã tung ra thị trường máy điều hòa nhiệt độ diệt H5N1 với tên gọi Anti-A.I. Aircon có một màng lọc đặc biệt được phủ chất leuconostoc citreum chiết xuất từ kim chi. “Thử nghiệm 
(Ảnh: CAND)
 
cho thấy màng này có khả năng vô hiệu hóa tới 99% virus H5N1 trong không khí chỉ sau 30 phút” - Seo Seok-jang, người đứng đầu Phòng nghiên cứu điều hòa nhiệt độ của LG Electronics khẳng định.

Ngoài màng lọc đặc biệt, Anti-A.I. Aircon còn được trang bị các lớp lọc hiệu quả với những tác nhân diệt khuẩn tự nhiên được chiết xuất từ cây diếp cá. Đặc biệt, lớp màng lọc sử dụng ion bạc ở kích thước nano có thể loại bỏ những hợp chất hóa học nguy hiểm như formaldehyd và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC). Ngoài ra, còn có màng Plasma sử dụng điện áp cao để loại bỏ triệt để các loại vi tạp chất siêu nhỏ trong không khí. Ở nhiệt độ môi trường, virus H5N1 có thể sống tới 14 ngày trong không khí hoặc trong các hạt bụi nhỏ.

Máy tim - phổi nhân tạo nhỏ nhất thế giới

Với kích thước 20x30 cm 
(Ảnh CAND)
, máy tim - phổi nhân tạo tí hon MECC (Minimal Extracorporal Circulation) là một phát minh thành công nhóm các kỹ sư và bác sĩ thuộc Bệnh viện Đại học Regensburg. MECC có khả năng cứu các nạn nhân ngay khi họ được đem lên trực thăng cứu thương để đưa đến bệnh viện. Mathias Arlt, thuộc Đại học Regensburg, cho biết: “Thường thì các máy tim - phổi nhân tạo cao đến gần 1,5m và nặng khoảng 200 kg. Tuy các máy này rất hữu hiệu trong việc cấp cứu các nạn nhân đang gặp nguy hiểm vì tim và phổi ngưng hoạt động, nhưng lại quá cồng kềnh nên không thuận tiện cho việc di chuyển trong các chuyến bay cứu cấp. Trong khi đó, máy MECC của chúng tôi chỉ nặng độ 10 kg nên rất tiện cho các nhân viên trong toán cứu cấp mang theo, khi đi thi hành các công tác cứu người... Vừa mới đây, máy MECC đã chứng tỏ chức năng rất hữu hiệu trong trường hợp của một nữ bệnh nhân bị xuất huyết não, phải chuyển khẩn cấp bằng trực thăng từ một bệnh xá nhỏ đến Bệnh viện Đại học Regensburg để chữa trị. Nếu không được chuyển ngay thì bệnh tình của bệnh nhân này khó qua khỏi, và ngay cả nếu không có sự trợ lực của máy MECC và nếu di chuyển với một xe cứu cấp thông thường, thì sẽ không kịp nữa. Hiện thời, bệnh nhân đang tĩnh dưỡng tại nhà và trên đà phục hồi tốt...".

Máy MECC hiện nay chỉ mới được đem ra sử dụng tại Regensburg cho những trường hợp giải phẫu bypass và theo sự tiết lộ của các chuyên gia thì một lợi thế nữa của máy MECC là lượng máu phải truyền cho bệnh nhân giảm ít hơn và các biến chứng hậu giải phẫu cũng ít hẳn, so với các máy tim - phổi nhân tạo khác

lấy từ :http://www.khoahoc.com.vn/view.asp?Cat_ID=3&Cat_Sub_ID=0&news_id=6687

[/center]

Offline lienminhmaquy92

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 22
he he anh chị cho em góp dzui dzới nhé
« Trả lời #2 vào lúc: Tháng Tám 17, 2006, 08:12:05 AM »
Những phát minh làm biến đổi thế giới hiện đại

Trí tưởng tượng của các nhà nghiên cứu, sáng chế, chuyên gia thiết kế... đã góp phần thay đổi cuộc sống của toàn nhân loại và đang tiếp tục chắp cánh cho những ước mơ hiện tại trở thành sự thật trong tương lai.

Sự khởi đầu của kỷ nguyên hàng không

Ban đầu, họ bị coi là những kẻ lập dị khi tuyên bố đã xây dựng thành công máy bay có động cơ đầu tiên năm 1903. Báo chí từ chối gửi phóng viên đến kiểm chứng. Nếu ngay cả những bộ óc ưu việt nhất thế giới còn thất bại, ai mà tin hai người thợ sửa xe đạp người Mỹ ấy lại làm được điều đó? Dù bị gán cho biệt danh "kẻ nói phét, hoang tưởng", ước mơ về những chuyến bay vẫn cháy bỏng trong anh em nhà Wright (Wilbur và Orville). Sau khi tung đồng xu chọn người lái, Orville lên máy bay, khởi động và thực hiện chuyến bay được điều khiển bằng động cơ đầu tiên trong lịch sử hàng không vào ngày 17/12/1903.

Tàu Turbinia với động cơ turbin đầu tiên

Động cơ chạy bằng hơi nước vào cuối những năm 1800 rất cồng kềnh và hoạt động ồn ào. Kỹ sư người Ailen Charles Parsons đã xây dựng thành công một động cơ tua bin phản ứng và máy phát, có thể chuyển đổi trực tiếp hơi nước thành điện và đủ sức tiếp năng lượng cho toàn bộ hệ thống đèn đường của thành phố Cambridge. Khi công bố, tất cả những gì Parsons nhận được là lời mỉa mai của Bộ hải quân Anh. Tuy nhiên, trong một cuộc trình diễn năm 1897, Turbinia - con tàu đầu tiên được lắp động cơ tua bin - đã luồn lách qua cả một hạm đội hải quân với vận tốc không thể theo kịp: 34 hải lý/giờ, trước sự chứng kiến của nữ hoàng Anh Victoria.


Offline lienminhmaquy92

  • Nhớ... Hóa học
  • **
  • Bài viết: 22
Hồi âm: các phát minh vĩ đại của thế giới
« Trả lời #3 vào lúc: Tháng Tám 17, 2006, 08:13:11 AM »
Đồng hồ


Thời gian không chờ đợi con người, còn con người rõ ràng đã mất rất nhiều thời gian để tìm hiểu về nó. Trước khi đồng hồ cơ ra đời, thời gian được tính toán dựa trên sự chuyển động của trái đất trong mối quan hệ với mặt trời. Dấu hiệu xuất hiện của đồng hồ cơ đã bắt đầu từ hơn 2.000 năm trước đây ở Trung Hoa và sau đó được gắn với tên tuổi của một số nhà khoa học vĩ đại như Galileo, Hooke và Huygens. Đồng hồ cơ đã thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ và mọi hoạt động trên thế giới đều được đo bằng đồng hồ.

Thận nhân tạo

Cuối những năm 30, khi chứng kiến một thanh niên chết mòn vì bệnh thận, một nhà vật lý người Hà Lan đã quyết tâm xây dựng hệ thống có thể hoạt động thay thế thận. Dù phải sống trong điều kiện thiếu thốn, khó khăn của Thế chiến thứ nhất và thứ hai, Tiến sỹ Willem Kolff vẫn kiên trì với nghiên cứu của mình. Đến năm 1943, ông cho ra đời một bộ thận nhân tạo, giúp lọc độc tố trong máu. Nó trở thành sản phẩm chuẩn mực trong suốt một thập kỷ trước khi được nâng cấp lên những phiên bản thế hệ mới (như trong bức ảnh trên). Tuy mục đích ban đầu của Kolff chỉ là hỗ trợ hoạt động của thận, hệ thống này được coi là một trong những phát minh lỗi lạc nhất của lịch sử y tế hiện đại.


Offline lavoisier

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 263
  • Romance
Hồi âm: các phát minh vĩ đại của thế giới
« Trả lời #4 vào lúc: Tháng Tám 17, 2006, 09:05:47 AM »
Trích dẫn
Lịch sử về Giấy 


Ngày nay giấy đối với ta quá bình thường. Ta vò nó trong tay rồi ném đi không  chút thương tiếc bởi ta có biết đâu sau ba ngàn  năm từ ngày có những nét những hình đầu tiên được viết nơi hang động, đất sét... cho tới cách đây hai ngàn  năm mới chế biến được giấy thô sơ và qua biết bao quá trình, mới trở thành hoàn hảo như ngày hôm nay.

II/ Phát minh giấy viết:
Các khám phá về khảo cổ ở Trung Hoa cộng với phép tính tuổi bằng carbon phóng xạ chứng  minh rằng giấy đã hiện diện từ hai thế kỷ trước Ts'ai Lun, nhưng  người ta vẫn cho Ts'ai Lun là người phát minh ra giấy thực thụ như ngày nay.

1) Ts'ai Lun
 

 
Năm 105, dưới triều Hán, thời hoàng đế Ho Ti bên Trung quốc, Ts'ai Lun đem mấy mẫu giấy dâng vua, được  vua hài lòng và phong tước quý tộc và cho ông làm quan trong  triều đình. Ông là hoạn quan vì phải giữ tài sản và tiền bạc nhiều trong triều đình. Nhờ chế được giấy, ông trở thành giàu có. Tuy nhiên sau đó ông  bị triều đình âm mưu gây rắc  rối nên sa sút và bị vua ghét bỏ. Ông tắm rửa sạch sẽ, mặc áo quần thât đẹp, uống thuốc độc rồi lên giường nằm.


Ts'ai Lun chế tạo giấy:
 Ts'ai Lun lấy bên trong vỏ thân cây dâu tằm và xơ cây tre đem trộn với nước rồi giã nát với dụng cụ bằng gỗ, xong ông đổ hỗn hợp lên tấm vải căng phẳng và trải mỏng rồi để ráo nước. Khi đã khô, Ts'ai Lun khám phá ra rằng có thể viết lên dễ dàng mà lại nhẹ nhàng. Cách chế tạo giấy này đầu tiên được dùng  bên Trung quốc rồi qua Korea, Samarkand, Baghdad và Damascus.

Cho dù Ts'ai Lun phát minh ra giấy sớm, nhưnh phải hàng ngàn năm sau người ta mới sản xuất giấy cho khắp Âu Á.

2) Các nước  và sự phát minh giấy:
 Khoảng năm 400 người Ấn độ đã biết làm giấy

Sau khoảng 500 năm sau, dân Abbasid Caliphate bắt đầu dùng giấy. 

 Người theo đạo Islam dùng giấy rất sớm, từ Ấn độ tới Tây Ban Nha, trong lúc người theo đạo Thiên chúa vẫn còn dùng  giấy da

 Ảnh hưởng của Arabe tiếp tục trải ra từ Phi Châu tới Méditerranée: Khoảng năm 650 người Árập xâm nhập Sicile, rồi tràn qua Maroc . Hai thành phố này sau đó biến thành hai trung tâm văn hóa của Árập truyền bá truyền thống và tín ngưỡng của mình. Trong những thế kỷ tiếp theo, lãnh thổ Árập lớn dần, thêm các  nước tân tiến như Algérie, Tunisie và Lybie cùng với những  lãnh thổ to lớn của Espagne, Portugal và Italie.

Năm 751, dân Arập sống trong thành phố Samarkan, trong Kasakhstan -khoảng 800 km từ biên giới Trung quốc- bị quân đội Trung quốc tấn công. Cuộc tấn công bị quân đội Arập không những đẩy lùi mà họ còn bị đuổi theo. Quân Árập bắt tù binh Trung quốc biết kỹ thuật làm giấy. Để đổi lấy tự do , người Trung quốc đã truyền  lại nghề làm giấy. Người Á rập biết làm giấy từ đó và  cách làm giấy được lan tràn nhanh chóng trong dân Arập.
Vào thế kỷ thứ X, người Árập dùng bông vải để chế giấy để có loại giấy mỏng tốt.

Khoảng năm 1100, Ý và Espagne đuổi dân Arập đi nhưng  ngành sản xuất giấy được giữ vững. Tại Ý, tài liệu cổ xưa nhất được viết trên giấy xưa nhất đã được dâng lên vua Roger của Sicile, ghi năm 1102.

Đầu những  năm 1200 Thiên chúa giáo thống chế người Tây Ban Nha theo đạo Islam, nhờ vậy mà họ học cách làm giấy nơi người đạo Islam. Năm 1250 người Ý bắt đầu học cách làm giấy và bán khắp Âu châu.

Năm 1338 các giáo sĩ Pháp bắt đầu chế giấy lấy. Năm 1411 tức  là sau 15 thế kỷ từ khi Ts'ai Lun phát minh ra giấy, người Đức  mới bắt đầu sản xuất giấy và nhất là từ năm 1450 ngành báo chí và máy in ra đời do Johannes Gutenberg  thì vélin  và parchemin bị quên hoàn toàn. Rẻ tiền hơn, đồng dạng, giấy trở nên cần thiết cho sự sản xuất lớn mà giấy da thú không thể có đủ điều kiện
3) So sánh hai phát minh của Ts'ai Lun và Gutenberg
Bên Trung quốc, trước Ts'ai Lun, hầu hết sásh vở đều viết bằng tre nên  rất nặng và cồng kềnh. Vài quyển sách được viết trên lụa nhưng  quá đắt. Bên phương Tây, trước  khi giấy ra đời, người ta dùng sách viết trên  giấy da làm bằng da cừu hay da bò con. Sau đó loại giấy papyrus được người Hy Lạp, La Mã và Ai cập ưa chuộng. Tuy nhiên  giấy da  hay giấy papyrus đều quá đắt. Sách vở hay những  tài liệu khác viết bằng giấy ngày nay được chế tạo quá rẻ và nhiều cũng  là nhờ sự hiện hữu của giấy. Thực ra, nếu như không có ngành in ấn thì giấy không  đến  nỗi quá quan trọng như ngày hôm nay. Vậy thì Ts'ai Lun và Gutenberg, ai quan trọng hơn ai? Tuy nhiên nếu xét ra cho cùng ta thấy Ts'ai Lun quan trọng hơn Gutenberg bởi vì ngoài việc dùng để viết, giấy còn  dùng  cho nhiều thứ khác. Ngoài ra nếu chưa có giấy, chưa chắc Gutenberg lại có ý nghĩ làm máy in. Còn như nếu chỉ một trong  hai phát minh  đó xảy ra, thì chắc mà người  ta sẽ dùng bảng kẽm làm sẵn (block printing, đã được dùng trước phát minh của Gutenberg) để in sách trên giấy hơn là dùng bảng  in chữ di động để in trên giấy da.

4) So sánh văn minh Trung quốc  và Tây Âu
Hai phát minh của Ts'ai Lun và Gutenberg đúng  là hai trong  mười phát minh lớn nhất của lịch sử. Để nói lên sự quan trọng của giấy và ngành in, ta cần nói đến sự phát triển về văn hóa của Trung quốc và các nước phương Tây. Thế kỷ thứ hai văn  minh Trung  quốc tiến triển thua các nước phương Tây.  Trong  một ngàn năm kế tiếp kỹ thuật của Trung quốc vượt qua các nước Tây Âu và trong  một khoảng 7-8 thế kỷ, văn  minh Trung hoa được  xem như tiêu chuẩn đối với các  nước tân tiến trên thế giới. Bởi vì chắc chắn là các cuộn papyrus hơn hẳn là sách làm bằng thanh tre hay gỗ. Chính sự việc này đã chướng ngại cho sự phát triển nền văn  minh Trung  quốc trước khi có sự phát minh ra giấy. Thử tưởng tượng  một học sinh Trung quốc thi thi phải mang  lỉnh kỉnh cả một "núi" sách bằng tre. Và chính quyền muốn  hoàn thành công việc hành chánh cũng không  phải dễ. Bởi vậy mà sau khi phát minh ra giấy, văn  minh Trung quốc  tiến  bộ nhanh chóng, chỉ trong năm thế kỷ đã vượt qua các nước Tây Âu . Lẽ đương nhiên sự chia rẽ các nước Tây âu cũng  là nguyên do sự thua sút Trung quốc. Chính Marco Polo cũng đã xác nhận rằng ngay cả ở thế kỷ thứ 13, Trung quốc phồn thịnh hơn Âu châu nhiều. Nhưng tại sao sau đó lại thua Âu châu? Có nhiều giải nghĩa phức  tạp về văn hóa nhưng có lẽ nguyên do dễ hiểu là từ thế kỷ 15, Âu Châu có thiên tài Gutenberg đã phát triển kỹ thuật in hàng loạt lớn . Từ đó văn hóa châu Âu phát triển  nhanh chóng. Vì Trung quốc không có Gutenberg, vẫn còn  dùng lối in bảng kẽm block printing nên văn hóa Trung quốc phát triển chậm dần.
 

Tới những  năm 1800, giấy thủ công là hỗn hợp của cây chanvre (cây sợi), bông gòn, cây lin (vải gai) và  nhiều loai cây khác. Lúc bấy giờ, Louis Robert, một người làm công cho hãng giấy vùng Essonne, miền Nam Paris, đã sáng chế ra một nhà  máy giấy có thể sản xuấy giấy hàng loạt. Nhờ đó giấy trở nên rẻ  và giấy dư  được tích trữ thành cuộn. Với phát minh này, người ta cần đến bột cây có thớ dài hơn

Năm mươi năm sau, thớ cây được dùng thường xuyên để chế tạo giấy.

Ngành in  lúc bấy giờ bắt đầu phát triển: sach và các tài liệu quan trọng được  sản xuát nhanh chóng. Nhờ phương  pháp in ấn hàng  loạt này đã dẫn tới nhu cầu lớn  về giấy.

 

 Mấy bạn chú ý nhé:Tên ông đó dịch ra theo tiếng Hán Việt là gì biết không?
Tui đổi nick lại rồi để cho tiện nhớ

Offline bigbabol_8115

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 277
Hồi âm: các phát minh vĩ đại của thế giới
« Trả lời #5 vào lúc: Tháng Chín 05, 2006, 06:10:03 PM »
J. Robert Oppenheimer (1904 - 1967), cha đẻ bom A
Quả bom Nguyên Tử đầu tiên thả xuống đất Nhật năm 1945 đã làm cho mọi người kinh hoàng về thứ khí giới mới và cũng làm cho các nhà khoa học tin tưởng rằng Thuyết Tương Đối của nhà Đại Bác Học Albert Einstein là đúng. Tuy sức tàn phá của quả bom Nguyên Tử quá khủng khiếp, song người ta vẫn phải trầm trồ khen ngợi một nhà bác học trẻ tuổi, cha đẻ ra quả bom A này. Giáo Sư J. Robert Oppenheimer, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Nguyên Tử Lực tại Los Alamos thuộc tiểu bang New Mexico, Hoa Kỳ, trái lại rất chán nản về phát minh của mình. Và chính ông Julius Oppenheimer cũng không ngờ người con trai của mình lại trở nên một nhà bác học danh tiếng đến như thế, vì ông Julius chỉ ước mong con trai trở thành một công dân trên trung bình.
 

1/ Thuở trẻ của Robert Oppenheimer.

Ông Julius Oppenheimer gốc người Do Thái, từ nước Đức sang Hoa Kỳ lập nghiệp và hoạt động trong ngành xuất cảng vải sợi tại thành phố New York. Vốn là một đại thương gia, ông đã nhiều lần cùng con trai sang thăm châu Âu.

Ngay từ thuở nhỏ, Robert đã tỏ ra là một cậu bé thông minh và hiếu học. Cậu theo ban trung học trong thành phố New York. Các sách viết bằng tiếng La Tinh, Hy Lạp, đối với cậu không khó và môn Vật Lý được cậu ưa chuộng nhất. Trong các câu chuyện giữa chúng bạn, Robert bàn luận rõ ràng, cậu ghét tính ba hoa và ưa tư lự. Phải chăng tính ưa thích cô độc là một đặc tính của các nhà bác học?

Vào một dịp hè, ông Julius dẫn con trai đến phòng thí nghiệm của Giáo Sư Auguste Klock, xin cho con theo học thêm về môn Hóa Học. Robert tiến bộ đến nỗi cậu ngốn hết cả chương trình một niên học trong 6 tuần lễ. Ông Klock đã phải ngạc nhiên về trí thông minh của cậu học trò mới này và đã nói : "Cậu Robert học khá đến nỗi không vị Giáo Sư nào nỡ cấm cản không cho cậu học thêm bài mới".

Khi bước chân vào trường Đại Học Harvard, Robert đã say sưa với các sách báo của thư viện nhà trường. Các tác phẩm triết học Đông Phương cũng như Tây Phương đã làm chàng thanh niên này đam mê, suy nghĩ. Trong 3 năm trường, chàng đã theo 6 môn học chính và 2 môn học phụ, trong khi các sinh viên khác chỉ có thể học tối đa 5 môn học.

Rồi vào năm 1925, Robert Oppenheimer tốt nghiệp trường Đại Học Harvard với hạng ưu và lời khen ngợi của Hội Đồng Giáo Sư. Sau đó chàng sang nước Anh và ghi tên vào trường Đại Học Cambridge. Tại Cơ Sở Thí Nghiệm Cavendish, chàng được theo học Giáo Sư J. Thomson và Lord Rutherford là các nhà tiền phong về khảo cứu nguyên tử và cũng là các nhà bác học lừng danh thời bấy giờ. Chàng cũng được gặp gỡ các nhà bác học lỗi lạc Niels Bohr người Đan Mạch, Paul Dirac người Anh và Max Born người Đức. Ông Max Born mời chàng sang Đức theo học tại trường Đại Học Goettingen.

Từ xưa, nước Đức vẫn nổi tiếng về Khoa Học và Đại Học Đường Goettingen là một ngôi trường danh tiếng của châu Âu. Robert Oppenheimer sang Đức và sau 6 tuần lễ ghi tên, chàng đã đậu văn bằng Tiến Sĩ, năm đó chàng mới 23 tuổi. Các Giáo Sư đều khen ngợi bản luận án xuất sắc của chàng về Nền Cơ Học Lượng Tử (la Mécanique Quantique). Ít lâu sau, chàng lại sang Thụy Sĩ, theo học trường Bách Khoa Zurich là một trong các trường kỹ thuật danh tiếng nhất của châu Âu.

Khi Robert trở về Hoa Kỳ, ông Julius hết sức ngạc nhiên vì thấy con trai gầy còm chẳng khác gì một chiếc gậy. Thân hình cao lỏng khỏng, má hóp, ngực lép, chàng Robert lại húng hắng ho. Ông Julius liền tìm cách cho con trai đi nghỉ ngơi tại miền quê để dinh dưỡng cơ thể. Ông mua ngay cho con một nông trại trong tiểu bang New Mexico. Tại nơi đây, cả ngày ngồi trên yên ngựa, chàng Robert ngao du khắp các đồi núi. Cái nông trại miền New Mexico này không giống với các nông trại khác. Nơi đây vắng vẻ, hiu quạnh, khiến cho người ta có cảm tưởng một bãi sa mạc hơn là một miền đồng quê. Nhờ hít thở không khí trong lành và nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, Robert Oppenheimer đã hoàn toàn bình phục.

Năm 1928, Viện Kỹ Thuật California (the California Institute of Technology = C.I.T.) là nơi tụ tập các nhà vật lý danh tiếng trên thế giới, đã gửi giấy mời ông Robert Oppenheimer giữ chức Giáo Sư của Viện. Trường Đại Học California tại Berkeley (the University of California at Berkeley) cũng đón mời. Ông Robert Oppenheimer nhận lời giảng dạy tại cả hai trường.

Trong hơn 10 năm giảng huấn, ông Robert Oppenheimer đã được cảm tình của hầu hết sinh viên. Họ đã gọi ông giáo sư trẻ 24 tuổi này là Oppie cho tiện và thân mật. Tuy giữ chức Giáo Sư Đại Học nhưng Giáo Sư Oppie lúc nào cũng bình dị và nội tâm của ông vẫn là một chàng sinh viên ưa hoạt động và hiếu học. Robert Oppenheimer không e ngại khi chính mình phải học thêm một môn học nào đó. Cũng vì vậy ông tìm tới Giáo Sư Arthur Ryder là nhà bác học chuyên về Triết Lý Ấn Độ và xin học chữ Phạn. Đây là sinh ngữ thứ tám của ông nhưng đối với ông cũng không khó và ít lâu sau, ông đã hiểu thấu nền triết học rất uyên thâm và phức tạp này.

2/ Thời kỳ khảo cứu Nguyên Tử.

Từ thập niên 1920, các lý thuyết mới về Quang Tử (Quantum) và Thuyết Tương Đối (Relativity Theories) đã gây chú ý trong giới Khoa Học nên các khảo cứu ban đầu của ông Robert Oppenheimer là về các hạt hạ nguyên tử (subatomic particles), gồm cả các âm điện tử (electrons), dương điện tử (positrons) và các tia vũ trụ (cosmic rays). Ngoài ra, ông còn huấn luyện một thế hệ mới các nhà vật lý Hoa Kỳ và những khoa học gia này chịu ảnh hưởng của Robert Oppenheimer cả về tinh thần độc lập lẫn tài lãnh đạo.

Từ năm 1933, sự việc Adolf Hitler lên nắm quyền tại nước Đức đã khiến cho ông Robert Oppenheimer quan tâm tới chính trị. Vào năm 1936, ông Oppenheimer đứng về phe các người cộng hòa trong cuộc Nội Chiến Tây Ban Nha đồng thời ông cũng có cơ hội làm quen với các người Cộng Sản. Nhưng các thảm cảnh mà Joseph Stalin gây ra đối với các nhà Khoa Học Nga đã khiến cho ông Oppenheimer không còn giao du với đảng Cộng Sản nữa mà chỉ là một người theo lý thuyết dân chủ cấp tiến (liberal democratic philosophy).

Năm 1943, Thế Chiến Thứ Hai đang ở vào thời kỳ khốc liệt. Các gián điệp của Hoa Kỳ báo tin rằng các nhà bác học Đức đã tìm ra Nguyên Tử và đang tìm cách áp dụng kỹ thuật này vào khí giới chiến tranh. Vì vậy Hoa Kỳ phải quyết định mở một cuộc chạy đua kỹ thuật nguyên tử và Lục Quân Hoa Kỳ được giao cho trách nhiệm tổ chức các nhà khoa học người Anh và người Mỹ để tìm ra một phương pháp chế ngự năng lượng nguyên tử dùng cho các mục đích quân sự. Theo đề nghị của Tướng Leslie Groves, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đã mời ông Robert Oppenheimer giữ chức Giám Đốc Trung Tâm Khảo Cứu Nguyên Tử Lực của Hoa Kỳ và Trung Tâm này có mục đích chế tạo ra bom nguyên tử.

Thực ra, việc bổ nhiệm này cũng hơi lạ lùng. Tuy Robert Oppenheimer nổi tiếng về ngành chuyên môn của mình tức là ngành Vật Lý Nguyên Tử, nhưng ông chỉ giỏi về mặt lý thuyết, suốt ngày sống giữa tấm bảng đen và những con số mà chưa hề sáng chế về máy móc hay điều khiển một trung tâm khảo cứu nào. Vào thời kỳ đó, tại Hoa Kỳ không thiếu gì các nhà bác học lừng danh từ châu Âu chạy sang tị nạn như Albert Einstein, Niels Bohr, Enrico Fermi. . . và ngay cả trong ngành Nguyên Tử cũng không thiếu gì các Giáo Sư tài ba, nhiều tuổi hơn Robert Oppenheimer, uy tín cao hơn để xứng đáng giữ trọng trách điều khiển Trung Tâm. Việc chế tạo bom nguyên tử là một công trình vĩ đại, nó đòi hỏi ở người chỉ huy những đức tính mà chưa chắc gì một Giáo Sư Đại Học đã có đủ, và còn cần tới một tài năng không những thuộc về địa hạt Khoa Học mà còn thuộc cả về địa hạt Kỹ Nghệ và Quản Trị nữa. Dự Án Manhattan, tên riêng của dự án chế tạo bom nguyên tử, được Tướng Leslie Groves thi hành. Ông này đã tín nhiệm Robert Oppenheimer hơn là các nhà bác học đương thời danh tiếng khác.

Từ giã Đại Học Đường, Robert Oppenheimer với tuổi 38, đã tỏ ra là một nhân vật xứng đáng giữ trọng trách đó. Ông đã thu được cảm tình của hầu hết các nhà bác học tài ba dưới quyền cũng như đối với các chuyên viên. Trung tâm nghiên cứu nguyên tử lực đầu tiên của Hoa Kỳ được đặt tại Los Alamos, gần thành phố Santa Fe trong tiểu bang New Mexico, nơi mà trước kia, ông Oppenheimer đã từng lang thang trên yên ngựa, đã biết từng đồi cát tới các con đường mòn. Nhà máy nguyên tử này thật là lạ lùng: nó vừa là nhà máy vì gồm có các cơ xưởng lớn, vừa giống như một tu viện vì mọi người làm việc quần quật suốt ngày, lại giống một trại lính vì đóng ở giữa sa mạc, chung quanh có hàng rào kẽm gai bao bọc và được canh phòng cẩn mật.

Trung tâm nguyên tử này có số vốn ban đầu là 60 triệu mỹ kim, lúc đầu chỉ gồm 400 người nhưng chẳng bao lâu tăng lên tới 4,500 công nhân. Người ta cố gắng làm việc nhưng vào thời kỳ đó, chưa ai có thể tiên đoán được sức phá nổ của nguyên tử vì từ trước tới giờ, lý thuyết nguyên tử vẫn còn nằm trong vòng giả thuyết. Tại trung tâm nghiên cứu, ông Robert Oppenheimer bắt đầu tìm kiếm một phương pháp tách chất Uranium - 235 ra khỏi Uranium thiên nhiên và xác định khối lượng tới hạn (critical mass) của Uranium là chất để làm ra quả bom. Trong giai đoạn nghiên cứu này, ông Robert Oppenheimer đã làm việc hơn 20 giờ mỗi ngày, người gầy dộc đi đến nỗi chỉ còn nặng 52 kilô, trọng lượng này thật là quá ít đối với một người cao 1,82 mét.

Ngày 16 tháng 7 năm 1945 là ngày quả bom nguyên tử đầu tiên được cho phát nổ thử tại sa mạc Alamogordo trong tiểu bang New Mexico. Một làn chớp sáng lòa rồi tiếp sau là một tiếng nổ long trời, làm cho mọi người tưởng chừng như được chứng kiến một trận động đất dữ dội vậy. Sau đó, khói đen bốc lên cao ngất trời theo hình một chiếc nấm vĩ đại. Trước cảnh tàn phá của thứ khí giới mới khủng khiếp này, ông Robert Oppenheimer mới nhớ tới một câu trong quyển Kinh Ấn Độ Bhagavad-Ghita : "Ta đã trở nên Tử Thần và làm cho nhiều Thế Giới run sợ, hãi hùng".

Sau khi 2 quả bom nguyên tử A thả xuống đất Nhật và chấm dứt chiến tranh, mọi người đều gọi ông Robert Oppenheimer là cha đẻ ra thứ bom A đó. Nhưng riêng Giáo Sư Robert Oppenheimer lại bắt đầu ngờ vực thứ võ khí khủng khiếp mà ông đã dày công chế tạo. Võ khí nguyên tử không những ảnh hưởng đặc biệt tới quân sự mà còn trở nên vấn đề liên quan tới nền Đạo Đức nữa. Sự tàn phá của bom nguyên tử lúc phát nổ rồi ảnh hưởng của bụi phóng xạ khi chất này tỏa rộng, lẫn vào trong không khí mà rơi xuống đại dương, theo gió mà bay tới các lục địa xa xôi, khiến cho mọi người e ngại về sự tồn vong của Nhân Loại.

Trong khi ông Robert Oppenheimer hối hận vì phát minh của mình thì vài nhà bác học khác lại nghĩ tới việc chế tạo một thứ bom khủng khiếp gấp ngàn lần: bom khinh khí H. Người ủng hộ dự án này một cách nhiệt liệt nhất là nhà bác học Edward Teller, người Mỹ gốc Hungary. Vì vậy tại Hoa Kỳ vào thời bấy giờ, có hai phe, người ủng hộ dự án chế tạo bom H, kẻ phản đối thứ khí giới quá khốc liệt đó. Trong khi chính quyền Hoa Kỳ còn đang phân vân thì thình lình, người ta báo tin rằng Liên Xô đã cho nổ thử một trái bom nguyên tử. Tin sét đánh này làm cho nhiều người sửng sốt, phe ủng hộ dự án chế tạo bom H đã thắng và Tổng Thống Harry Truman hạ lệnh chế tạo bom H đó. Được biết tin như vậy, ông Robert Oppenheimer liền bước ra khỏi phòng khảo cứu và tuyên bố dứt khoát: "Tôi không phải là một lái súng, tôi chỉ là một nhà bác học". Ông Robert Oppenheimer từ chức Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Nguyên Tử vào tháng 8 năm 1945.

Từ năm 1947 tới năm 1953, ông Robert Oppenheimer là Giám Đốc của Viện Nghiên Cứu Cao Cấp thuộc trường Đại Học Princeton (the Institute for Advanced Study at Princeton University) và cũng là Chủ Tịch của Ủy Ban Cố Vấn của Ủy Ban Năng Lượng Nguyên Tử Hoa Kỳ (the U.S. Atomic Energy Commission = AEC). Ông cũng là vị cố vấn cho Bộ Quốc Phòng Mỹ và giúp công vào việc soạn thảo bản đề nghị đầu tiên của Hoa Kỳ về việc kiểm soát quốc tế năng lượng nguyên tử.

Năm 1953, một số tài liệu nguyên tử của Hoa Kỳ bị mất cắp. Phong trào chống Cộng Sản tại Mỹ đang lên bồng bột. Các nhà bác học nguyên tử là những người bị nghi ngờ. Ông Robert Oppenheimer cũng ở trong số đó. Hơn nữa, ông có giao du với một số phần tử Cộng Sản. Sở phản gián đã gom góp được nhiều tài liệu để kết tội ông. Các địch thủ của ông hùa nhau vào để hạ ông. Cũng có nhiều người đứng ra bào chữa cho ông như nhà Đại Bác Học Albert Einstein và Phó Tổng Thống Richard Nixon. Vào tháng 4 năm 1954, ông Robert Oppenheimer bị lôi ra trước một ủy ban điều tra của Ủy Ban Năng Lượng Nguyên Tử nhưng Tổng Hội Các Nhà Khoa Học Mỹ (the Federation of American Scientists) đã lên tiếng bảo vệ ông Oppenheimer trước tòa án. Vụ xét xử về an ninh này đã công bố rằng ông Robert Oppenheimer không phạm tội phản bội nhưng ông không được phép tiếp xúc với các bí mật quân sự. Kết quả là chức vụ cố vấn cho Ủy Ban Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ của ông bị hủy bỏ. Sự lên án này đã làm sôi nổi dư luận tại Hoa Kỳ và tại châu Âu. Ông Robert Oppenheimer là một biểu tượng quốc tế của các nhà Khoa Học cố gắng giải quyết các vấn đề đạo đức (moral problems) sinh ra trong công cuộc khám phá Khoa Học và ông cũng trở nên một nạn nhân của công cuộc săn tìm phù thủy (a witch-hunt). Tuy đã bị mất chức, nhưng từ năm 1947 tới năm 1966, ông Robert Oppenheimer vẫn còn là Giám Đốc của Viện Nghiên Cứu Khoa Học Cao Cấp tại Princeton thuộc tiểu bang New Jersey. Tại Viện Khảo Cứu của tư nhân này, các nhà bác học lỗi lạc được tự do tìm tòi, làm sao cho thiên tài của họ được phát triển tối đa.

Vào năm 1963, Ủy Ban Năng Lượng Nguyên Tử Hoa Kỳ đã trao tặng ông Robert Oppenheimer phần thưởng Enrico Fermi. Đây là danh dự cao quý nhất để khen thưởng các đóng góp của ông vào nền Vật Lý Lý Thuyết. Nhiều người cho rằng công việc này là một cố gắng của Chính Phủ Hoa Kỳ để sửa chữa lỗi lầm khi trước. Ông Robert Oppenheimer về hưu năm 1966 và qua đời vào ngày 18 tháng 2 năm 1967 tại thành phố Princeton vì bệnh ung thư cổ.

Khi còn sinh thời, ngoài việc nghiên cứu Khoa Học và viết sách, ông Robert Oppenheimer còn ham thích các môn Hội Họa và Âm Nhạc. Phải chăng hai Nghệ Thuật này là các món ăn phụ của các đầu óc Khoa Học phi thường?.
 
bạn bè chính là phần còn thiếu của bản thân mình

Offline bigbabol_8115

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 277
Hồi âm: các phát minh vĩ đại của thế giới
« Trả lời #6 vào lúc: Tháng Chín 05, 2006, 06:11:30 PM »
Edward Teller (1908 - 2003) cha đẻ bom nguyên tử  H
Theo nhà bác học Lewis Strauss, Chủ Tịch của Ủy Ban Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ, thì các nhà bác học có thể được xếp thành ba loại: loại thứ nhất chỉ chuyên tâm vào môn Khoa Học thuần túy, những người thuộc loại thứ hai chú ý tới các áp dụng của Khoa Học, còn sau cùng là những nhà bác học quan tâm tới ảnh hưởng của Khoa Học trên phương diện chính trị. Tuy nhiên, cũng có nhà bác học thuộc về cả ba loại kể trên: đó là trường hợp của ông Edward Teller.

Edward Teller không phải là người chỉ biết sống trong tháp ngà. Ngoài những lúc đắm mình trong các bài toán vật lý nguyên tử, ông còn phụ trách việc giảng dạy môn Vật Lý Cao Cấp hoặc liên lạc với Bộ Quốc Phòng, vì ông vừa là hội viên của Tiểu Ban Tư Vấn thuộc Ủy Ban Nguyên Tử Lực, vừa là hội viên của Tiểu Ban Tư Vấn Khoa Học thuộc Bộ Không Lực Hoa Kỳ. Ngoài công việc khảo cứu Khoa Học, sở dĩ Edward Teller còn chú tâm tới chính trị cũng vì những ảnh hưởng do thời thơ ấu của ông.


 

 

1/ Thời niên thiếu.

Edward Teller chào đời vào ngày 15 tháng 1 năm 1908 tại thành phố Budapest, thuộc nước Hung Gia Lợi, trong một gia đình giàu có dòng dõi Do Thái. Sau cuộc Thế Chiến Thứ Nhất, nước Hung bị chia cắt và nền kinh tế của đất nước này sụp đổ. Vì cảm thấy sự bại vong của đất nước và vì nhận ra các dấu hiệu bài Do Thái, người cha của Edward Teller đã in sâu vào tâm khảm của cậu con trai hai điều: thứ nhất, khi nào tới tuổi thanh niên đầy đủ khả năng, cậu phải di cư sang một xứ sở nào hiếu khách hơn, thứ hai, vì thuộc vào lớp người thiểu số bị ghét bỏ, cậu phải vượt lên những kẻ khác để có thể đồng đẳng với họ.

Vì thế ngay từ thuở nhỏ, Edward Teller đã lo sợ trước nỗi ám ảnh của những chính thể độc tài. Cậu đã hiểu rõ những kết quả tai hại do các cuộc thất bại mang đến. Chính những lời dặn của người cha, chính sự lo lắng cho tương lai đã khiến Edward Teller trở nên một người làm việc siêng năng. Thời còn theo ban trung học tại Budapest, cậu Edward đã tỏ ra là một học sinh có năng khiếu về Toán Học và đã vượt xa các bạn một cách dễ dàng. Ngoài thú vui làm toán, Edward còn ưa thích Âm Nhạc, Văn Thơ, ham đánh cờ hoặc đi tản bộ trong miền thôn dã. Edward Teller đã làm thơ và đã sáng tác khi rung động trước đôi mắt xanh của cô em gái một người bạn.

Sau khi học xong bậc trung học, Edward Teller ghi tên vào Viện Kỹ Thuật của thành phố Karlsruhe, nước Đức, tốt nghiệp kỹ sư Hóa Học rồi tới Munich và Leipzig, theo học ngành Hóa Lý (physical chemistry), lãnh văn bằng Tiến Sĩ vào năm 1930. Đề tài của luận án tốt nghiệp của Edward Teller gồm khảo cứu về ion của phân tử hydrogen (hydrogen molecular ion), sự nghiên cứu này đã đặt nền móng cho một lý thuyết về quỹ đạo phân tử (molecular orbital) mà ngày nay còn được giới Khoa Học chấp nhận rộng rãi.

Vào năm 1933 khi Hitler lên nắm chính quyền tại nước Đức thì Edward Teller đang nghiên cứu cách cấu tạo phân tử của vật chất và theo học môn vật lý lý thuyết dưới sự chỉ dẫn của nhà bác học Niels Bohr tại Copenhagen, nước Đan Mạch, rồi sau đó giảng dạy môn Vật Lý tại trường Đại Học Goettingen từ năm 1933 tới năm 1935. Thời bấy giờ, người Đức Quốc Xã bắt đầu bạc đãi giống dân Do Thái. Edward Teller liền lợi dụng cơ hội này, trốn sang nước Anh cùng bà vợ Augusta Harkanyi rồi hai năm sau, ông sang Hoa Kỳ, nhận chân Giáo Sư Vật Lý tại trường Đại Học George Washington. Trong thời gian giảng dạy này, Edward Teller đã khảo cứu về các phản ứng nhiệt lượng hạch tâm, tức là những điều cho phép nhà khoa học cắt nghĩa được nguyên nhân sự cháy sáng của các vì sao. Cùng với nhà vật lý George Gamow, Edward Teller thiết lập ra các quy luật mới để xếp hạng các cách theo đó các hạt hạ nguyên tử (subatomic particles) có thể thoát ra khỏi nhân nguyên tử trong thời kỳ phân rã phóng xạ (radioactive decay).

Bẩy tháng trước ngày Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ, các nhà bác học Hoa Kỳ cảm thấy lo ngại khi hay tin tại nước Đức, các nhà vật lý đã thành công trong việc phá vỡ nhân nguyên tử. Khi Thế Chiến xẩy ra thì tại châu Mỹ, nhà bác học Léo Szilard cũng đạt được các kết quả khả quan trong các thí nghiệm về hạch tâm và chứng tỏ rằng nước Mỹ có thể chế tạo được một thứ bom cực kỳ mạnh. Léo Szilard cùng vài nhà bác học khác liền vận động để chính phủ Hoa Kỳ khởi sự công cuộc chế tạo thứ vũ khí đó.

Muốn cho Tổng Thống Franklin D. Roosevelt phải đặc biệt chú ý, các nhà bác học Mỹ đồng ý rằng cần có chữ ký của nhà Đại Bác Học Albert Einstein. Szilard liền nhờ Edward Teller đưa xe tới Peconic Bay, thuộc tiểu bang New York, để gặp Einstein và nhờ vậy, Dự Án Manhattan ra đời, cho phép các nhà khoa học thực hiện những điều hiểu biết mà từ trước, chúng vẫn còn ở trong lãnh vực lý thuyết. Như vậy cuộc viếng thăm Albert Einstein tại Peconic Bay đã đánh dấu một khúc quanh trong quãng đời của Edward Teller. Từ đây ông không còn có thể dửng dưng trước các vấn đề chính trị, chiến tranh và nhất là vấn đề võ trang quân đội.


2/ Nghiên cứu về Bom Khinh Khí.

Năm 1941, Edward Teller gia nhập quốc tịch Hoa Kỳ rồi tới năm 1946, tham gia vào nhóm các khoa học gia của Enrico Fermi tại Viện Khảo Cứu Nguyên Tử (the Institute for Nuclear Studies) thuộc trường Đại Học Chicago, tại nơi này, phản ứng hạt nhân dây chuyền (nuclear chain reaction) đã được thực hiện. Sau đó, Edward Teller nhận lời mời tới trường Đại Học U.C. Berkeley để khảo cứu lý thuyết về loại bom nguyên tử loại A cùng với J. Robert Oppenheimer rồi khi Oppenheimer thiết lập nên Cơ Sở Thí Nghiệm Khoa Học tại Los Alamos, thuộc tiểu bang New Mexico, vào năm 1943 thì Edward Teller là người đầu tiên được tuyển dụng.

Trong khi quả bom nguyên tử A còn đang ở trong thời kỳ chế tạo, Edward Teller lại tìm ra một phương pháp mới dùng nhiệt lượng hạch tâm để từ đó chế tạo ra một thứ bom cực kỳ mạnh. Edward Teller đã cùng nhà vật lý Stanislaw M. Ulam khám phá ra cấu hình Teller-Ulam (the Teller-Ulam configuration) dùng làm căn bản cho việc chế tạo vũ khí hỗn hợp hạt nhân (fusion weapons). Nhưng khi hai quả bom nguyên tử A nổ, san phẳng hai thành phố Hiroshima và Nagasaki một cách quá khốc hại, thì phần lớn các nhà bác học trong chương trình Manhattan bị lương tâm cắn dứt, họ hối hận về thứ phát minh mới đó, không muốn tiếp tục công cuộc khảo cứu các vũ khí nguyên tử và không quan tâm đến dự định của Edward Teller.

Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt được vài năm. Mọi người quên lãng thứ khí giới khủng khiếp kể trên thì vào tháng 8 năm 1949, Liên Xô cho nổ quả bom nguyên tử đầu tiên của họ. Cuộc thí nghiệm này khiến cho tại Hoa Kỳ, nhiều người lo ngại. Edward Teller liền đưa ra dự án chế tạo bom H với sức tàn phá còn khốc liệt gấp ngàn lần thứ bom A thả xuống đất Nhật. Tuy nhiên, cũng có người lại cho rằng Liên Xô chế tạo được vũ khí nguyên tử sẽ làm quân bình thế giới trên phương diện chính trị. Trong khi mọi người đang xôn xao thì phần lớn các nhà bác học thuộc Tiểu Ban Tư Vấn của Ủy Ban Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ, dưới quyền chủ tọa của Robert Oppenheimer, đã đồng thanh tuyên bố chống lại mọi dự án chế tạo bom H. Edward Teller phải đi ngược lại quyết định trên với một phần thắng rất mỏng manh. Ông cũng được Lewis Strauss giúp đỡ.

Cuộc tranh chấp với Oppenheimer đang dằng dai thì tới tháng 1 năm 1950, một vụ gián điệp nguyên tử bị phát giác và làm rung chuyển dư luận thời bấy giờ. Thủ phạm là Klaus Fuchs, một nhà bác học gốc Đức, quốc tịch Anh và làm việc tại nước Anh, đã thú nhận có trao các tài liệu nguyên tử cho các gián điệp của Liên Xô. Hơn nữa, Fuchs cũng giúp việc tại căn cứ Los Alamos và cũng đã biết các tài liệu về các phản ứng nhiệt lượng hạch tâm, điều này làm cho Hoa Kỳ lo ngại. Bốn ngày sau buổi nhận tội của Fuchs, Tổng Thống Harry Truman hạ lệnh cho Ủy Ban Nguyên Tử Lực bắt tay vào công cuộc chế tạo bom H.

Vào tháng 11 năm 1952, cuộc thử bom loại H thứ nhất đã làm biến mất hòn đảo san hô Elugelab tọa lạc tại phía nam Thái Bình Dương. Tuy nhiên đây chưa hẳn là quả bom H. Theo một nhà bác học thì vào thời đó, nguyên tắc chế tạo bom H chỉ có hai người thấu triệt, đó là ông Edward Teller và nhà bác học Liên Xô Andrei Sakharov.

Cũng vào năm 1952, Edward Teller là nhà khoa học có công rất lớn trong việc thiết lập nên cơ sở thí nghiệm nguyên tử thứ hai của Hoa Kỳ, đó là Trung Tâm Thí Nghiệm Lawrence Livermore, đặt tại Livermore thuộc tiểu bang California, rồi trong 4 thập niên kế tiếp, đây là cơ xưởng chính của Hoa Kỳ đã chế tạo ra các vũ khí nhiệt tâm (thermonuclear weapons). Edward Teller đã là phụ tá giám đốc của Trung Tâm này từ năm 1954 tới năm 1958 và từ năm 1960 tới năm 1975, rồi nhận chức vụ giám đốc vào các năm 1958 - 60, đồng thời ông cũng là Giáo Sư Vật Lý tại Đại Học U.C. Berkeley từ năm 1953 tới năm 1970.

Edward Teller là nhà khoa học chống đối tích cực chế độ Cộng Sản. Trong thập niên 1960, ông đã giúp công vào tiến trình Hoa Kỳ vượt qua Liên Xô về vũ khí nguyên tử. Ông đã phản đối Hòa Ước Chống Thí Nghiệm Nguyên Tử Năm 1963 (the 1963 Nuclear Test-Ban Treaty) qua đó cấm cản việc thử vũ khí nguyên tử trên tầng không, đồng thời ông cũng là người tiền phong trong Dự Án Plowshare (Project Plowshare), một chương trình của chính phủ Liên Bang đi tìm kiếm các công dụng hòa bình của các vụ nổ nguyên tử.

Vào thập niên 1970, Edward Teller là cố vấn của chính sách vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ rồi tới các năm 1982 - 83, ông Teller cũng ảnh hưởng tới Tổng Thống Ronald Reagan trong Dự Án Bảo Vệ Chiến Lược (the Strategic Defense Initiative) và đây là một hệ thống phòng vệ các cuộc tấn công nguyên tử của Liên Xô.

Theo ông Edward Teller, Khoa Học ngày nay là Kỹ Thuật của ngày mai, vì thế ông cho rằng muốn thắng Liên Xô trên địa hạt Khoa Học, Hoa Kỳ phải đẩy mạnh phong trào khảo cứu Khoa Học thuần túy và gia tăng nền giáo dục Khoa Học tại các trường trung học. Vẫn theo ông Edward Teller, việc học hỏi Khoa Học không đòi hỏi một năng khiếu bẩm sinh mà cần phải chú tâm đến vấn đề. Ông cho rằng chỉ có Khoa Học mới giải quyết được các vấn đề gai góc mà chúng ta sẽ gặp phải, nhất là khi trái đất càng ngày càng trở nên chật hẹp trước sự bành trướng về nhân số và kỹ nghệ.

bạn bè chính là phần còn thiếu của bản thân mình

Offline orion8x

  • Cựu thành viên
  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 710
  • Chị tha cho em , em còn vợ nhỏ con thơ .
Hồi âm: Những phát minh hóa học
« Trả lời #7 vào lúc: Tháng Chín 07, 2006, 11:57:21 PM »
  Rất hay , rất có ích , rất bổ ích . Tuy nhiên , không có tí gì liên quan tới hóa học không , đang phân không biết có nên lock lại không  ;D . Nghĩ lại vì đây là topic giải trí nên chắc cũng không sao . Nếu có bài về Hóa học thì type lên nhá , mấy cái này toàn cái gì không hà .
Kể từ bây giờ, orion xin rút khỏi h2vn. Việc học kín hết thời gian của tớ òi, không thể onl thường xuyên như trước đc nữa. Những việc khác liên quan tới 4rum xin liện hệ với các mod khac để giải quyết nhé.

Offline bigbabol_8115

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 277
Hồi âm: Những phát minh hóa học
« Trả lời #8 vào lúc: Tháng Chín 09, 2006, 04:52:21 PM »
Sự khám phá vitamin
Từ thời cổ đại, những căn bệnh được biết nhờ những triệu chứng  bệnh lý của các thủy thủ, tù nhân hay những người dân các thành phố bị vây hãm trong chiến tranh...  Tất cả là do thức ăn thiếu vitamin

Các thức ăn dự trữ cho cuộc hành trình dài của những thủy thủ thiếu một chất quan trọng rất cần thiết cho cơ thể đã gây chứng scorbut. Từ thế kỷ thứ XVIII , James Lind, đã chứng minh rằng dùng  nước cốt trái chanh  hay cam sẽ  ngừa căn bệnh đã tàn phá các thủy thủ mà ngày nay hầu như ai cũng biết là do thiếu vitamin C.

James Cooks (1728-1779), một trong các nhà hàng hải lớn nhất từ xưa đến nay, lần đầu qua biển Antarctique đã khám phá đảo Hawaï, đảo Nouvelles-Hébrides và đảo Pâques. Mặc dù ông không biết những khám phá của James Lind, nhưng ông đã cho thủy thủ ăn rau đậu và  choucroute (một loại dưa chua  làm bằng bắp cải) . Nhờ vậy mà họ không mắc chứng scorbut trong cuộc hành trình nhiều tháng.  Tuy vậy nhưng đến mãi đầu thế kỷ thứ XIX, Hải quân hoàng gia Anh  (Royal Navy) mới cho thủy thủ dùng   nước chanh  mỗi ngày trong lúc những tàu buôn Anh quốc thì mới bắt đầu từ năm 1844.

Lúc bấy giờ không những các thủy thủ bị bịnh thiếu chất mà những người nghèo không thay đổi món ăn cũng mắc phải.  Vấn đề  này trở nên nóng bỏng trong kỳ nạn đói năm 1870 tại Paris. Số trẻ con chết nhiều vì thiếu chất tươi nên  người ta đòi hỏi các  nhà bác học phải tìm ra nguyên nhân.

Jean Baptiste Dumas (1800-1884), nhà hóa học kiêm chính trị, đã chế ra một loại sữa nhân tạo. Ông pha trộn chất béo, albumin trong nước  đường. Tuy không ngon nhưng về mặt dinh dưỡng sữa nhân tạo này có đủ glucid, lipid và protein. Nhưng chỉ đầy đủ về mặt năng lượng mà vẫn còn thiếu một chất cần thiết nào đó.

Như vậy là phải đợi một thế kỷ sau khi James Lind  khám phá, thế giới khoa học mới bắt đầu để ý tới.

Christian Eijikman (1858-1930) từ năm 1888 đến năm 1896, làm bác sĩ  khám tù nhân tại Java lúc bấy giờ dưới quyền  nước Hòa Lan. Nhiều tù binh bị bệnh phù thũng (béribéri), một loại bệnh về hệ thần kinh dẫn tới bại liệt rồi chết. Eijkman nuôi gà bằng  gạo đã xay trắng. Nhiều con gà bị bệnh viêm dây thần kinh (polynévrite),  giống như bệnh béribéri. Khi trưởng ban nhà tù cấm ông lấy gạo của nhà tù cho gà ăn, ông mua lúa cho gà. Và thật bất ngờ, gà  hết bịnh liệt. Ông khẳng định là bệnh béribéri của tù nhân giống như bệnh tê liệt thần kinh của gà. Và để trị bệnh, thay vì cho họ ăn gạo xay trắng, ông cho ăn gạo lứt (tức là còn lớp cám). Vậy là họ hết bệnh.

Năm 1905, giáo sư vệ sinh tại Utrecht , ông Cornelius Pekelharing (1848-1922), người Hòa Lan, đã nuôi một số chuột bằng  một chế độ thực phẩm coi như đầy đủ  glucid, lipid, protéin. Chúng chết sau vài tuần. Sau đó ông tiếp tục  thí nghiệm bằng cách thêm vô một ít sữa vô thì lớp chuột lần này sống khoẻ mạnh. Ông cho rằng trong sữa ngoài giá trị năng  lượng, còn chứa một chất cần thiết.

Năm 1915, Casimir Funk (1884-1967), nhà Sinh hóa Bồ Ðào Nha ở tại Hoa Kỳ đã cô lập  từ 100 ký gạo lứt để được vài centigram một chất có thể chữa lành bệnh cho những con bồ câu  được nuôi bằng gạo trắng. Ông đặt tên chất đó  là Vitamine bởi vì  trong chất đó có  chứa chức amine.  Ông cho rằng con men chứa chất này nhiều hơn cám. Ông cho rằng bệnh scorbut, phù thũng (pellagra) và bệnh còi xương (rachitisme) cũng vì thiếu những chất cùng kiểu như chất này. Nhưng  sau một thời gian bồ câu lại bệnh trở lại (bởi vì trong thức ăn bồ câu còn thiếu những vitamin khác) nên  lời tuyên bố của ông không được chấp nhận bởi cộng đồng khoa học. Họ nghĩ rằng  căn bệnh của bồ câu là do nhiễm trùng mà ra.

Gowland Hopkins (1861-1947) có thể xem như là người thành lập ngành Sinh hóa Anh quốc thời bấy giờ (bởi vì ngành này người Ðức dẫn đầu). Ông  làm tiếp công trình của Pekelharing: tìm các vitamin trong sữa. Ông không thể cô lập được  vitamin, nhưng trong khi nghiên cứu, ông khám phá ra chất glutathion, một chất tham dự vào phản ứng oxy hóa khử y hệt như vitamin C (acide ascorbique). Ông  chứng tỏ rằng  có những  acid amin cần được thức ăn mang lại vì cơ thể không tự tạo ra chúng được.

Ðiều quan trọng hơn nữa là ông đã chứng  minh rằng  hóa học cho sự sống (biochimie) không khác gì hóa học đại cương mặc dù ông chống đối chữ dùng "biochimie" vì ông cho rằng chữ này có sự sống.  Ông không thành công hoàn toàn về nghiên cứu vitamin nhưng đã được lãnh giải Nobel cùng với Eijkman năm 1929

Một bác sĩ người Mỹ, Joseph Goldberger (1874-1929) muốn chứng minh rằng bệnh phù thũng pellagra  là bệnh thiếu vitamin chớ không phải là bệnh nhiễm trùng: ông tự chích vô  mình máu của  bệnh nhân và ăn  vảy da của họ. Ông không bị bệnh nhưng không thể  biết được  người bệnh thiếu vitamin gì. Ông mất năm 1929, trước khi hội đồng khoa học chứng minh rằng bệnh phù thũng thiếu vitamin PP (Nicotinamid).

Nicotinamid được cô lập năm 1867 nhưng người ta không biết công dụng của nó.

Phần lớn các vitamin khác được khám phá  trong thời kỳ này.

Elmer Mc Collum (1879-1967), người Mỹ khám phá ra  vitamin A năm 1913 và vitamin D năm 1922. Liền sau đó  họ tổng hợp được vitamin A và D.

Hiện nay ta biết được 13 vitamin khác nhau. Trên phương diện hóa học, chúng không đồng nhất (hétérogène). Trên phương diện  sinh lý, chức vụ chúng cũng không đồng nhất. Chúng chỉ là những cofacteur. Thì dụ vitamin thuộc nhóm B là những chất cần thiết giúp sự hoạt động các enzym...
 
 

 
Bài đọc thêm:
Nhà hóa sinh học Mỹ Casimir Funk (1884-1967) là người đầu tiên dùng thuật ngữ này. Năm 1912, ông đưa ra kết luận: Nhiều bệnh suy dinh dưỡng hình thành do sự thiếu vắng các yếu tố thức ăn phụ. Ông gọi nó là vitamine. Theo tiếng Latin, “vita” có nghĩa là “sự sống” và “amine” là thành phần hóa học cần thiết cho sự sống.

 

Ngay từ xa xưa, con người đã biết rằng ngoài những món ăn như thịt cá, cơ thể luôn cần các chất từ rau quả tươi. Sự thiếu hụt những chất này sẽ gây hại cho sức khỏe và dẫn đến bệnh tật, thể hiện rõ nhất ở những người đi biển lâu ngày. Tuy nhiên, lúc ấy chưa ai hiểu rõ tại sao.

 

Đến giữa thế kỷ 16, qua kinh nghiệm của nhiều đoàn thủy thủ, mọi chuyện mới dần dần được sáng tỏ. Tháng 5/1534, nhà thám hiểm người Pháp Jacques Cartier dẫn một đoàn 110 thủy thủ rời cảng Saint Malo thuộc miền bắc nước Pháp, trên bờ biển Manche, để tìm đường đến châu Á. Trong nhật ký du hành có đoạn ghi: “Một số thủy thủ có các dấu hiệu như mệt mỏi, hai chân sưng phù, nướu (lợi) miệng loét hôi, niêm mạc và da bong từng mảng, răng rơi rụng dần...”.

 

Cũng thời gian đó, John Woodall, một người Anh từng phục vụ lâu ngày ở công ty tàu biển Ấn Độ đã ghi chép: “Nhiều thợ trên tàu bị bệnh nướu (lợi), răng chảy máu, phù chi, nổi mẩn và ngứa khắp người. Sau khi uống nước rau tươi và hoa quả thì khỏi bệnh”. Tuy nhiên, tất cả các kinh nghiệm này vẫn chỉ là những ghi nhận tản mạn, chưa được xác định trên cơ sở khoa học.

 

Giữa thế kỷ 18, bác sĩ James Lind thuộc hải quân Anh đã xác nhận, ở những thủy thủ đi biển lâu ngày luôn xuất hiện nhiều dấu hiệu bệnh do chế độ ăn thiếu rau quả tươi, đó là bệnh scorbut. Năm 1747, trong chuyến đi trên tàu Salisbury, ông đã tiến hành thử nghiệm và thu được kết quả: những thủy thủ ăn đầy đủ rau quả tươi không mắc bệnh, trong khi những người khác đều có dấu hiệu của bệnh scorbut. Năm 1753, James Lind đã viết một cuốn sách thông báo hiện tượng này nhưng mãi tới năm 1795 (nghĩa là 42 năm sau khi ông qua đời), các nhà khoa học mới chú ý đến nó và hải quân mới có những quy định về chế độ ăn rau quả tươi trên tàu biển.

Năm 1907, hai nhà khoa học Axel Holst và Theodor Frolich dự tính dùng chế độ ăn giảm thiểu để gây suy dinh dưỡng ở chuột lang; và ngẫu nhiên họ lại gây được bệnh scorbut trong thử nghiệm. Nhờ đó, giới y học mới hiểu thêm được quá trình hình thành dạng bệnh này.

Năm 1912, sau một thời gian dài nghiên cứu các bệnh như beri-beri, scorbut và nhiều bệnh suy dinh dưỡng khác, Casimir Funk mới phát hiện ra vitamin. Cũng chính ông là người sau này đã khẳng định vai trò của vitamin C trong việc phòng chống bệnh scorbut. Mãi đến năm 1920, Jack Drummond mới xác định “yếu tố phụ cần thiết cho sự sống” không phải là amine như Funk tưởng và đề nghị bỏ chữ “e” để tránh gây sự ngộ nhận về tính chất hóa học. Từ đó, thuật ngữ “vitamin” được chính thức sử dụng trong y văn.

Năm 1928, trong khi nghiên cứu hiện tượng oxy hóa tế bào, Szent Giorgyi, nhà sinh hóa Mỹ, đã phân lập được từ tuyến thượng thận một chất và đặt tên là hexuronic acid, thực ra là vitamin C hòa tan trong nước. Nhờ phát hiện này, ông được tặng giải Nobel Y học. Năm 1932, W.A. Waugh và Charles King phân lập được vitamin C từ chanh và xác nhận có tính chất giống hệt hexuronic acid. Năm 1933, vitamin C được gọi với tên ascorbic acid và tới năm sau thì được tổng hợp nhờ công trình nghiên cứu của nhà hóa học người Anh Walter Haworth). Như vậy, vitamin C đã được biết đến sớm nhất.

 

Sự phát hiện vitamin B
 

Khoảng giữa thế kỷ 18, Jacob de Bondt, một thầy thuốc làm việc tại Batavia ở miền đông Ấn Độ thuộc Hà Lan đã viết cuốn sách “Y học Ấn Độ”, trong đó mô tả một căn bệnh phổ biến ở dân cư vùng này. Người ốm mất trương lực bàn tay, cánh tay, cơ chi dưới suy yếu kèm viêm dây thần kinh ngoại vi. Nhưng mãi đến năm 1642 (nghĩa là sau khi Bondt qua đời 11 năm), gia đình mới phát hiện và cho xuất bản cuốn sách.

 

Sau đó, nhiều thầy thuốc ở vùng Viễn Đông cũng thông báo một số trường hợp có triệu chứng tương tự và gọi tên là bệnh beri beri (tiếng Sri Lanka là mỏi mệt, suy nhược). Năm 1881, Erwin Von Balcz xác nhận, dạng bệnh suy nhược cơ chi khá phổ biến ở nhiều vùng dân cư Nhật. Trong suốt 4 năm (1882-1885), Kanehiro Takaki, Tổng Giám đốc Y khoa Hải quân Nhật đã loại trừ dạng bệnh này trong thủy quân nhờ áp dụng chế độ ăn gạo cám, hoa quả tươi.

 

Năm 1890, Christian Eijkman, thầy thuốc ngoại khoa và vệ sinh học người Hà Lan, làm việc tại một trại giam ở Java, nhận xét thấy phần lớn các tù nhân đều có dấu hiệu bệnh beri beri: suy nhược cơ, tê phù, liệt chân. Qua theo dõi một thời gian dài, ông nhận ra nguyên nhân là tù nhân ăn loại gạo xay xát quá kỹ. Ông dùng loại gạo đó nuôi dưỡng đàn gà của trại giam và lần đầu tiên gây được bệnh beri beri thực nghiệm. Sau đó, ông quyết định cho cả tù nhân lẫn đàn gà dùng chế độ ăn gạo chứa nhiều cám thì thấy hết hẳn các dấu hiệu bệnh.

Năm 1906, nhà hóa sinh học người Anh Gowland Hopkins đã tiến hành những thử nghiệm các chế độ ăn khác nhau trên súc vật. Sau 6 năm nghiên cứu, ông kết luận: Nhiều thể bệnh (như scorbut, beri beri...) xuất hiện do chế độ ăn thiếu hụt một chất rất cần thiết cho sự phát triển cơ thể sinh vật (dù nhu cầu về chúng rất nhỏ) Năm 1911, sau khi gây bệnh beri beri thực nghiệm ở chim câu, Funk đã dùng 20 mg chất phân lập từ bột cám và điều trị khỏi bệnh này, từ đấy mở đường cho việc tìm hiểu đầy đủ về vitamin B.

Năm 1929, giải Nobel Y học được trao tặng cho hai nhà khoa học Eijkman và Hopkins để ghi nhận công lao phát hiện vai trò của vitamin B.

Như vậy, từ giữa thế kỷ 16, con người đã bắt đầu ghi chép để nhận biết về sự hiện diện của những chất (không phải thực phẩm) cần thiết cho sự phát triển của cơ thể. Đã hơn 4 thế kỷ trôi qua và ngành khoa học nghiên cứu các chất cần thiết này đã được hình thành với tên gọi “vitamin học” (vitaminology). Ngành này đã xác định được khoảng 20 loại vitamin cùng với cấu trúc và vai trò của chúng.

bạn bè chính là phần còn thiếu của bản thân mình

Offline bigbabol_8115

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 277
Hồi âm: Những phát minh hóa học
« Trả lời #9 vào lúc: Tháng Chín 13, 2006, 07:15:44 PM »
hiện nay người ta đã biết đc 13 loại vitamin: A, B, B1, B2, C, D, E, K,.... :D
còn tên quốc tế của chúng à...páyto... ;D
bạn bè chính là phần còn thiếu của bản thân mình

Offline duongluus

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 672
  • HAPPY NEW YEAR
    • http://duongluus.googlepages.com
Hồi âm: Những phát minh hóa học
« Trả lời #10 vào lúc: Tháng Mười 03, 2006, 02:48:17 PM »
Còn có B6, B12, B3 .......... nữa!
« Sửa lần cuối: Tháng Mười 03, 2006, 02:50:44 PM gửi bởi duong luu »
_**>
TÔI ĐÃ THẤT BẠI.
TÔI BIẾT NÓ CÓ CẢM GIÁC NHƯ THẾ NÀO.
VÀ TÔI LUÔN LẤY NÓ LÀM NỀN TẢNG CHO THÀNH CÔNG MAI SAU!
<**_

Offline duongluus

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 672
  • HAPPY NEW YEAR
    • http://duongluus.googlepages.com
Hồi âm: Những phát minh hóa học
« Trả lời #11 vào lúc: Tháng Mười 03, 2006, 02:57:25 PM »
Coi chừng ngộ độc do thừa vitamin
14:51' 12/08/2006 (GMT+7) 


Vitamin là những chất dinh dưỡng cần thiết cần được cung cấp hàng ngày để cơ thể phát triển và hoạt động bình thường. Tuy lượng cung cấp nhỏ, thậm chí rất nhỏ nhưng số vitamin cần thiết có đến 13, gồm 4 vitamin tan trong dầu là A, D, E, K và 9 vitamin tan trong nước như vitamin C, các vitamin nhóm B (B1, B2, B5, B6, PP…).

 
Dùng nhiều vitamin có thể gây ngộ độc.
Do cơ thể không tự tổng hợp được vitamin (ngoại trừ phơi nắng thích hợp, ta có thể biến tiền vitamin D ở da thành vitamin D) nên phải ăn uống đầy đủ và cân bằng dưỡng chất để được cung cấp đủ vitamin. Nếu được cung cấp qua thức ăn, thức uống, ta không sợ thừa vitamin.

Nhưng nếu dùng thuốc bổ sung vì trường hợp bổ sung quá nhiều vitamin, đặc biệt bổ sung quá liều khuyến cáo hàng ngày (như vitamin C hàng ngày chỉ cần bổ sung 60mg) cho người không thiếu vitamin, có thể gây tình trạng thừa vitamin nhiều khi gây nguy hiểm không kém tình trạng thiếu vitamin. Sau đây là một số bệnh lý có thể gọi là ngộ độc, do thừa vitamin.

Thừa vitamin A: Do vitamin A tan trong dầu dễ tích lũy lại trong cơ quan có mỡ (như gan) đưa đến quá liều gây ngộ độc. Ở trẻ em, thừa vitamin A gây tăng áp lực nội sọ, gây lồi thóp ở trẻ sơ sinh, gây viêm teo dây thần kinh thị giác. Đối với phụ nữ có thể gây quái thai, đặc biệt dùng quá liều trong 3 tháng đầu thai kỳ.

Thừa vitamin D: Ở trẻ em gây chán ăn, mệt mỏi, nôn ói, xương hóa sụn sớm. Người lớn dùng quá liều lâu ngày cũng bị chán ăn, nôn ói, tiêu chảy. Phụ nữ có thai dùng quá thừa vitamin D sẽ bị vôi hóa nhau thai. Nói chung theo một số nhà khoa học, thừa vitamin không còn tạo xương mà là tiêu xương (do tăng canxi máu).

Thừa vitamin K: Thường gặp khi tiêm vitamin K kéo dài có thể gây tán huyết, vàng da.

Thừa vitamin E: Quá thừa đưa đến rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, rối loạn thị giác.

Thừa vitamin B6: Có thể dẫn đến viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ, giảm tiết prolactin.

Thừa vitamin B12: Thường do tiêm liều cao gây hoạt hóa hệ đông máu có thể là tăng sự đông máu tắc mạch.

Thừa vitamin C: Do không có hiện tượng tích lũy gây thừa vitamin C trong cơ thể, nhưng nếu dùng liều cao dài ngày (quá 1g/ngày) sẽ bị viêm loét dạ dày, tiêu chảy, sỏi thận (sỏi oxalat). Nếu dùng đường tiêm liều cao có thể gây tán huyết, làm giảm thời gian đông máu.

Riêng đối với người cao tuổi, các cơ quan thải trừ thuốc hoạt động kém, dễ đưa đến tích lũy thuốc trong cơ thể, đặc biệt đưa đến thừa vitamin.

Cách bổ sung vitamin tốt nhất là qua thức ăn, thức uống. Nếu sợ thiếu vitamin và cả chất khoáng, có thể dùng thuốc bổ sung nhưng nên dùng đúng liều. Cần lưu ý thận trọng với dạng thuốc sủi bọt bổ sung vitamin. Do dạng thuốc sủi bọt luôn chứa tá dược rã sinh khí là Natri bicarbonat và Natri carbonat (khi hòa vào nước sẽ phản ứng với acid citric cũng là tá dược phóng thích khí CO2 gây sủi bọt).

Vì vậy, trong thuốc sủi bọt luôn chứa natri (mỗi viên thuốc sủi bọt có chứa từ 274 đến 460mg natri), có thể gây tăng huyết áp đối với người bị sẵn bệnh lý này và đang kiêng muối. Người cao tuổi đang điều trị bệnh tăng huyết áp tuyệt đối không dùng thuốc bổ sung vitamin dạng sủi bọt.




Trên đây là một số thông tin về vitamin. Hẳn là nó chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của một số cậu. Nhưng chừng nữa có tìm được thi đưa lên đấy tiếp!
 
_**>
TÔI ĐÃ THẤT BẠI.
TÔI BIẾT NÓ CÓ CẢM GIÁC NHƯ THẾ NÀO.
VÀ TÔI LUÔN LẤY NÓ LÀM NỀN TẢNG CHO THÀNH CÔNG MAI SAU!
<**_

Offline duongluus

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 672
  • HAPPY NEW YEAR
    • http://duongluus.googlepages.com
Hồi âm: Những phát minh hóa học
« Trả lời #12 vào lúc: Tháng Mười 03, 2006, 03:00:30 PM »
Số vitamin mà mình có thể biết, Có thể chưa đủ: A, B1, B2, B5, B3, B6, B12, E, K, PP, C, D, B
         
_**>
TÔI ĐÃ THẤT BẠI.
TÔI BIẾT NÓ CÓ CẢM GIÁC NHƯ THẾ NÀO.
VÀ TÔI LUÔN LẤY NÓ LÀM NỀN TẢNG CHO THÀNH CÔNG MAI SAU!
<**_

Offline duongluus

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 672
  • HAPPY NEW YEAR
    • http://duongluus.googlepages.com
Hồi âm: Những phát minh hóa học
« Trả lời #13 vào lúc: Tháng Mười 04, 2006, 02:58:45 PM »
Xem cái này đi. Sơ đồ cấu tạo của vitamin!
Trước tiên là vitamin B12

_**>
TÔI ĐÃ THẤT BẠI.
TÔI BIẾT NÓ CÓ CẢM GIÁC NHƯ THẾ NÀO.
VÀ TÔI LUÔN LẤY NÓ LÀM NỀN TẢNG CHO THÀNH CÔNG MAI SAU!
<**_

Offline duongluus

  • Gold Member H2VN
  • ***
  • Bài viết: 672
  • HAPPY NEW YEAR
    • http://duongluus.googlepages.com
Hồi âm: Những phát minh hóa học
« Trả lời #14 vào lúc: Tháng Mười 04, 2006, 03:02:43 PM »
Còn đây là vitamin D

_**>
TÔI ĐÃ THẤT BẠI.
TÔI BIẾT NÓ CÓ CẢM GIÁC NHƯ THẾ NÀO.
VÀ TÔI LUÔN LẤY NÓ LÀM NỀN TẢNG CHO THÀNH CÔNG MAI SAU!
<**_

 

Nhà Đất Vnthuoc đi phượt